Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tiếp nối truyền thống: “Thủy chung, nhân nghĩa”, đạo lý: “Uống
nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây”…Dưới sự lãnh đạo của
Đảng, Nhà nước của Bác Hồ kính yêu, nhân dân ta đã đứng dậy chiến đấu
theo chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, với tinh thần: “Cảm tử
cho Tổ quốc quyết sinh”, “Thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước,
không chịu làm nô lệ”, rất nhiều người con yêu nước , nhiều cá nhân và gia
đình đã hiến dâng cả cuộc sống, cả những người thân đã hy sinh một phần
thân thể của mình cho Tổ quốc để khi họ trở về với cuộc sống đời thường
lại mang trên mình những thương tật, di chứng của chiến tranh. Chiến tranh
qua đi những người con của Tổ quốc khi trở về với đời thường thì họ gặp
rất nhiều khó khăn thiếu thốn do hậu quả của chiến tranh. Khắc phục hậu
quả chiến tranh đảm bảo cuộc sống cho GĐTB là nhiệm vụ của Đảng, Nhà
nước và của toàn dân ta. Thực hiện tốt công tác TB là góp phần to lớn cho
mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” mà
nghị quyết đại hội VIII đặt ra. Trước sự lãnh đạo của Đảng, công tác đền
ơn đáp nghĩa, chăm sóc GĐTB đã được đặc biệt quan tâm đến và chính
sách ưu đãi đối với người có công ngày càng có ý nghĩa rất là lớn. Bên
cạnh đó công tác chăm sóc TB còn không ít những khó khăn, nhiệm vụ
công tác ngày càng nặng nề, nhiều vấn đề bức xúc đòi hỏi phải giải quyết
trước mắt, phải có chiến lược lâu dài. Chuyên đề thực tập: “Sự tác động
của CSXH đối với đời sống gia đình thương binh ở huyện Thanh Hà -
Hải Dương” góp phần vào việc tạo cơ sở cho việc thực hiện những chính
sách xã hội, nâng cao đời sống của thương binh để từ đó đưa ra những
khuyến nghị giúp cho các cấp chính quyền, các tổ chức xã hội khắc phục
SV: Vũ Văn Chương GVHD: PGS. TS. Trần Thị Thu
1
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
được những hạn chế và thiếu sót của chính sách xã hội nhằm nâng cao đời
+ Thời gian: Từ năm 2000 đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích các tài liệu: Đọc và phân tích những tài liệu,
sách báo có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, cụ thể là những pháp lệnh,
quy định, quyết định, thông tư, các báo cáo tổng kết về vấn đề chăm sóc
TB của Phòng NV-LĐTB&XH huyện.
Phương pháp so sánh: So sánh kết quả thực hiện của huyện Thanh
Hà với các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước.
5 . Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết:
5.1. Giả thuyết nghiên cứu:
- Hệ thống CSXH ngày càng được hoàn thiện và bổ sung phù hợp
với yêu cầu đời sống vật chất và tinh thần của GĐTB.
- Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền,
đời sống các GĐTB đang từng bước được nâng lên.
5.2. Khung lý thuyết:
“ Sự tác động của chính sách xã hội đối với gia đình thương binh”.
(Qua khảo sát tại địa bàn huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương).
SV: Vũ Văn Chương GVHD: PGS. TS. Trần Thị Thu
3
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
SV: Vũ Văn Chương GVHD: PGS. TS. Trần Thị Thu
4
Điều kiện kinh tế - xã hội huyện Thanh
Hà, tỉnh Hải Dương.
Một số chính sách xã hội tác động đến
GĐTB
Sự tác động của CSXH đối với đời sống
GĐTB.
Chính
sách trợ
Đời sống vật
chất
Giáo dục con
cái
Đời sống tinh
thần.
Giải pháp – Kết luận
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
PHẦN THỨ NHẤT
VAI TRÒ CỦA CSXH ĐỐI VỐI ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH THƯƠNG BINH
1.1. Khái niệm:
1.1.1. Tác động:
“Là làm cho một đối tượng nào đó có những biến đổi nhất định.”
