Tăng tỉ lệ nội địa hóa nhằm nâng cao sức cạnh tranh của ngành công nghiệp ô tô ở việt nam - Pdf 13

Đề án kinh tế và quản lí công nghiệp
Lời mở đầu
Qúa trình toàn cầu hóa đã trở thành một xu thế tất yếu, nó tạo ra những thời
cơ, thuận lợi, thách thức cũng nh khó khăn đối với mỗi quốc gia. để đảm bảo duy trì
thúc đẩy sự tăng trởng ổn định và bền vững, tránh nguy cơ tụt hậu và thua thiệt
trong quá trình hội nhập thì một trong những yếu tố quan trọng là mỗi quốc gia đều
phải chú trọng nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế.
Những năm đầu của thế kỷ 21 là những năm có tính chất quyết định đối với
Việt Nam khi chúng ta chập chững bớc vào sân chơi chung AFTA. Việc thực hiện
lộ trình cắt giảm thuế CEPT / AFTA đang là vấn đề thách thức cho nhiều ngành
công nghiệp trong đó có ngành công nghiệp ô tô, Không thể phủ nhận ngành công
nghiệp ô tô Việt Nam còn rất non trẻ song trong công cuộc thực hiện công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nớc , chúng ta nhất thiết phải đẩy cao khả năng cạnh tranh của
ngành này. Hiện nay ngành công nghiệp ô tô Việt Nam rất kém cạnh tranh trên thị
trờng do tỷ lệ nội địa hóa thấp, giá bán cao, Chính vì vậy mà em mạnh dạn chọn
đề tài:
...Tăng tỉ lệ nội địa hóa nhằm nâng cao sức cạnh tranh của ngành công nghiệp
ô tô ở Việt nam...
Ngoài phần mở đầu và kết luận bài đề án này gồm ba phần
Phần 1: Nội địa hoá và ảnh hởng tới sức cạnh trạnh của ngành công nghiệp
Phần 2: Thực trạng Nội địa hoá trong ngành công nghiệp ô tô ở Việt Nam
Phần 3: Một số giải pháp tăng tỷ lệ nội địa hóa nhằm nâng cao sức cạnh tranh
của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam
Tuy đây là lần đàu tiên tiếp cận với cách viết đề án môn chuyên ngành, song
đợc sự chỉ bảo tận tình của cô giáo Ngô Thị Hoài Lam đã giúp em hoàn thành đề
tài. Em xin chân thầnh cảm ơn cô và bộ môn
Hà Nội, tháng 4 năm 2004
Sinh viên : Vũ Thị Minh Phợng
Vũ Minh Phợng- Công nghiệp 43B
1
Đề án kinh tế và quản lí công nghiệp

