Sự phát triển của các lý thuyết tổ chức hiện đại và sự vận dụng vào công tác tổ chức xây dựng đảng hiện nay - Pdf 13



HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ-HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO
TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2011

Mã số: B11 - 18

Tên đề tài:
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC LÝ THUYẾT TỔ CHỨC
HIỆN ĐẠI VÀ SỰ VẬN DỤNG VÀO CÔNG TÁC TỔ
CHỨC XÂY DỰNG ĐẢNG HIỆN NAY MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC VÀ LÝ
THUYẾT TỔ CHỨC HIỆN ĐẠI
13
1.1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC
13
1.2.
LÝ THUYẾT TỔ CHỨC - KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM
21
Chương 2.
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ TỔNG QUAN CÁC LÝ
THUYẾT TỔ CHỨC HIỆN ĐẠI
24
2.1.
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CÁC LÝ THUYẾT TỔ
CHỨC HIỆN ĐẠI
24
2.2.
TỔNG QUAN CÁC LÝ THUYẾT TỔ CHỨC HIỆN ĐẠI
27
2.3.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHÁC ĐƯỢC CÁC LÝ THUYẾT TỔ
CHỨC HIỆN ĐẠI QUAN TÂM

4.3.
VẬN DỤNG LÝ THUYẾT TỔ CHỨC TRONG XÂY
DỰNG ĐỘI NGŨ ĐẢNG VIÊN

169

4.4.
VẬN DỤNG LÝ THUYẾT TỔ CHỨC TRONG XÂY
DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ

172
4.5.
VẬN DỤNG LÝ THUYẾT TỔ CHỨC TRONG XÂY
DỰNG PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

180
KẾT LUẬN 187
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 189 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tổ chức là hình thức liên kết cụ thể giữa con người với con người để
thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Tập
hợp người trong tổ chức không phải là một tập hợp hỗn độn mà là một tập
hợp có trật tự, theo những nguyên tắ
c nhất định, có cơ cấu tổ chức, có sự bố
trí, sắp xếp, phân công, phối hợp. Chính sự phân công, phối hợp ấy tạo nên
sức mạnh đặc biệt của tổ chức, như V.I.Lê-nin đã chỉ rõ: “Tổ chức làm cho

t sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai. 1
V.I.Lê-nin, Toàn tập, t.24, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr.47
2
V.I.Lê-nin, Toàn tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1962, t.5, tr.7.
3
V.I.Lê-nin, Toàn tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1962, t.5, tr.7.
4
V.I.Lê-nin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, t45, tr.449.

2
Lý thuyết tổ chức là một hệ thống các quy tắc nghiên cứu cấu trúc và thiết kế
tổ chức. Lý thuyết tổ chức mô tả cách thức thiết kế tổ chức như thế nào và
đưa ra những phương hướng xây dựng các hệ thống quy tắc nhằm nâng cao
hiệu quả tổ chức. Đến nay, các lý thuyết tổ chức hiện đại đã phát triển qua 3
giai đoạn:
Lý thuy
ết tổ chức “cổ điển”: Thịnh hành vào khoảng những năm 10
đến 30 của thế kỷ XX. Nó chú trọng phân tích cơ cấu của tổ chức và các
nguyên tắc chung của quản lý tổ chức. Nội dung nghiên cứu chủ yếu đề cập
đến các mục tiêu, sự phân công, sự nhịp nhàng, hệ thống quyền lực, trách
nhiệm, hiệu suất tổ chức, mức độ phân cấp quản lý t
ập quyền và phân quyền
của tổ chức.
Lý thuyết tổ chức khoa học hành vi: Vào thập niên 30 của thế kỷ XX đã
ra đời luận thuyết tổ chức lấy quan hệ giữa người và người làm trọng điểm
nghiên cứu. Về sau, luận thuyết đó từng bước phát triển thành lý thuyết tổ
chức khoa học hành vi. Lý thuyết này tập trung nghiên cứu hoạt động của con

Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, công tác tổ chức xây dựng
Đảng đã có nhiều đổi mới trên các mặt công tác: xây dựng tổ chức, bộ máy
của Đảng và hệ thống chính trị; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên; xây
dựng phương thức lãnh đạo của Đảng; chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo,
sức chiến đấu của Đảng. Ðảng đã quan tâm xây dựng, kiện toàn hệ thống tổ
chức. Từng bước sắp xếp tổ chức, bộ máy, biên chế cơ quan Ðảng, Nhà nước,
Mặt trận và các đoàn thể nhân dân; điều chỉnh, bổ sung và quy định cụ thể
hợp lý hơn ch
ức năng, nhiệm vụ, phương thức hoạt động và lề lối làm việc
của mỗi tổ chức.
Nội dung, phương pháp, cách làm của công tác cán bộ có đổi mới, tiến
bộ; dân chủ, công khai trong công tác cán bộ được mở rộng. Công tác đảng
viên được quan tâm chỉ đạo và đạt được một số kết quả. Phương thức lãnh
đạo của Ðảng từng bước được đổi mới, phát huy tố
t hơn vai trò của các cơ
quan Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân, khắc phục dần khuynh
hướng Ðảng bao biện làm thay, cũng như buông lỏng, xem nhẹ vai trò lãnh
đạo của Ðảng. Việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã đạt một số kết quả nhất
định. Những tiến bộ và kết quả của công tác tổ chức xây dựng Đảng đã góp
phần quan trọng tạo nên các thành tự
u to lớn của công cuộc đổi mới hiện nay.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm nổi bật nêu trên, công tác tổ chức
xây dựng Đảng cũng còn bộc lộ không ít bất cập, yếu kém. Công tác tổ chức
trên một số mặt còn yếu; chưa thực hiện đầy đủ các nguyên tắc tổ chức, hoạt
động của Ðảng. Chậm xây dựng, hoàn thiện tổ chức và cơ chế giám sát trong
Ð
ảng và trong hệ thống chính trị, giám sát của nhân dân đối với hoạt động của
Ðảng, Nhà nước và cán bộ, đảng viên. Còn thiếu những quy chế cụ thể bảo
đảm phát huy dân chủ, thực hiện đúng đắn nguyên tắc tập trung dân chủ.


n nói đi đôi với làm; tình trạng nói nhiều làm ít, né tránh,
đùn đẩy trách nhiệm còn diễn ra ở nhiều nơi.
Những yếu kém, bất cập trong công tác tổ chức xây dựng Đảng đã làm
hạn chế những thành tựu đổi mới. Những yếu kém, bất cập đó có nhiều
nguyên nhân, trong đó có phần do công tác tổ chức nói chung, công tác tổ
chức xây dựng Đảng ở nước ta nói riêng là còn theo nếp cũ, thiếu những
nghiên cứ
u khoa học về tổ chức, cán bộ và vận dụng các thành tựu của khoa
học tổ chức trên thế giới vào đổi mới công tác tổ chức. Kết luận số 37-

5
KL/TW ngày 2-2-2009 của Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khóa X về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ từ nay đến
năm 2020 chủ trương: “Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, xây dựng tổ
chức và con người làm công tác tổ chức, cán bộ. Xây dựng chương trình, kế
hoạch và lộ trình thực hiện việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứ
u khoa học về tổ
chức và cán bộ phù hợp với đặc điểm của nước ta trong tình hình mới”.
Xuất phát từ tình hình nêu trên, việc nghiên cứu đề tài khoa học: “Các
lý thuyết tổ chức hiện đại và việc vận dụng vào công tác tổ chức xây dựng
Đảng ở nước ta hiện nay”, nhằm khảo sát những lý thuyết tổ chức hiện đại
trên thế giới, từ đó tìm những gi
ải pháp để cá biệt hoá ở Việt Nam cho phù
hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể là một nhu cầu bức thiết của công tác tổ
chức nói chung và công tác tổ chức xây dựng Đảng nói riêng, do đó là hướng
nghiên cứu có tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, việc nghiên cứu khoa học tổ chức,
nghiên cứ
u nội dung, những mặt ưu điểm cũng như hạn chế của các lý thuyết