(1)
1.1.2. Chính sách xã hội:
Theo giáo sư Phạm Như Cương thì: “CSXH trước hết là một khoa
học, CSXH phải là thành tựu của những cuộc nghiên cứu nghiêm túc của
khoa học xã hội trả lời những câu hỏi của cuộc sống. ở dạng hoạt động
thực tiễn, đặc thù này, CSXH cần phải xem xét như một lĩnh vực khoa học
đặc thù, bám chắc vào sự hoạt động của thực tiễn, khoa học nghiên cứu về
CSXH cần phảI mạnh dạn trả lời những câu hỏi đang đặt ra từ thực trạng
kinh tế nước ta hiện nay”.
(2)
1.1.3.Đời sống xã hội:
“Đời sống xã hội bao gồm toàn bộ những điều kiện sinh hoạt của con
người và của xã hội. Đời sống của con người được chia làm hai mảng: đời
sống vật chất và đời sống tinh thần.
Đời sống vật chất là những gì thuộc về nhu cầu ăn, ở, đi lại…nói
Thương binh hạng 3: Là đối tượng được Hội đồng giám định y khoa
có thẩm quyền quyết định kết luận MSLĐ từ 41% - 60%.
Thương binh hạng 4: Là đối tượng được Hội đồng giám định y khoa
có thẩm quyền quyết định kết luận MSLĐ từ 21% - 40%”.
(5)
1.2. Các chính sách xã hội đối với gia đình thương binh
1.2.1. Chính sách tự cấp ưu đãi hàng tháng đối với thương binh và gia
đình họ.
Mọi CSXH cũng như chế độ ưu đãi đối với TB và GĐTB đều dựa
trên mức độ thương tật và tình trạng sức khỏe của TB. Theo quy định thì
tất cả những TB MSLĐ từ 21% trở lên đều được hưởng các CSXH, nhưng
mức độ thụ hưởng các CSXH của nhóm TB là khác nhau. Cụ thể, mức độ
thương tật hàng tháng của thương binh được tính theo mức độ MSLĐ của
từng người và tính trên mức lương quy định là 312.000đ/tháng. Thương
4
(4) (5)
Bộ LĐTB & XH, (2002) - Tài liệu tập huấn dựng cho cỏn bộ ở cấp xó, phường,
trang 104 và trang 107 – 108.
5
SV: Vũ Văn Chương GVHD: PGS. TS. Trần Thị Thu
6
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
binh mất từ 21% sức lao động do thương tật được hưởng mức độ trợ cấp
hàng tháng là 21% mức lương quy định, sau đó cứ giảm 1% sức lao động
thì được hưởng trợ cấp 1% mức lương quy định…Tỷ lệ MSLĐ trợ cấp một
lần được tính như sau:
Bảng1.1: Tỷ lệ giữa mức độ MSLĐ với mức độ trợ cấp một lần.
Mức độ MSLĐ Mức độ trợ cấp một lần
Từ 21% - 41% sức lao động 1 tháng lương khi bị thương
Từ 41% - 61% sức lao động 2 tháng lương khi bị thương
hưởng trợ cấp thêm hàng tháng mức 30.000đ/người.
(8)
Trường hợp không có thân nhân hoặc thân nhân không thuộc diện
hưởng tiền tuất hàng tháng thì một trong những người thân khác đảm
nhiệm việc thờ cúng được nhận tiền tuất 1 lần với mức là 600.00đ.
1.2.2. Chế độ ưu đãi về y tế chăm sóc, sức khỏe cho TB.
Hiện nay đã xây dựng nhiều trung tâm chỉnh hình, phục hồi chức năng,
các khu điều dưỡng, khám chữa bệnh miễn phí, cấp thẻ bảo hiểm Y tế…
1.2.3. Chế độ ưu đãi về nhà ở.
GĐTB cũng nhận được sự hỗ trợ trong việc xây dựng nhà ở ở các
mức độ khác nhau.