1.2 Các phơng pháp đo lờng tỷ lệ nội địa hóa
Đối với các nớc có nền công nghiệp phát triển thì việc đa ra các tiêu chuẩn về
tỷ lệ nội địa hóa đã đợc thực hiên từ rất lâu, song ở Việt Nam hiện nay mới chỉ bớc
đầu thực hiện công việc này. Nguyên nhân của tình trạng này là do chúng ta công
nghiệp hóa chậm hơn các nớc khác đến một hoặc vài thập kỷ. Nhng cũng không thể
ỷ lại điểm xuất phát đó để bỏ qua việc định hình các tiêu chuẩn vể tỷ lệ nội địa hóa.
Đầu năm 2004 vừa qua , Chính phủ đã chính thức đa ra cách tính tỷ lệ nội địa hóa
và tiêu chuẩn vể tỷ lệ này đối với từng ngành cụ thể.
Tỷ lệ nội địa hóa là số phần trăm các phụ tùng linh kiện sản xuất nội địa
trong tổng số phụ tùng, linh kiện của một sản phẩm.
Tùy theo từng loại sản phẩm công nghiệp mà có quy định riêng về tỷ lệ này,
tỷ lệ này càng cao phản ánh năng lực sản xuất của quốc gia đó càng lớn.
Theo cách tính này ta có các dạng thức lắp ráp trong ngành công nghiệp.
Công nghệ lắp ráp dạng CKD1, 2( Complete knock down) là lắp ráp bằng các linh
kiện nhập khẩu đồng bộ từ nớc ngoài thành ô tô hoàn chỉnh; Công nghệ lắp ráp
dạng IKD ( Incomplete knock down), SKD ( Semi knock down) là lắp ráp 1 phần
linh kiện nhập khẩu từ nớc ngoài và một phần nội địa hóa.
Hiện nay trong các ngành công nghiệp ngời ta chủ yếu tiền hành công nghệ
lắp ráp dạng IKD và luôn nỗ lực để tăng phần nội địa hóa lên
1.3 Các yếu tố ảnh hởng tới tỷ lệ nội địa hóa
Tỷ lệ nội địa hóa càng cao thì khả năng cạnh tranh của ngành, của sản phẩm
càng tăng, song không phải lúc nào cũng thực hiện dễ dàng quá trình này. Có rất
nhiều yếu tố khách quan cũng nh chủ quan tác động tới nó.
Yừu tố đầu tiên ảnh hởng đến tỷ lệ nội địa hoá là vốn đầu t, bản thân các
doanh nghiệp dù là nhà nớc hay t nhân cũng khó có thể đủ vốn để thực hiện nội địa
hóa. Bởi nội địa hóa không đơn giản là vấn đề trong nội bộ doanh nghiệp, trong
ngành mà công nghệ sản xuất tích hợp hàng ngàn chi tiết phụ tùng đòi hỏi một
mạng lới các nhà cung cấp linh kiện, phụ tùng, vệ tinh không chỉ ở một quốc gia.
Vũ Minh Phợng- Công nghiệp 43B
3

Vũ Minh Phợng- Công nghiệp 43B
4
Đề án kinh tế và quản lí công nghiệp
nội địa hóa đó là lĩnh vực có xu hớng cạnh tranh dựa trên mức lơng thấp và các
nguồn tài nguyên thiên nhiên. Các doanh nghiệp dựa nhiều vào khách hàng và đối
tác nớc ngoài cung cấp, thiết kế linh kiện, công nghệ, phân phối và thị trờng, kết
quả là năng suất thấp. Nếu muốn chuyển sang một nền kinh tế với mức sống cao
hơn thì các chiến lợc này cần phải thay đổi. Phải chuyển từ lợi thế so sánh( bằng lao
động rẻ và các nguồn tài nguyên thiên nhiên) sang lợi thế cạnh tranh dựa trên năng
lực đổi mới của các doanh nghiệp và khả năng của chúng trong việc nâng cao các
sản phẩm và quy trình công nghệ
1.4 Tác động của nội địa hóa tới sức cạnh tranh của ngành
Tăng tỷ lệ nội địa hóa là mục tiêu hớng tới của nhiều ngành công nghiệp ở
mỗi quốc gia. Nội địa hóa tác đông rất mạnh đến sức cạnh tranh của ngành song tác
động này cũng có hai mặt của nó.
Xét về mặt tích cực thì nội địa hóa làm cho sản phẩm của ngành có chi phí
sản xuất thấp hơn dẫn tới giá bán trên thị trờng hạ hơn so với những sản phẩm cùng
loại đợc nhập khẩu. Do đó sức cạnh tranh của sản phẩm rất lớn và cơ hội để mở
rộng thị trờng nhiều. Thêm nữa để nội địa hóa đợc đòi hỏi phải có một hệ thống các
ngành công nghiệp phụ trợ cho ngành công nghiệp chính. Chú trọng tăng tỷ lệ nội
địa hóa trong ngành công nghiệp chính sẽ kéo theo các ngành công nghiệp vệ tinh
này phát triển theo, thu hút nhiều vốn đầu t hơn. Nội địa hóa còn là lời giải đáp cho
bài toán sử dụng các nguồn lực nh tài nguyên thiên nhiên hay nguồn lực con ngời.
Tài nguyên thiên nhiên chỉ là tiềm năng để phát triển nguyên liệuvà trình độ phát
triển nguyên liệu còn phụ thuộc vào trình đọ phát triển của các ngành khai thác và
chế biến tài nguyên thiên nhiên để tạo ra các sản phẩmtrung gian trong quá trình tái
sản xuất công nghiệp. Giữa nội địa hoáa và công tác khai thcs tài nguyên thiên
nhiên có mối quan hệ chặt chẽ. Nếu chiến lợc của các doanh nghiệp là phát triển tỷ
lệ nội địa hoá thì bắt buộc họ phải xem xets đến các phơng thức tận dụng tối đa
nguồn tài nguyên thiên nhiên sãen có trong nớc để đảm bảo yêu cầu phát triển công