Chí Minh và của Đảng ta về vị trí, vai trò của Đảng cộng sản trong hệ thống
chính trị XHCN. Các đề tài này đ
ã khẳng định vai trò quan trọng và sự cần
thiết phải xây dựng hệ thống luận cứ khoa học làm căn cứ cho việc tổ chức và
kiện toàn bộ máy của Đảng. Các đề tài bước đầu đã đưa ra được những quan
điểm, giải pháp mang tính định hướng cho việc tổ chức bộ máy của Đảng
nhằm đáp ứng với những yêu cầu xây dựng, chỉnh đố
n Đảng trong thời kỳ
mới.
- Cơ sở lý luận và thực tiễn đánh giá, quy hoạch, luân chuyển cán bộ
lãnh đạo quản lý trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đề tài
độc lập cấp Nhà nước ĐTĐL (2002)- 07, do PGS, TS Trần Đình Hoan làm
chủ nhiệm. Đề tài đã đi sâu nghiên cứu về đánh giá, quy hoạch, luân chuyển
cán bộ lãnh đạo quản lý- ba mặt quan trọng củ
a công tác cán bộ.
- Đề tài KX 10.03: Đổi mới quan hệ giữa Đảng, bộ máy nhà nước và
các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị ở Việt Nam do GS, TS
Lê Hữu Nghĩa làm chủ nhiệm. Đề tài tập trung nghiên cứu quan hệ giữa
Đảng, bộ máy nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính
trị ở Việt Nam thời kỳ đổi mới, đề xuất phương hướng, giả
i pháp đổi mới
quan hệ giữa Đảng, bộ máy nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội trong
hệ thống chính trị hiện nay.
- Đề tài KX 10-02: Các quan điểm và nguyên tắc đổi mới hệ thống
chính trị ở nước ta giai đoạn 2005 - 2020 do PGS, TS Trần Đình Hoan làm
chủ nhiệm, nghiệm thu 2006. Kết quả nghiên cứu đã bước đầu phân tích và
đánh giá sự tương quan giữa cải cách kinh tế, phát triển nề
n kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam; xác


đề tài “Về hệ thống tổ chức đảng uỷ Khối cấp Trung ương và tỉnh, thành uỷ
trong cả nước” (2003) do Tô Xuân Đại làm chủ nhiệm; Đề tài: “Căn cứ lý
luận và thực tiễn để xác lập mối quan hệ của hệ thống tổ chức Đảng theo
ngành và lãnh thổ địa phương” do Hoàng Việt Phương làm chủ nhiệm đã đi
sâu nghiên cứu những vấ
n đề lý luận và thực tiễn xây dựng bộ máy tổ chức
Đảng trong điều kiện mới; hệ thống tổ chức đảng uỷ Khối cấp Trung ương và
tỉnh, thành uỷ trong cả nước; xác lập mối quan hệ của hệ thống tổ chức đảng
theo ngành và lãnh thổ địa phương.

8
* Sách
- Lê Duẩn (1973), Mấy vấn đề cán bộ và tổ chức trong cách mạng xã
hội chủ nghĩa, Nxb Sự thật, Hà Nội. Từ thực tiễn các mạng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam, tác giả đã bàn về bản chất, vai trò của công tác tổ chức, đưa ra khái
niệm về tổ chức mang tính triết học.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo và đội ngũ
cán bộ quản lý kinh
doanh trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước, do PGS, TS Nguyễn Trọng Bảo
chủ biên, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998. Sách giới thiệu những kết quả nghiên
cứu của đề tài cấp Nhà nước KHXH 03-09. Nội dung chính bàn về cơ sở lý
luận, đánh giá thực trạng và đề xuất phương hướng, kiến nghị xây dựng đội
ngũ cán bộ lãnh đạo và đội ngũ cán bộ quản lý kinh doanh trong thời k

CNH, HĐH đất nước.
- Trung tâm nghiên cứu khoa học tổ chức, quản lý: Khoa học tổ chức và
quản lý - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Thống kê, Hà Nội, 1999.
Đây là sách chuyên khảo có tính hệ thống đầu tiên ở nước ta bàn về khoa học
tổ chức và quản lý
- Ban Tổ chức Trung ương và Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí

xây dựng Đảng (1930-2002), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Nội dung cuốn
sách này được xây dựng trên cơ sở tổng hợp những sự
kiện và tư liệu có ý
nghĩa quan trọng; bước đầu rút ra những bài học kinh nghiệm bổ ích trong
công tác xây dựng Đảng về tổ chức của Đảng hơn 70 năm qua kể từ khi thành
lập Đảng đến nay.
- Ngô Đức Tính: Xây dựng Đảng về tổ chức, Nxb CTQG, Hà Nội,
2003. Các tác giả đã đề cập đến việc vận dụng khoa học tổ chức vào các mặt
công tác tổ chức xây d
ựng Đảng
- PGS, TS Nguyễn Hữu Tri và TS Nguyễn Thị Phương Hồng: Một số
vấn đề đổi mới tổ chức bộ máy Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb CTQG, Hà
Nội, 2004. Nội dung sách là kết quả nghiên cứu của đề tài KX05-08. Các tác
giả đã trình bày những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh về tổ chức bộ máy của đảng cầm quyền, kh
ảo cứu quá trình hình
thành phát triển tổ chức bộ máy của Đảng, đề xuất phương hướng và giải
pháp đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy của Đảng trong thời kỳ mới
- PGS, TS Nguyễn Bá Dương - PGS, TS Nguyễn Sinh Cúc - TS Đức
Uy: Những vấn đề cơ bản của khoa học tổ chức, Nxb CTQG, Hà Nội, 2004.
Các tác giả đi sâu phân tích các yếu tố của tổ chức với tư cách m
ột khoa học
như đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu của khoa học tổ chức,
vai trò quyết định của con người trong tổ chức, các thành tố cơ bản của tổ
chức, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của tổ chức, mô hình thiết kế tổ

10
chức và vấn đề xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức như là
một nghề mang tính chuyên môn hoá.
- TS Thang Văn Phúc - PGS, TS Nguyễn Đăng Thành: Một số lý thuyết

- Khoa học Xây dựng Đảng- mấy suy nghĩ và ki
ến nghị: Trần Đình
Huỳnh, Tạp chí Xây dựng Đảng, 5-1992.
2.2. Ở nước ngoài:

11
- P.M.Kecgientxep (2000), Những nguyên lý của công tác tổ chức, Nxb
Thanh niên, Hà Nội. Là một nhà khoa học Xôviết nổi tiếng, tác giả viết công
trình này ngay sau Cách mạng tháng Mười Nga. Trong công trình này tác giả
trình bày hệ thống các vấn đề của khoa học tổ chức, đưa ra khái niệm tổ chức
và các nguyên lý của công tác tổ chức rất có giá trị lý luận và thực tiễn tổ
chức xây dựng đất nước Xôviết.
- Gunter Buschges: Nhập môn xã hội học tổ
chức, Nxb Thế giới, Hà
Nội, 1996. Dưới góc độ xã hội học, tác giả đã trình bày khá hệ thống các vấn
đề cơ bản trong lĩnh vực tổ chức và khoa học tổ chức.
- Gareth Morgan: Cách nhìn nhận tổ chức từ nhiều góc độ, Nxb Khoa
học kỹ thuật, Hà Nội, 1994. Từ kinh nghiệm thực tiễn và sự nghiên cứu công
phu, tác giả đã đưa ra những quan điểm phong phú về bản ch
ất, cơ cấu, quy
luật vận động của tổ chức.
- Harold Koontz, Cyril Odonnell, Heinz Weihrich: Những vấn đề cốt
yếu của quản lý, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội, 1992. Mặc dù bàn về quản
lý nhưng tác giả đã có những lý giả sâu sắc về kỹ thuật tổ chức trong quản lý.
- Robert Kreitner – Angelo Kinicki: Hành vi tổ chức (tài liệu dịch, lưu
hành nội bộ), Học việ
n Xây dựng Đảng, 2007. Đây là một giáo trình chuyên
ngành tổ chức của một đại học Mỹ nên bàn rất hệ thống về lý thuyết và thực
tiễn môn hành vi tổ chức, một khoa học đang rất thịnh hành ở Mỹ.
- Vương Lạc Phu và Tưởng Nguyệt Thần: Khoa học lãnh đạo hiện đại,

Thứ tư, đề xuất những vận dụng cụ thể các lý thuyết tổ chức hiện đại
vào công tác tổ chức xây dựng Đảng hiện nay
4. Quá trình triển khai nghiên cứu đề tài

* Về tổ chức
- Lập ban chủ nhiệm đề tài: PGS, TS Nguyễn Văn Giang là chủ nhiệm
đề tài, TS Phạm Tất Thắng làm thư ký khoa học, CN Bùi Thu Chang làm thư
ký hành chính.
* Về triển khai nghiên cứu
- Xây dựng hệ thống 19 chuyên đề nghiên cứu và triển khai ký kết hợp
đồng nghiên cứu với từng cộng tác viên
- Tổ chức khảo sát thực tế và toạ đàm khoa học: Ngoài việc yêu cầu các
cộng tác viên tiến hành kh
ảo sát thực tế sát với yêu cầu chuyên đề đã hợp
đồng, Ban chủ nhiệm đề tài đã tổ chức một cuộc khảo sát và tọa đàm tại
Thành uỷ Hà Nội vào cuối tháng 7 năm 2011.