Bảng 1.2. Các mức độ ưu đãi về nhà ở đối với GĐTB
Đối tượng Mức hỗ trợ
TB, người hưởng CS như TB, MSLĐ từ 81% trở lên Toàn bộ tiền sử dụng
đất
TB, người hưởng CS như TB, MSLĐ từ 61% - 80% 90%
TB, người hưởng CS như TB, MSLĐ từ 41% - 60% 80%
TB, người hưởng CS như TB, MSLĐ từ 21% - 40% 70%
(Nguồn: Tài liệu nghiệp vụ LĐTB & XH dùng cho cán bộ TBXH ở xã,
phường, Bộ LĐTBXH, năm 2002, trang 128)
1.2.4. Chính sách miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp
Bảng. 1.3. Thuế sử dụng đất nông nghiệp
Đối tượng, điều kiện Mức miễn, giảm
GĐTB mất sức lao động từ 61% trở lên Miễn hoàn toàn
8
(
8)
Điều 33 Nghị định số 28/CP ngày 29/4/1995 của CP
SV: Vũ Văn Chương GVHD: PGS. TS. Trần Thị Thu
8
Theo điều 64 nghị định 28/CP ngày 24/4/1995 của CP
SV: Vũ Văn Chương GVHD: PGS. TS. Trần Thị Thu
9
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
GĐTB là một nhóm XH đặc biệt cần sự quan tâm của Đảng và Nhà
nước. Trong điều kiện kinh tế thị trường với những vấn đề phức tạp, nảy
sinh, đời sống của GĐTB gặp nhiều khó khăn. Thực hiện tốt chính sách ưu
đãi với người có công bằng tinh thần “Đền ơn đáp nghĩa” sẽ góp phần to
lớn vào việc ổn định kinh tế xã hội của đất nước để đánh giá đời sống
GĐTB thì căn cứ vào thu nhập và chi tiêu của họ. Trong đó:
1.3.1.Chỉ tiêu thu nhập: Gồm lương (nếu có), ưu đãi của Nhà nước (theo
quy định), phụ cấp (nếu có). Ngoài ra còn chăn nuôi, trồng trọt, thương
nghiệp, dịch vụ và được sự ủng hộ ưu đãi trong một số lĩnh vực của cá
nhân, tổ chức và nhà nước…
1.3.2.Về phương diện chi tiêu của GĐTB: Thì có nhà, ăn uống, sinh hoạt cá
nhân (đi lại, may mặc, phương tiện…), học hành (cho bản thân TB và con
cái họ), chi đầu tư sản xuất, dịch vụ… và còn các khoản chi khác như:
Hiếu, hỷ, tham quan, văn hóa, y tế…
Nói chung là làm sao cho tổng thu lớn hơn tổng chi thì mới có dư để
tái sản xuất và dự trữ cho bản thân. Với phương châm của Nhà nước là
mức sống phải bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của người dân địa
phương, xóa bỏ toàn bộ nhà tranh tre, cấp thẻ BHYT, BHXH cho TB, có
chính sách ưu đãi đặc biệt trong gia đình đối với TB và con em của họ…
1.4. Vai trò của chính sách xã hội đối với đời sống gia đình thương binh.
Chính sách xã hội có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội của mỗi dân tộc, quốc gia. Xã hội càng phát triển thì vấn đề
xã hội ngày càng phức tạp hơn. Để duy trì sự ổn định và phát triển XH tốt
đẹp thì đó là nhiệm vụ cơ bản của giai cấp cầm quyền, là đề ra được các
CSXH nhằm mục đích là xây dựng một XH vững mạnh và điều hòa mối
quan hệ trong XH.
nghiệp, trung tâm công nghiệp và dịch vụ; đời sống nhân dân trong huyện
được cải thiện đáng kể.
Trong bối cảnh và trào lưu chung của quá trình phát triển, nhiều tiềm
năng và thế mạnh của huyện sẽ được đầu tư khai thác hiệu quả hơn, hứa
hẹn đưa Thanh Hà trở thành một huyện giàu của tỉnh.
