BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
CHƯƠNG TRÌNH KH&CN TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC
MÃ SỐ KX.04/06-10
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ GIAI ĐOẠN 2006 – 2010
ĐỀ TÀI
QUAN HỆ GIỮA ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ TRONG BỐI CẢNH MỚI CỦA VIỆT NAM
MÃ SỐ: KX.04.12/06-10 BÁO CÁO TỔNG HỢP
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chủ nhiệm đề tài: GS.TS. Nguyễn Xuân Thắng
Cơ quan chủ trì: Viện Kinh tế và Chính trị thế giới
Viện Khoa học xã hội Việt Nam 8082Hà Nội – 2010
DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
iv) Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu và dữ liệu sử dụng 11
v) Cấu trúc của báo cáo nghiên cứu 15
vi) Lợi ích của nghiên cứu 16
CHƯƠNG I: QUAN HỆ GIỮA ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ VÀ HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 19
I.1. Cơ sở lý luậ
n và thực tiễn về chủ quyền quốc gia, độc lập, tự chủ 19
I.2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về hội nhập kinh tế quốc tế 40
I.3. Mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế nhìn từ các
góc độ 54
I.4. Kinh nghiệm xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế
quốc tế của một số nước trên thế giới 75
CHƯƠNG II: THỰC TIỄN XỬ LÝ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỘC LẬP,
TỰ CHỦ VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM QUA
25 NĂM ĐỔI MỚI 99
II.1. Sự tiến triển trong nhận thức của Đảng ta về xử lý mối quan hệ giữa độc
lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế 99
II.2. Xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế của
Việt Nam từ góc độ kinh tế: Bài học t
ừ việc mở cửa kinh tế 119
II.3. Xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế của
Việt Nam từ góc độ chính trị và đối ngoại: Bài học từ việc bình thường hóa
và phát triển quan hệ với Mỹ 131
II.4. Xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế của
Vi
ệt Nam từ góc độ an ninh quốc-phòng, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ: Bài học
từ việc gia nhập ASEAN 141
II.5. Xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế của
Việt Nam từ góc độ văn hóa-xã hội: Bài học từ việc giữ gìn và phát huy bản
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ACFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc
ADB Ngân hàng phát triên châu Á
AFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương
AEC Cộng đồng kinh tế ASEAN
APSC Cộng đồng an ninh-chính trị ASEAN
ACSC Cộng đồng văn hóa-xã hội ASEAN
ARF Diễn đàn khu vực ASEAN
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Dông Nam Á
ASEM Diễn đàn Á-Âu
BIS Ngân hàng thanh toán quốc tế
BRIC Nhóm các nước gồm Braxin, Nga, Ấn Độ và Trung
Quố
c
BTA Hiệp định thương mại tự do song phương
COC Quy tắc ứng xử (ở Biển Đông)
CNXH Chủ nghĩa xã hội
DOC Tuyên bố về quy tắc ứng xử (ở Biển Đông)
CPI Chỉ số giá tiêu dùng
ĐPT Đang phát triển
ECB Ngân hàng trung ương châu Âu
ESCAP Ủy ban kinh tế xã hội châu Á-Thái Bình Dương
EU Liên minh châu Âu
EURO Đồng tiền chung châu Âu
FAO Tổ chức nông lương của Liên hợp quốc
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
WEF Diễn đàn kinh tế thế giới
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
XHCN Xã hội chủ nghĩa 1
LỜI MỞ ĐẦU
i) Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) là xu thế tất yếu trong sự phát
triển của tất cả các nền kinh tế và các quốc gia trong thế giới ngày nay. Tất
cả các nước trên thế giới, dù lớn hay nhỏ, mạnh hay yếu, phát triển hay đang
phát triển đều đang tham gia vào quá trình này. Có nước chủ động và tích
cực tham gia vì không muốn tự loại mình khỏ
i trào lưu phát triển của thế
giới và muốn tranh thủ tốt nhất những cơ hội phát triển do HNKTQT đem
lại, nhưng cũng có nước bị cuốn hút một cách thụ động vào quá trình này
nên thiếu sự chuẩn bị sẵn sàng. Cơ hội và thách thức do HNKTQT đem lại
đối với các nước vì thế cũng khác nhau. Thông thường, cơ hội sẽ nhiều hơn
đối với những nước phát triể
n và chủ động chuẩn bị hội nhập, còn thách thức
sẽ nhiều hơn đối với những nước chậm phát triển và thiếu chủ động chuẩn
tham gia vào quá trình này.