13
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC VÀ
LÝ THUYẾT TỔ CHỨC HIỆN ĐẠI
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC
1.1.1. Khái niệm tổ chức
Từ thuở sơ khai, để sinh tồn, con người tập hợp nhau lại một cách có
trật tự, có sự phân công, phối hợp với nhau. Các hình thức tổ chức xã hội và
hoạt động tổ chức của loài người xuất hiện.
Xã hội là một cộng đồng người có

Lê Duẩn, Mấy vấn đề về cán bộ và về tổ chức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Nxb Sự thật, Hà Nội,
1973, tr.28.

14
quyền không bố trí thêm công chức để dân đỡ khỏi phải xếp hàng. Đó là vì tổ
chức.
Hầu hết mọi người đều không thấy tổ chức là gì, vì đó là một thứ vô
hình. Chúng ta chỉ đề cập đến nó khi chúng ta muốn tạo nên hay chính xác
hơn thành lập nên một tổ chức.
Thường thì một tổ chức tạo ra thường để phục vụ cho một nhu cầu hay
một mong mu
ốn nào đó của con người. IBM, Microsoft được thành lập ra là
để tăng cường sự phát triển về công nghệ thông tin; Wal-mart xuất hiện là vì
mong muốn trao đổi hàng hóa thật nhiều của con người.
Đôi khi một người hay một số người họ nghĩ rằng họ có đủ khả năng và
kĩ thuật để tạo ra một tổ chức mà sẽ sản xuất ra sản phẩm hoặc dịch vụ. Chính
vì v
ậy mà một tổ chức được thành lập ra như Yahoo! hay các xưởng thiết kế,
một số người có nhiều tiền không biết làm cái gì thì góp tiền vào lập ra một
khu resort … Đó cũng là các tổ chức
Như vậy, tổ chức là một công cụ được sử dụng bởi con người để kết
hợp các hành động lại tạo ra một giá trị, hay đúng hơn là đạt được mục tiêu
của t
ổ chức. Đơn giản nhất là như một số người có chung một quê hương
mong muốn thường xuyên gặp gỡ nhau có thể thành lập một hội đồng hương,
nhưng người thích giải trí và muốn tạo ra dịch vụ giải trí thì thành lập nên
công ty giải trí như Walt Disney
Kéc-gien-txép, nhà tổ chức học mác-xít nổi tiếng chỉ ra ý nghĩa hai mặt
của từ tổ chức: ““Tổ chức” nghĩa là liên hiệp nhi
ều người lại để thực hiên một

7
.
Ngày nay, cuộc sống hàng ngày của chúng ta phụ thuộc vào hoạt động
của nhiều loại tổ chức chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Mặt khác, các tổ
chức là môi trường quan trọng không thể thiếu để cá nhân, xã hội phát triển.
1.1.2. Các yếu tố chủ yếu cấu thành tổ chức
Tổ chức xã hội của loài người là rất phức tạp. Mỗi loại hình tổ chức
khác nhau có tính chất, chứ
c năng, nhiệm vụ khác nhau, hoạt động theo
phương thức và vận hành trong không gian, thời gian khác nhau. Tuy nhiên,
nếu loại trừ ra những đặc trưng riêng biệt của các tổ chức, chỉ giữ lại những
thuộc tính chung mà bất cứ loại hình tổ chức nào cũng có, chúng ta sẽ có
được những yếu tố tạo nên cấu trúc của tổ chức. Những yếu tố đó cũng là
những khái niệm cơ b
ản của khoa học tổ chức.
* Mục tiêu của tổ chức
Đây là thành tố (hằng số) đầu tiên có tính chất nền tảng của tổ chức.
Khi thành lập bất cứ một tổ chức nào đều phải trả lời thật rõ ràng: lập nó ra để
làm gì? Câu trả lời càng đầy đủ bao nhiêu càng có cơ sở để tuyển chọn sử
dụng con người. Nhân sức mạnh con người chính xác, hi
ệu quả bấy nhiêu.
Hơn nữa, mục tiêu của tổ chức không chỉ được xác định có tính trước mắt
(gần) mà còn cả cho lâu dài (xa). Việc xác định mục tiêu của tổ chức có các ý
nghĩa như sau:
- Là cơ sở để đi đến sự thống nhất về quan điểm, thái độ, quy chế lợi
ích và một số giá trị chung khác của tổ chức. 7
V.I.Lê-nin: Toàn tập, t.24, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr.47