Là một trong 11 huyện của tỉnh, nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Hải
Dương. Phía Bắc giáp huyện Nam Sách và Kim Thành, phía Đông giáp
huyện Kim Thành và Thành phố Hải Phòng, phía Nam giáp huyện Tứ Kỳ,
phía Tây giáp Thành phố Hải Dương.
Địa hình địa mạo khá phức tạp mang đặc tính đât phù sa sông Thái
Bình. Địa hình cao thấp xen kẽ nhau không đều, nhiều vàn cao và cũng
nhiều bãi trũng. Địa hình tuyệt đối so với mực nước biển trung bình
1-1,5m; cao nhất là 1,8-2m; thấp nhất khoảng 0,6-0,7m. Thanh Hà mới
được tái lập từ năm 1997 với tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là
15.891,87 ha ( bằng 9,64% diện tích đất toàn tỉnh ). Trong đó, đất nông
nghiệp là 11.309,52 ha chiếm 71,2% diện tích đất tự nhiên của huyện. Bình
quân đất nông nghiệp trên đầu người là 707 m
2
/người, cơ cấu kinh tế của
toàn huyện rất đa dạng và phong phú, nông nghiệp và thuỷ sản chiếm
khoảng 49,53%; công nghiệp và xây dựng chiếm 16,25%; dịch vụ chiếm
34,22%...
Tổng số dân toàn huyện 161.517 người được chia ra làm 24 xã và 1
thị trấn ( được chia thành 4 khu, bao gồm: khu Hà Bắc 7 xã, khu Hà Tây 6
SV: Vũ Văn Chương GVHD: PGS. TS. Trần Thị Thu
12
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
xã, khu Hà Đông 6 xã, khu Hà Nam 5 xã, và 1 thị trấn ) trong đó thị trấn
Thanh Hà là trung tâm kinh tế-chính trị-xã hội của huyện. Thanh Hà có vị
trí tương đối thuận lợi trong viêc giao lưu kinh tế, văn hoá với các tỉnh,
hiện đầy đủ các chính sách đối với người nghèo, không còn hộ nghèo thuộc
đối tượng chính sách. Xây dựng chương trình, mục tiêu giảm nghèo giai
đoan 2006 – 2010 toàn huyện có 8.325 hộ nghèo tỷ lệ 19,7%. Trong đó có
31 hộ nghèo thuộc đối tượng CS. Mục tiêu phấn đấu mỗi năm giảm từ 1,5
đến 2 % trong 5 năm phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 19,7% năm 2005
xuống 10% năm 2010. Điều kiện về nhà ở của nhân dân được cải thiện, hầu
hết các hộ có nhà ở xây lợp ngói hoặc kiên cố cao tầng. Các dịch vụ về y tế
được cải thiện và đáp ứng được nhu cầu của nhân dân. Về dân số thì được
thể hiện rất rõ qua:
SV: Vũ Văn Chương GVHD: PGS. TS. Trần Thị Thu
14
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Bảng 2.1. Số lượng và cơ cấu dân số huyện Thanh Hà năm 2007 như sau
Nhóm tuổi Tổng số TL % Nam TL % Nữ TL %
0 tuổi 2 474 1,55 1 226 1,59 1 248 0,51
1 – 4 tuổi 10 527 6,62 5 419 7,05 5 108 6,21
5 - 9 tuổi 17 370 11,5 9 060 11,80 8 670 10,54
15 - 17 tuổi 19 237 12,0 9 962 12,97 9 275 11,28
18 - 19 tuổi 11 071 6,96 5 673 7,38 5 398 6,56
20 - 24 tuổi 4 916 3,09 2 444 3,18 2 472 3,0
25-29 tuổi 11 631 7,31 5 567 7,25 6 064 7,37
30-34 tuổi 12 952 8,14 6 451 8,40 6 501 7,90
25-39 tuổi 12 400 7,8 6 081 7,92 6 319 7,68
40-44 tuổi 12 747 0,017 6 061 7,89 6 686 8,13
45-49 tuổi 10 850 6,82 5 138 6,69 5 712 6,94
49-50 tuổi 6 684 4,20 3 138 4,08 3 546 4,31
50-54 tuổi 3 697 2,32 1 808 2,35 1 889 2,29
55-59 tuổi 3 511 2,20 1 444 1,88 2 067 2,51
60-64 tuổi 4 723 2,97 2 091 2,72 2 632 3,72