Cùng đem lại những cơ hội và thách thức, HNKTQT có thể làm giảm
hoặc cũng có thể tăng cường độc lập, tự chủ của các quốc gia tham gia vào
quá trình này. Nói một cách khác, HNKTQT có thể giúp một nước tăng
cường sức mạnh, nâng cao vai trò và phát huy
ảnh hưởng của mình trên
trường quốc tế, hoặc cũng có thể khiến cho nước đó bị lệ thuộc và chịu tác
nhanh chóng vì toàn cầu hóa sẽ không chỉ tác động sâu sắc hơn đến nền kinh
tế mà cả những lĩnh vực nhạy cảm hơn đối với chủ quyền quốc gia như
chính trị, văn hoá, xã hội và an ninh-quốc phòng.
Do đó, việc giải quyết mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT
không thể giới hạn trong lĩnh vực kinh tế, mà phải được đặt trong khuôn khổ
rộng lớn, mang tính hệ thống, bao trùm các lĩnh vực kinh tế, chính trị, đối
ngoại, văn hoá- xã hội, an ninh-quốc phòng và thể chế. Tính chất đa chiều
3
phức tạp này đặt ra yêu cầu phải khắc phục bằng được những khoảng trống
hiện tại trong cơ sở lý luận về vấn đề độc lập, tự chủ. Khái niệm về độc lập,
tự chủ truyền thống cần được điều chỉnh dựa trên nhận thức khoa học vững
chắc, cho phép thu nhận những nội dung mới, phù hợp vớ
i bối cảnh quốc tế,
thế và lực mới của đất nước cũng như yêu cầu và nhiệm vụ phát triển của
Việt Nam. Những nhận thức mới, một mặt, cần tiếp tục khẳng định những
phương diện có tính nguyên tắc, bất di, bất dịch của độc lập, tự chủ; mặt
khác, cần làm rõ mối tương quan giữa
độc lập, tự chủ và tiến trình HNKTQT
của đất nước, cũng như giữa độc lập và tự chủ trong tiến trình này. Tư duy
mới về quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT trên cơ sở cách tiếp cận hệ
thống, liên ngành, và việc giải quyết tốt mối quan hệ này có ý nghĩa thực
tiễn quan trọng trong việc hoạch định chủ trương, đường lối, chiế
n lược và
sách lược của Đảng và Nhà nước nhằm giữ vững ổn định chính trị-xã hội, xử
lý linh hoạt các thách thức, tận dụng mọi thời cơ, phát huy mọi tiềm năng,
khai thác hiệu quả các lợi thế mở ra từ quá trình HNKTQT, đảm bảo thực
hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa (XHCN).
đoạn 2011-2020 và bối cảnh trong nước đến mối quan hệ giữa độc
lập, tự chủ và HNKTQT của Việt Nam;
• Xây dựng cơ s
ở cho việc hoạch định đường lối, chính sách phát triển
kinh tế trong điều kiện hội nhập ngày càng sâu, rộng của Việt Nam
vào nền kinh tế thế giới. Đặc biệt, cung cấp những luận cứ khoa học
mới dưới góc độ lý luận chính trị về mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ
và HNKTQT nhằm phục vụ trực tiếp việc bổ sung, phát triển Cươ
ng
lĩnh năm 1991 và soạn thảo các văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng.
• Làm tài liệu cho việc nghiên cứu, giảng dạy về lý thuyết và thực tiễn
của vấn đề độc lập, tự chủ và HNKTQT trên thế giới cũng như lý
5
thuyết và thực tiễn xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và
HNKTQT ở Việt Nam.
iii) Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài
Tình hình nghiên cứu ngoài nước:
Độc lập, tự chủ là những phạm trù đóng vai trò then chốt trong lĩnh
vực chính trị và quan hệ quốc tế. Độc lập, tự chủ thể hiện một cách khái quát
lợi ích quốc gia, đồng thời phản ánh thế và lực của quốc gia đó. Do vị thế
quốc tế, sức mạnh tổng hợp, mức độ hội nhập và các chiến lược phát triển
của các quốc gia không gi
ống nhau nên quan điểm, đường lối, mức độ, lĩnh
vực ưu tiên về độc lập, tự chủ rất khác nhau. Tính đa chiều của bản thân khái
niệm, cộng với sự đa dạng về cấu hình độc lập, tự chủ của các quốc gia khác
nhau trong các thời điểm khác nhau là nguyên nhân khiến cho việc phân tích
và tổng hợp các tài liệu nước ngoài gặp nhiều khó khăn.