phận đó. Cơ cấu tổ chức do nội dung hoạt động của tổ chức quy định.
V.I.Lênin khẳng
định: “Cơ cấu của bất cứ một cơ quan nào cũng do nội dung
hoạt động của cơ quan đó quyết định một cách tự nhiên và tất nhiên”
8
.
* Cơ chế hoạt động:
Cơ chế hoạt động của tổ chức có thể được hiểu là chế độ hoạt động của
các bộ phận trong cơ cấu tổ chức. Chế độ này là những nguyên tắc, những
quy định bắt buộc tất cả các bộ phận, các yếu tố của tổ chức phải phục tùng. 8
V.I.Lê-nin, Toàn tập, t6, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1975, tr.127.

17
Chế độ hoạt động của tổ chức càng rõ ràng, chặt chẽ bao nhiêu, thì tổ chức
hoạt động càng có ít sai sót bấy nhiêu, bộ máy tổ chức không ngừng trưởng
thành và phát triển. Ngược lại, chế độ hoạt động không rõ ràng, không hợp lý
thì tổ chức sẽ chồng chéo, ách tách, kém hiệu quả, khó quy kết trách nhiệm
cho những người phải chịu trách nhiệm.
* Thời gian:
Bất kỳ tổ chức nào cũng t
ồn tại và phát triển trong một khoảng thời
gian xác định. Yếu tố thời gian tự nó xác định tính ổn định tương đối của tổ
chức. Ví dụ, mỗi tổ chức xã hội, tuy rất khác nhau nhưng đều có thời gian tồn
tại xác định như: thời gian thành lập, thời gian tồn tại, hoạt động, kết thúc.
Yếu tố thời gian cùng với không gian tồn tại phát triển, tạo thành không - thờ
i
gian bao chứa tất cả các loại tổ chức xã hội, tất cả các điều kiện kinh tế, văn

t bị kỹ thuật,
văn phòng, trụ sở làm việc Điều kiện vật chất không phải là yếu tố quyết
định sự trưởng thành và phát triển của tổ chức, nhưng là yếu tố không thể
thiếu để tổ chức hoạt động có hiệu quả.
1.1.3. Các quy luật của tổ chức
a. Quy luật mục tiêu rõ ràng
Tổ chức là hình thức, phương pháp do con người đặt ra nh
ằm thực hiện
mục tiêu của mình. Bất kỳ một tổ chức nào cũng phải có mục tiêu, nhiệm vụ
xác định, và đó chính lý do ra đời, tồn tại của tổ chức, là yếu tố liên kết các
thành viên của tổ chức. Mục tiêu khác nhau thì có tổ chức khác nhau. Từ mục
tiêu mới hình thành tổ chức phù hợp để thực hiện có hiệu quả nhất mục tiêu
đó. Mục tiêu càng rõ ràng thì việc thiế
t kế tổ chức và vận hành tổ chức càng
thuận lợi và sẽ đạt hiệu quả cao.
b. Quy luật hệ thống
Hệ thống là một chuỗi các bộ phận liên kết và phụ thuộc lẫn nhau, được
sắp xếp theo một tổng thể thống nhất. Các tổ chức chính trị, tổ chức kinh tế,
con người, thực vật, máy móc đều được coi là một hệ thống. Nh
ững hệ thống
này chịu trách nhiệm đầu vào, chuyển đổi, thiết lập đầu ra. Mỗi hệ thống cần
có sự phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận và có sự thống
nhất để đảm bảo rằng hệ thống không bị tách ra thành các đơn vị riêng rẽ, biệt
lập. Đặc điểm đáng chú ý của hệ thống là mối quan hệ
tương tác giữa các bộ
phận trong cùng một hệ thống. Tính độc lập và thống nhất là đặc trưng của hệ
thống.
Hệ thống là đặc tính bản chất của tổ chức. Nói đến tổ chức là nói đến hệ
thống của tổ chức. Tổ chức chính là một hệ thống bao gồm các phần tử liên
kết với nhau trong những mối quan hệ nhất đị