65-69 tuổi 5 281 3,67 2 269 2,95 3 012 3,66
hương đã lên đường nhập ngũ rồi có những người hy sinh không trở về,
người còn sống trở về thì trên mình mang đầy thương tích. Tổng đối tượng
người có công đang hưởng trợ cấp do phòng quản lý là 4.069 người trong
tổng số 158.990 người dân toàn huyện, chiếm 2,5% trong tổng số người
của toàn huyện. Trong số những GĐCS đó có tới 1.211 người chiếm một tỷ
lệ không nhỏ. Con số này cũng góp phần nói lên truyền thống đấu tranh
kiên cường của nhân dân trong huyện. Chiếm 29,7% trong số người TB
này thì đều là những người có quá trình hoạt động cách mạng giải phóng
dân tộc bảo vệ Tổ quốc. Nay tuổi đã cao, sức yếu hoặc bị thương, bị bệnh
đời sống hàng ngày của họ gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn về vật chất
lẫn tinh thần.
Là thế hệ đi sau được hưởng những thành quả cách mạng của các thế
hệ đi trước để lại thì mỗi chúng ta phải có trách nhiệm, giúp đỡ, động viên,
hỗ trợ những gia đình này dù là một phần nhỏ khi họ gặp khó khăn trong
SV: Vũ Văn Chương GVHD: PGS. TS. Trần Thị Thu
16
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
cuộc sống và đây cũng là trách nhiệm to lớn của Đảng, Nhà nước và của
toàn dân.
2.2.1. Phân loại thương binh qua các thời kỳ.
Chiến tranh đã đi qua, nhưng hậu quả của nó để lại là rất lớn, những
người còn may mắn trở về với quê hương nhưng với bao nhiêu di chứng
để lại đối với tất cả TB qua các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ
và chiến tranh biên giới, số TB qua các thời kỳ đó được thể hiện ở :
Bảng 2.2. Cơ cấu thương binh qua các thời kỳ.
Đối tượng
Các thời kỳ
Số thương binh Tỷ lệ (%)
Thương binh chống Pháp 324 26,8
Thương binh chống Mỹ 692 57,1
Thương binh hạng 3 513 42,36
Thương binh hạng 4 450 37,1
Tổng 1.211 100
( Nguồn: Số liệu phòng NV-LĐTB&XH huyện Thanh Hà )
Từ bảng 2.3 cho ta biết được : Số TB hạng1 có 47 người chiếm
3,8%, họ là những người có viết thương nặng MSLĐ từ 81% trở lên .
Trước kia, họ sống trong các trung tâm điều dưỡng và phụ hồi chức năng
của Nhà nước nhưng hiện nay họ được chuyển về chăm sóc sinh sống tại
địa phương cùng gia đình. Việc đảm bảo sức khoẻ và ổn định cuộc sống
cho những TB và gia đình họ là việc làm cần thiết mà Đảng và toàn dân
cần tích cực phát huy.
Thương binh hạng 2 : Là những người mất sức lao động từ
61%-80%, số TB này chiếm 16,6% trong tổng số 1.211 TB của toàn hoàn
huyện. Đối với TB loại này thì họ thường bị ốm đau, vết thương tái phát.
SV: Vũ Văn Chương GVHD: PGS. TS. Trần Thị Thu
18
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Vì vậy, Đảng bộ và chính quyền phải thường xuyên quan tâm, tạo điều
kiện cho họ tham gia sản xuất với những công việc nhẹ nhàng phù hợp với
sức khoẻ của họ.
Đối với TB hạng 3 thì là những người mất sức lao động từ
41%-60%. Số TB này có 513 người chiếm 42,36% trong tổng số TB của
toàn huyện, số TB này tuy mất sức lao động nhưng vẫn còn khả năng
tham gia các hoạt động, lao động sản xuất, họ cũng vẫn có thể là lao động
chính trong gia đình.