1xe/170 ngời, đây là miền đất hứa với các nhà sản xuất xe.
Mức độ sở hữu xe của Việt Nam và một số nớc:
(theo tạp chí ô tô - xe máy Việt Nam 7/2002)
1.3 0.9 170

Mỹ Malaixia Việt Nam
Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam chính thức đợc thành lập vào năm 1995 và
sau gần 10 năm đầu t với nhiều chính sách u đãi của Chính phủ, đến nay Việt Nam
đã có trên 160 doanh nghiệp trong nớc sản xuất, lắp ráp, chế tạo phụ tùng, sửa chữa
ô tô nh Transinco( miền Bắc), Samco( miền Nam), Trờng Hải( miền Trung).. và 11
liên doanh sản xuất, lắp ráp ô tô (FDI). Trong 11 liên doanh này có sự góp mặt của
các hãng sản xuất ô tô lớn trên thế giới nh Mercedes Benz, Toyota, Ford, Suzuki,
Daewoo Cho đến tháng 8 năm 2000 các doanh nghiệp sản xuất ô tô ở n ớc ta đã
Vũ Minh Phợng- Công nghiệp 43B
7
Đề án kinh tế và quản lí công nghiệp
thành lập Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô , viết tắt là VAMA (Vietnam Automobile
Manufacturers Association) gồm 11 thành viên. Sự ra đời của Hiệp hội này đánh
dấu một bớc phát triển mới của ngành công nghiệp ô tô tại Việt Nam. Thông qua
Hiệp hội này Chính phủ và các doanh nghiệp có thể có cùng nhau đối thoại tìm ra
phơng thức để tăng khả năng nội địa hóa của ngành cũng nh mở rông thị trờng ô tô
không chỉ trong nớc mà sang các nớc lân cận
Tuy ngành công nghiệp ô tô Việt Nam còn non trẻ nhng thông qua các công
ty liên doanh, Việt Nam đã thu hút đợc các nguồn vốn đầu t khá lớn từ các đối tác
nớc ngoài. Tổng số vốn đầu t của các liên doanh này theo giấy phép là 574,7 triệu
USD, vốn thực hiện là 419,85 triệu USD đạt 74%. Ví dụ nh Ford Việt Nam là công
ty liên doanh giữa công ty Ford mô tô (75%) và công ty Diezen Sông Công(25%)
với tổnh vốn đầu t là 102 triệu USD. Bên cạnh khối liên doanh, các doanh nghiệp
trong nớc cũng thu hút đợc vốn đầu t từ Nhà nớc, t nhân song không đáng kể vì ở
các doanh nghiệp này phần lớn trang thiết bị, công nghệ, nhà xởng rất lạc hậu, chủ