Đối với các tác giả
H. Kissinger, Z. Brzezinski, K. Waltz,…đưa đến nhiều nhận định không đầy
đủ, thậm chí méo mó, sai lệch so với hiện thực. Kiểu tư duy này đang vấp
phải thách thức lớn khi phải đối mặt với các nguy cơ, đe doạ phi truyền
thống, như chủ nghĩa khủng bố
, tôn giáo, cực đoan, vấn đề môi trường, dịch
bệnh, biến đổi khí hậu toàn cầu, khủng hoảng tài chính quốc tế,…
Cách tiếp cận hệ thống cũng là điểm mạnh trong các công trình của
các học giả Nga. Do mối đe doạ chính đối với độc lập, tự chủ của Nga là sự
bá quyền của Mỹ, nên các nghiên cứu của người Nga tập trung chủ yếu vào
so sánh lực lượ
ng Nga-Mỹ, phân tích các khả năng, kịch bản, biện pháp hình
thành trật tự thế giới đa cực. Phần lớn các nhà nghiên cứu đều nhất trí trong
việc xem năng lượng, tổ hợp quân sự-công nghiệp, vũ trụ,…như các công cụ
chính đảm bảo cho địa vị độc lập, tự chủ của Nga với tư cách là một cường
quốc thế giới, đồng thời thường bị chia r
ẽ trong đánh giá tình hình chính trị-
xã hội trong nước, ở mức độ đồng thuận của người dân, cũng như trong
đường lối đối nội của ban lãnh đạo nước này.
7
Các học giả Trung Quốc tiếp cận vấn đề độc lập, tự chủ chủ yếu từ
quan điểm sự nổi lên của Trung Quốc và xử lý quan hệ Trung - Mỹ nhằm
kiến tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho sự trỗi dậy được quảng bá là hoà
bình của họ. Tính hệ thống là điểm yếu của đa số các công trình này, tính
giáo điều, r
ập khuôn điển hình cho giai đoạn trước cải cách mở cửa ít nhiều
còn rơi rớt lại, đặc biệt trong việc xem xét vấn đề tranh chấp lãnh thổ, biển
đảo với các nước láng giềng. Mặt mạnh của người Trung Quốc là cách tiếp
cận lịch sử và các phân tích tình huống theo kiểu “Binh pháp Tôn Tử”
truyền thống khá sắc bén, mà hiện nay được gọi là lý thuyết trò chơi chiến
các cấp bộ đảng ngày 21/12/1941 đã lưu ý “ta có mạnh thì họ mới chịu đếm
xỉa đến. Ta yế
u thì ta chỉ là khí cụ trong tay của kẻ khác, dầu kẻ ấy có thể là
bạn đồng minh của ta vậy.” Mối quan hệ giữa độc lập và tự chủ về kinh tế
đã được đề cập trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ III năm 1960 nhấn
mạnh rằng “xây dựng nền kinh tế của ta thành một nền kinh tế tự chủ, tương
đối hoàn chỉnh, làm c
ơ sở cho độc lập của nước nhà.”
1
Cụm từ “độc lập tự
chủ” lần đầu tiên xuất hiện trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IV năm
1976 khi nhấn mạnh đến vai trò then chốt của “đường lối chính trị, đường
lối quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn và sáng tạo của Đảng ta” trong kháng
chiến chống Mỹ thắng lợi và yêu cầu “giữ vững độc l
ập tự chủ” trong giai
đoạn mới.