Còn TB hạng 4 đó là những người MSLĐ dưới 40%, chiếm 37,1%
trong tổng số TB. Họ tuy giảm sức khoẻ nhưng vẫn có khả năng tham gia
lao động tạo thu nhập. Cùng với chính sách ưu đãi của Nhà nước và của địa
phương như hỗ trợ vốn, công cụ sản xuất, kinh nghiệm sản xuất... nhóm
TB này sẽ có điều kiện tốt hơn để tham gia sản xuất nâng cao thu nhập cho
Tổng 1.211 100
( Nguồn: Số liệu phòng NV - LĐTB&XH huyện Thanh Hà ).
Qua điều tra bảng 2.4 cho thấy rằng : Số TB trong độ tuổi từ 40-50
chiếm 9,2% đây là nhóm TB có độ tuổi lao động, họ hầu hết là trụ cột kinh
tế của gia đình. Khi tiến hành trao đổi ý kiến ở một số hộ gia đình thì họ
cho là do sức khoẻ của bản thân nên họ gặp không ít những khó khăn trong
công việc. Bởi vậy, Đảng và Nhà nước cần quan tâm hơn nữa đến đời sống
của họ để họ có thể tham gia lao động sản xuất được. Số TB trong độ tuổi
50-60, 60 trở lên chiếm tỷ lệ cao ( cụ thể độ tuổi từ 50-60 chiếm 43,5% còn
độ tuổi 60 trở lên chiếm 47,23% trong tổng số TB của toàn huyện) họ là
nhóm đã qua tuổi lao động, sức khoẻ yếu nên không đem lại thu nhập cho
gia đình. Họ rất cần sự quan tâm của các chính quyền và nhân dân địa
phương để họ ổn định cuộc sống. Mà mục tiêu của CSXH là hướng đến
con người và vì cuộc sống hạnh phúc của con người, thông qua cơ cấu tuổi
của TB Đảng và Nhà nước phải hoạch định những chính sách ưu đãi phù
hợp để giúp TB tự vươn lên trong cuộc sống, góp phần to lớn vào việc thực
SV: Vũ Văn Chương GVHD: PGS. TS. Trần Thị Thu
20
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
hiện thắng lợi mục tiêu làm cho dân giàu, cho nước mạnh, xã hội phải
công bằng, dân chủ và văn minh.
2.3. Phân tích một số chính sách xã hội tác động đến gia đình thương
binh huyện Thanh Hà.
2.3.1. Chính sách tự cấp ưu đãi hàng tháng đối với thương binh và gia
đình họ.
Những năm gần đây huyện Thanh Hà đã thực hiện tương đối tốt
chính sách chi trả trợ cấp ưu đãi với TB và gia đình họ, việc tăng giảm cho
các đối tượng luôn đảm bảo đáp ứng kịp thời, chính xác những khoản trợ
cấp này đến tay họ sớm. Cùng với việc hoàn trả và điều chính trợ cấp cho
các đối tượng đang hưởng, phòng NV-LĐTB&XH huyện đã triển khai việc
các GĐTB có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, thiếu thốn . Ngoài ra, chính
quyền địa phương còn huy động nguồn nhân công lao động giúp đỡ những
gia đình chính sách có hoàn cảnh khó khăn về nhà ở để tu sửa lại. Mặc dù
đã xây dựng mới và sửa chữa được một số ngôi nhà những vẫn chưa đủ để
đáp ứng những nhu cầu cần thiết về nhà ở của các gia đình chính sách
không có khả năng xây dựng nhà. So với nhu cầu về nhà ở của các GĐTB
trong toàn huyện thì chính quyền địa phương chưa đáp ứng đủ. Hạn chế
này là do nguồn kinh phí có hạn, không thể giải quyết ngay cùng một lúc
được. Qua thực trạng trên thì Đảng bộ và nhân dân toàn huyện cần quan
tâm hơn nữa, có những chính sách ưu đãi phù hợp hơn nữa để tạo điều kiện
giúp đỡ trong việc xây dựng nhà tình nghĩa giúp cho các hộ GĐTB có hoàn
cảnh khó khăn không thể xây dựng được nhà ở phải ở trong nhà ở bị dột
nát, quá chật chội. Qua đó niềm tin trong nhân dân về các chính sách của
Đảng và Nhà nước được tăng lên gấp bội. Cố gắng đảm bảo 100% TB và
gia đình họ có nhà ở vững chắc và ổn định.