lượng tuỳ thuộc chức năng, nhiệm vụ và sự bố trí của cơ quan nhưng cũng
phải nằm trong khả năng điều khiển được. Để điề
u khiển tổ chức khi đã vượt
quá khả năng quản lý thì phải phân cấp và thành lập bộ phận trung gian.
Trong hệ thống, nếu do nhu cầu phát triển mà các cấp bậc trong tổ chức
thay đổi thì cần phải qui định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cấp, quyền
hạn, trách nhiệm quyền hạn của cán bộ lãnh đạo và quản lý từng cấp.
Các tổ chức cùng cấ
p tạo nên hệ thống ngang. Các tổ chức trong hệ
thống ngang cần có chức năng nhiệm vụ rõ ràng thì mới không trùng lắp, gây
lãng phí và làm giảm sức mạnh tổ chức. Có trường hợp trong tổ chức để giải
quyết mâu thuẫn cá nhân, cấp trên đã tách tổ chức thành 2 đơn vị và như vậy
hệ thống ngang có sự trùng lắp chức năng nhiệm vụ. Đó là nguồn gốc của

20
mâu thuẫn làm ảnh hưởng tới tính hệ thống của tổ chức và có nguy cơ làm
suy yếu, thậm chí tan rã tổ chức.
Hệ thống ngang, cơ bản là hệ thống đồng cấp, ngoài việc quy định rõ
chức năng nhiệm vụ của các tổ chức đồng cấp thì cần quy định quan hệ giữa
các tổ chức đồng cấp với nhau để phát huy sức mạnh tổng thể
của tổ chức.
c. Quy luật cấu trúc đồng nhất và đặc thù của tổ chức
Tổ chức là một hệ thống do những phần tử của tổ chức hợp thành và có
mối liên kết nhất định. Nó là hệ thống của các tổ chức hợp thành và lại là bộ
phận của một hệ thống lớn hơn. Qui luật cấu trúc đồng nhất và đặ
c thù của tổ
chức đòi hỏi các tổ chức hợp thành phải có cấu trúc đồng nhất trong khi vẫn
duy trì tính đặc thù của chúng.
d. Quy luật vận động không ngừng và vận động theo quy trình của tổ
chức

tiêu. Những cơ chế quản lý, chế độ, chính sách tạo ra điều kiện và cho phép tổ
chức tự điều chỉnh.
Để tổ chức tự điều chỉnh được, cần một số điều kiện tối thiểu sau:
- Trình độ tổ chức của hệ thống điều khiển đảm bảo thu thập và xử lý
tốt thông tin để đi
ều chỉnh quyết định.
- Người lãnh đạo phải có trình độ nắm vững những vấn đề nguyên tắc,
nhạy bén với những thay đổi về cơ chế, chính sách để điều chỉnh hoạt động
của tổ chức phù hợp với điều kiện mới.
- Bộ máy quản lý giúp việc người đứng đầu xử lý tốt thông tin, giúp
người đứng đầu kịp th
ời ra các quyết định điều chỉnh tổ chức.
- Tổ chức vững mạnh, liên kết các thành phần chặt chẽ nhưng linh hoạt,
mềm dẻo, bảo đảm khả năng huy động nội lực của tổ chức để tự điều chỉnh,
thích nghi và phát triển.
e. Qui luật về tính ổn định và bền vững tương đối của tổ chức
Tổ ch
ức nào cũng có quá trình ra đời, phát triển và tiêu vong, tuy nhiên,
tổ chức khi đã ra đời thường hướng tới sự ổn định và phát triển bền vững.
Tính ổn định và phát triển là yêu cầu tất yếu để tổ chức thực hiện mục tiêu,
nhiệm vụ của nó. Một tổ chức mà không ổn định và phát triển thì không thể
tồn tại và hoạt động có hiệu quả. Mặt khác, sau khi tổ chức đ
ã hình thành và
hoạt động ổn định thì luôn xuất hiện tính ỳ, xu hướng bảo thủ, bền vững,
không dễ thay đổi.
1.2. LÝ THUYẾT TỔ CHỨC - KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM
1.2.1. Khái niệm, vai trò của lý thuyết tổ chức
Con người không ngừng nghiên cứu để hoàn thiện tổ chức của mình và
dần dần xây dựng thành lý thuyết (hay luận thuyết, học thuyết) về tổ chức. Lý
thuyết tổ chức là một hệ thống các quy tắc nghiên cứu cấu trúc và thiết kế tổ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status