tô đa dạng nhng giá thành lại rất cao so với sức mua của ngời đang trong nớc và với
các sản phẩm cùng loại của Trung Quốc, Hàn Quốc nhập khẩu nguyên chiếc vào
Việt Nam.
Tính đến hết năm 2003 tổng số xe lắp ráp của các doanh nghiệp FDI đợc
117,137 xe, tổng doanh thu gần 3 tỷ USD. Công suất khai thác của các liên doanh
năm 2003, năm cao nhất mới đạt 42,557 xe( khoảng 30% công suất thiết kế).
Toyota là công ty có thị phần lớn nhất nhng cũng chỉ bán đợc 12000 xe các loại.
( Theo tạp chí công nghiệp số 15/2003)
Hiện nay tổng công suất của cả ngành công nghiệp ô tô đạt khoảng 165000
xe/ năm. Nh vậy năng lực lắp ráp hiện thời gấp 5 lần so với khả năng tiêu thụ trong
nớc. Với năng lực sản xuất nh vậy thì lợng sản xuất trong nớc sẽ thừa sức đáp ứng
nhu cầu của ngời dân. Tuy thế giá bán của xe ô tô trong nớc khá cao nên khó tạo sự
thu hút cho sức mua trong nớc. Các doanh nghiệp sẽ phải tìm giải pháp hữu hiệu để
mở rộng sản xuất và nâng hiệu quả kinh doanh. Điều nay chắc chắn tạo ra một sân
chơi cạnh tranh quyết liệt tại thị trờng trong nớc.
Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đang khó khăn bởi mức thu nhập của ngời
dân cha cao, hạ tầng cơ sở cha phát triển đồng bộ, đờng nhỏ hẹp, ít đờng cao tốc.
Vũ Minh Phợng- Công nghiệp 43B
9
Đề án kinh tế và quản lí công nghiệp
Lợi thế duy nhất của Việt Nam là nhân công rẻ nhng đã bị mất ý nghĩa bởi hầu hết
các dây chuyền sản xuất ô tô đều đã đợc tự động hóa. Trong bối cảnh đấy, hớng đi
của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam là tìm đến các loại xe phổ thông, giá hạ, phù
hợp với thu nhập của ngời dân.
Theo Bộ công nghiệp, ngành công nghiệp ô tô thừa công suất nh vậy nhng
hiện đang có 45 dự án đang xin đầu t vào lĩnh vực lắp ráp và sản xuất ô tô. Điều này
cho thấy thị trờng ô tô Việt Nam hiện nay tuy nhỏ nhng vẫn còn tiềm năng lớn, với
số dân 80 triệu, thu nhập liên tục đợc cải thiện và tốc độ đô thị hoá diễn ra khá
nhanh tại nhiều địa phơng, điều này tạo ra một môi trờng tơng đối thuận lợi cho các
nhà đầu t nớc ngoài và trong nớc, nhờ đó ngành công nghiệp ô tô có cơ hội mở

đáp ứng phần lớn nhu cầu phụ tùng ô tô hớng tới xuất khẩu,. Theo đó các loại xe
phổ thông nh xe tải nhỏ nông thôn, xe khách phổ thông, xe taxi sẽ đáp ứng trong n-
ớc 40 50% số lợng và đạt tỷ lệ nội địa hoá đến 40% vào năm 2005 và tỷ lệ nội
địa hoá là 60% vào năm 2010. các loại xe chuyên dụng đạt tỷ lệ nội địa hóa 40%
vào năm 2005 và 60% vào năm 2010. Xe cao cấp nh các loại xe du lịch đạt tỷ lệ nội
địa hóa 20-25% vào năm 2005 và 45% vào 2010...(Theo tạp chí ô tô và xe máy số
18/2000)
Mục tiêu là thế nhng cho đến nay những gì mà ngành công nghiệp ô tô đạt đ-
ợc cha đáp ứng nhu cầu mong đợi. Nhiều doanh nghiệp cam kết đạt tỷ lệ nội địa hóa
từ 30 40% sau 10 năm kể từ ngày cấp phép nhng cho đến nay hầu hết chỉ đạt 2
10%, lại chỉ tập trung ở các công đoạn đơn giản nh hàn lắp khung xe, tẩy rửa,
sơn, lắp ráp thiết bị kiểm tra.Theo nhận xét của Bộ công nghiệp, TMV là công ty đi
đầu trong viêc nội địa hóa sản phẩm với tỷ lệ nội địa hóa đạt 12%.
Thực tế cho thấy các liên doanh sản xuất ô tô tại Việt Nam đi vào hoạt động
đợc 10 năm nhng tỷ lệ nội địa hóa còn quá thấp, hầu hết lại chỉ thực hiên phơng
thức lăp ráp dạng CKD1 và CKD2, cao nhất là công ty Toyota Việt Nam cũng chỉ
Vũ Minh Phợng- Công nghiệp 43B
11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status