2.3.3. Chế độ ưu đãi về y tế, chăm sóc sức khỏe cho thương binh.
SV: Vũ Văn Chương GVHD: PGS. TS. Trần Thị Thu
22
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Về công tác chăm sóc sức khoẻ cho TB những năm gần đây Đảng
và Nhà nước đã ban hành chính sách ưu đãi về kinh tế. Theo quy định
thương bệnh binh, những người được hưởng những chính sách như TB
MSLĐ từ 21% trở lên được cấp sổ bảo hiểm y tế, khám chữa bệnh định kỳ.
Những năm qua phòng NV-LĐTB&XH huyện cũng đã làm tốt những
chính sách của Đảng và Nhà nước đối với các GĐTB, thể hiện sự quan tâm
chăm sóc của các cấp ngành lãnh đạo ở địa phương đối với các đối tượng
này. Qua khảo sát tại địa bàn đã cho ta thấy tình trạng sức khoẻ của cácTB.
Bảng 2.5. Mức độ tình trạng sức khoẻ của thương binh.
Mức độ ốm đau của thương binh Số hộ Tỷ lệ(%)
Thường xuyên 784 64,73
chưa làm tốt như: công tác giám định lại mức thương tật cho TB chưa
nhiều so với mong muốn của họ.
2.3.4. Chính sách ưu đãi về giáo dục đối với con thương binh.
Chính sách ưu đãi về nhà ở là một trong những chính sách quan
trọng mà con em của GĐCS nói chung và con em GĐTB nói riêng. Trong
thực tế thì GĐTB gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế cũng như những điều
kiện khác nên việc học hành, giáo dục cho con em TB được xã hội rất
quan tâm. Các chế độ ưu đãi giáo dục và đào tạo với con TB luôn được sửa
đổi cho phù hợp với tình hình phát triển chung của đất nước. Trong chế độ
đãi ngộ về giáo dục và đào tạo đối với con TB, căn cứ vào tỷ lệ thương tật
của TB và cấp học khác nhau để có mức độ ưu đãi cho phù hợp. Theo quy
định, đối với TB bị MSLĐ từ 61% trở lên thì con em họ được miễn học phí
và các khoản học phí khác, giảm 50% học phí và các khoản đóng góp khác
cho con em TB MSLĐ từ 21% -60%. Ngoài chế độ miễn giảm học phí con
em TB bị MSLĐ từ 81% trở lên còn được trợ cấp 1 lần 1 khoản tiền tuỳ
theo cấp học với các mức: 60.000đồng đối với học sinh khi học trường
Mầm non, 90.000đồng với học sinh học Tiểu học, 120. 000đồng đối với
SV: Vũ Văn Chương GVHD: PGS. TS. Trần Thị Thu
24
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
học sinh khi đi học trường PTCS hoặc trường PTTH. Ngoài ra, học sinh,
sinh viên thuộc diện chính sách đang học các trường đào tạo của Nhà nước:
Đại học, Cao đẳng, THCN, Dạy nghề, Dự bị đại học, Dân tộc nội trú mà
không hưởng lương hoặc sinh hoạt phí được ưu tiên trong xét tuyển, được
miễn giảm học phí, được trợ cấp hàng tháng với mức 180.000đ/tháng con
TB MSLĐ từ 61% -80%, trợ cấp 220.000đ/tháng cho conTB mất sức lao
động từ 81% trở lên. Theo số liệu phòng NV-LĐTB & XH ta có:
Bảng 2.6. Phân loại con em thương binh theo học ở các trường học.
Tên trường Số người Tỷ lệ (%)
Đại học 11 8,2