2
Đại hội Đảng lần thứ IX đã xác định nội hàm mới của độc lập tự
chủ, lần đầu tiên chủ trương “gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự
chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Độc lập tự chủ về kinh tế tạo cơ
sở cho hội nhập kinh tế qu
ốc tế có hiệu quả. Hội nhập kinh tế quốc tế có
hiệu quả tạo điều kiện cần thiết để xây dựng kinh tế độc lập tự chủ.” Văn
kiện Đại hội Đảng lần thứ X tiếp tục khẳng định “thực hiện nhất quán đường
lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sách đố
i
ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế. Chủ động
và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên
1
và nhiệm vụ mới, đặc biệt nhận thức vấn đề chủ quyền quốc gia, chủ quyền
nhà n
ước trong HNKTQT còn có những điểm chưa thống nhất. Một mặt,
phát triển và hội nhập-phát triển là những chủ đề chính trong rất nhiều
nghiên cứu về kinh tế, trong khi đó, vấn đề độc lập, tự chủ trong kinh tế lại
10
được đề cập ở một số khía cạnh riêng lẻ như an ninh lương thực, an ninh
năng lượng, an ninh tài chính,…nên thiếu tính toàn cục, hệ thống. Mối quan
hệ giữa an ninh kinh tế và an ninh chính trị ít được đề cập. Mặt khác, cho
đến nay, các nghiên cứu về toàn cầu hoá và HNKTQT chủ yếu tập trung vào
việc phân tích cơ hội, thách thức và đánh giá tác động, ít đi sâu làm rõ các
quy luật vận động, vì vậy các giải pháp đề xuất chưa đả
m bảo tính hệ thống,
thiếu tính toán, cân nhắc về huy động, phân bổ nguồn lực nên mức độ khả
thi chưa cao. Chính thực tế chia tách và mất cân đối này đã tạo ra những
khoảng trống trong lý luận về độc lập, tự chủ, cản trở giải quyết một cách
toàn diện nhiều vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn hội nhập kinh tế quốc tế
ngày càng sâu rộ
ng của Việt Nam, đặc biệt là tại giao diện giữa các lĩnh vực
khác nhau như chính trị và kinh tế, an ninh và xã hội, đối nội và đối ngoại.
Thứ hai là mặc dù đã hình thành sự thống nhất về mục tiêu, phương
châm chỉ đạo đẩy mạnh HNKTQT đồng thời không ngừng củng cố độc lập,
tự chủ, nhưng chưa có sự thống nhất về quan điểm giả
i pháp: các kiến nghị
đưa ra ít nhiều thiếu tính hệ thống, đồng bộ, không phản ánh đúng sự đan
xen phức tạp giữa cơ hội và thách thức trong hội nhập. Các giải pháp được
đề xuất để đối phó với các nguy cơ lớn như tụt hậu phát triển, tham nhũng,
chệch hướng XHCN, diễn biến hoà bình thường rơi vào hai thái cực: hoặc
chung chung về nguyên tắc, thiếu tính cụ thể, hoặ
nhau, gồm: khía cạnh kinh tế, chính trị, đối ngoại, văn hóa-xã h
ội, an ninh-
quốc phòng và thể chế.
Cách tiếp cận biện chứng:
Nghiên cứu này cho rằng có mối quan hệ
biện chứng giữa độc lập và tự chủ, sự phụ thuộc của độc lập, tự chủ vào bối
cảnh quốc tế, cũng như vào thế và lực của đất nước. Độc lập và tự chủ như
hai mặt cần và đủ của một vấn đề thống nhất - sự tồn tại và phát triển củ
a
mỗi quốc gia. Tương tự, HNKTQT vừa đem lại cơ hội song cũng đem lại
những thách thức cho quá trình phát triển của một quốc gia. Mối quan hệ
12
giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT là mối quan hệ mang tính chất vừa mâu
thuẫn, vừa thống nhất. Thí dụ, HNKTQT có thể làm giảm độc lập, tự chủ
của một quốc gia khi khiến cho quốc gia đó bị lệ thuộc nhiều hơn vào bên
ngoài. Ngược lại, HNKTQT cũng có thể làm tăng cường sức mạnh quốc gia,
từ đó tăng cường khả năng giữ vững
độc lập, tự chủ của quốc gia đó.
Cách tiếp cận lịch sử:
Nghiên cứu kết hợp tổng kết lý luận và phân
tích thực tiễn xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT của Việt
Nam qua 25 năm Đổi mới. Đặc biệt, nghiên cứu tổng kết và đánh giá sự tiến
triển trong nhận thức của Đảng ta về mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và
HNKTQT trong tiến trình cách mạng Việt Nam, đặc biệt kể t
ừ khi đất nước
ta tiến hành Đổi mới.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính
Đồng thời, Đề tài cũng đã tổ chức và phối hợp tổ chức 03 cuộc hội thảo và
nhiều buổi tọa đàm để lấy ý kiến từ các nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực có
liên quan.
Các nguồn tư liệu, cơ sở dữ liệu và nguồn số liệu
Nghiên cứu sử dụng cả nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp. Nguồn dữ
liệu thứ cấp bao gồm các nguồn tư liệu trong nước và quốc tế, các văn kiện
của Đảng, tư liệu của các cơ quan hoạch định chính sách và quản lý, tư liệu
nghiên cứu củ
a các tổ chức nghiên cứu và các cá nhân trong và ngoài nước.
Nguồn dữ liệu sơ cấp là dữ liệu thu thập được từ phỏng vấn sâu, hội thảo,
tọa đàm và trao đổi ý kiến với các chuyên gia.
Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu này tập trung vào khía cạnh lý luận của mối quan hệ giữa
độc lập, tự chủ và HNKTQT, đồng thời có phân tích và đánh giá thực tiễn
xử lý mối quan hệ này của Việt Nam qua 25 nă
m Đổi mới.
14
Thời gian nghiên cứu chủ yếu kể từ khi nước ta tiến hành Đổi mới
(năm 1986) đến nay song có tham chiếu đến khoảng thời gian trước đó để
làm bối cảnh lịch sử cho vấn đề cần nghiên cứu. Thời gian dự báo của
nghiên cứu khi phân tích bối cảnh quốc tế và khu vực và tác động đến mối
quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT của Việt Nam là đến n
ăm 2020
với tầm nhìn đến năm 2030.
Mặc dù mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT có thể xem xét
từ nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau, nghiên cứu này chỉ tập trung vào
năm góc độ chủ yếu là: kinh tế, chính trị-đối ngoại, an ninh-quốc phòng,
văn hóa-xã hội, và thể chế kinh tế.
Thực tiễn xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT của
chế kinh tế trong
tiến trình HNKTQT của Việt Nam.
Những nghiên cứu trường hợp kể trên không tập trung phân tích diễn
biến của các quá trình, mà chú trọng phân tích ý nghĩa của các sự kiện, đánh
giá các tác động tích cực và tiêu cực của các quá trình, đồng thời rút ra các
bài học từ thực tiễn xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT của
Việt Nam từ các góc độ khác nhau.
v) Cấu trúc c
ủa báo cáo nghiên cứu
Ngoài các phần Lời nói đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Báo cáo
tổng hợp của nghiên cứu (báo cáo này) được chia làm ba chương:
Chương 1:
Quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc
tế: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương này sẽ trình bày các vấn đề lý luận về độc lập, tự chủ, và
HNKTQT; bản chất mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT nhìn từ
các góc độ kinh tế, chính trị-đối ngoại, an ninh-quốc phòng, văn hóa-xã hội
và thể chế (kinh tế
); kinh nghiệm xử lý mối quan hệ này của Trung Quốc,
16
Malaixia, Mêhicô và Ucraina.
Chương 2:
Thực tiễn xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội
nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam qua 25 năm Đổi mới (1986-2010)
Chương này sẽ trình bày sự tiến triển trong nhận thức của Đảng ta về
mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và HNKTQT của Việt Nam, đặc biệt kể từ
năm 1986 đến nay, và thực tiễn xử
lý mối quan hệ này từ các góc độ khác
nhau và rút ra các bài học qua các trường hợp nghiên cứu là: 1) bài học từ
ần tham gia xây dựng chủ thuyết
phát triển của Việt Nam trong giai đoạn mới.
Kết quả của nghiên cứu này là nguồn tư liệu hữu ích cho các tổ chức,
cơ quan và các cá nhân trong công tác nghiên cứu, giảng dạy.
Đề tài KX.04.12/06-10 do GS. TS. Nguyễn Xuân Thắng làm Chủ
nhiệm và được thực hiện cùng với sự đóng góp của nhiều nhà nghiên cứu và
chuyên gia trong các lĩnh vực liên quan như quan hệ quốc tế, kinh tế quốc tế,
vă
n hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, triết học, lịch sử…
Xin trân trọng cảm ơn ý kiến, các bài viết và nguồn tư liệu quý báu mà các
nhà khoa học đồng nghiệp, các nhà quản lý và các chuyên gia đã đóng góp và
chia sẻ với Đề tài mà trong phạm vi bản báo cáo này khó có thể nêu được hết tên.
Xin trân trọng cảm ơn Viện Kinh tế và Chính trị thế giới thuộc Viện
Khoa học xã hội Việt Nam, Văn phòng các Chương trình Khoa học và Công
nghệ trọng đi
ểm cấp Nhà nước và Vụ Khoa học Tự nhiên và Xã hội thuộc
Bộ Khoa học và Công nghệ, Ban chủ nhiệm Chương trình KX.04/06-10
thuộc Hội đồng lý luận Trung ương, Đại sứ quán Việt Nam tại Mêhicô, các
Ủy ban Nhân dân thành phố Hải Phòng, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cần Thơ và
Kiên Giang cùng nhiều tổ chức khác đã hết sức giúp đỡ nhóm nghiên cứu
của Đề tài trong quá trình thực hiện nghiên cứu và khảo sát thực tế.
Cuối cùng, vì
đây là kết quả của một công trình nghiên cứu tương đối