Tác động của kinh tế thị trường đến gia đình hạt nhân Việt Nam. Qua khảo sát ở huyện Đông Anh - Hà Nội - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU…………………………………………………………………… 1
Chương 1. LÍ LUẬN CHUNG VỀ GIA ĐÌNH, GIA ĐÌNH HẠT NHÂN,
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG ĐẾN GIA ĐÌNH HẠT NHÂN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY…….8
1.1. Lí luận chung về gia đình, gia đình hạt nhân và kinh tế thị trường…… 8
1.1.1. Lí luận chung về gia đình, gia đình hạt nhân………………………… 8
1.1.2. Kinh tế thị trường và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa…………………………………………………………………… … 19
1.2. Những tác động tích cực và tiêu cực của kinh tế thị trường đến gia đình
hạt nhân Việt Nam………………………………………………… ……….26
1.2.1. Tác động tích cực của kinh tế thị trường đến gia đình đình hạt
nhân……………………………………………………………………… 27
1.2.2. Tác động tiêu cực của kinh tế thị trường đến gia đình hạt nhân hiện
nay:……………………………………………………………………… …35
Chương 2. TÁC ĐỘNG CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ĐẾN GIA ĐÌNH HẠT NHÂN Ở ĐÔNG ANH-
HÀ NỘI.THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP……………………………… 51
2.1. Một số nét khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện Đông
Anh………………………………………………………………………… 51
2.2. Gia đình hạt nhân ở Đông Anh và tác động của kinh tế thị trường đến gia
đình hạt nhân ở Đông Anh- Hà Nội……………………………………….…55
2.2.1. Một số nét khái quát về gia đình hạt nhân ở Đông Anh……… …… 55
2.2.2. Tác động của kinh tế thị trường đến gia đình hạt nhân ở Đông
Anh……………………………………………………………………… …59
2.3. Một số vấn đề đặt ra trong xây dựng gia đình hạt nhân với điều kiện kinh
tế thị trường ở Đông Anh và những giải pháp để hạn chế mặt tiêu cực, phát


MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi thân yêu để nuôi dưỡng, giáo dục
nhân cách con người… Từ xưa đến nay, gia đình luôn được các cá nhân, các
giai cấp, các chế độ xã hội quan tâm. Trong quá trình phát triển của lịch sử,
gia đình có sự tồn tại và biến đổi gắn liền với quá trình vận động, biến đổi của
lịch sử, từ chế độ xã hội này sang chế độ xã hội khác.
Sự chuyển hướng cơ chế quản lý nền kinh tế nước ta từ nền kinh tế tập
trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa đã và đang mang đến những thay đổi tích cực cho sự phát triển kinh tế,
văn hóa, xã hội của đất nước và cho cả từng gia đình, từng con người. Cùng
với những cơ hội đang thúc đẩy sự tiến bộ của gia đình Việt Nam thì quá trình
đổi mới và hội nhập quốc tế cũng đang tạo cho gia đình Việt Nam nhiều thách
thức, biến động và bất trắc, có nguy cơ xâm hại và làm mai một những giá trị
truyền thống tốt đẹp của gia đình truyền thống. Ở nhiều nơi, nhất là ở những
vùng đang trong quá trình đô thị hóa, gia đình có những dấu hiệu của sự
khủng hoảng, những giá trị tốt đẹp của gia đình truyền thống đang bị lấn át
bởi sự thao túng của đồng tiền, của lối sống lai căng, thiếu văn hóa. Tình
trạng ly hôn có xu hướng tăng cao, sống chung không kết hôn, tình trạng trẻ
em nghiện hút, tệ nạn mại dâm, tình dục đồng giới, bạo lực gia đình, ngoại
tình…đang tấn công vào gia đình từ nhiều phương diện khác nhau. Có một
thực tế đặt ra, nhiều gia đình đang lúng túng trong việc nuôi dạy, giáo dục con
cái, hướng con cái vào các giá trị cổ truyền thì xem ra lỗi thời, không thích
hợp; hướng con cái vào các giá trị hiện đại thì chưa được xác định rõ ràng…
nhiều gia đình chỉ biết dạy con theo kinh nghiệm của mình, bộ phận khác lại
hướng con cái theo suy nghĩ, lối sống hiện đại đang được du nhập vào nước ta
thông qua quá trình hội nhập quốc tế. Bên cạnh đó, không ít gia đình lại phó
hội,1996; “Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới” của GS. Lê
Thi, NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002;“Suy nghĩ về việc xây dựng chiến
lược phát triển gia đình hiện nay” của Lê Thị Quý, tạp chí cộng sản, số 30-
2003;“Cuộc sống và biến động của hôn nhân gia đình Việt Nam hiện nay”
của GS. Lê Thi, NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007;“Gia đình học” của
Đặng Cảnh Khanh- Lê Thị Quý, NXB. Chính trị- hành chính, Hà Nội, 2009…
Qua các công trình này, các tác giả đã khái quát một cách có hệ thống về sự
biến đổi quy mô, cấu trúc, chức năng của gia đình…trong công cuộc đổi mới
và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay.
Nhóm vấn đề quan hệ giới và sự bất bình đẳng, bạo lực gia đình, có một
số công trình như:“Một số vấn đề về bạo lực gia đình hiện nay” của Lê Thị
Quý, tạp chí khoa học và phụ nữ, số 4-1991;“Bất bình đẳng nam nữ nhìn từ
góc độ lịch sử” của Lê Thị Quý, tạp chí khoa học về phụ nữ, số 32-
1998;“Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới Việt Nam”. NXB. Phụ nữ, Hà
Nội, 1998;“Bạo lực gia đình- bất bình đẳng trong quan hệ giới ” của Lê Thị
Quý, tạp chí khoa học về phụ nữ, số 42- 2000; “Bạo lực gia đình- một sự sai
lệch giá trị”, NXB. Khoa học xã hội, 2007…Qua các công trình này, các tác
giả đã chỉ ra thực trạng, nguyên nhân, ảnh hưởng và hậu quả của sự bất bình
đẳng giữa các thành viên, nạn bạo lực đang diễn biến nghiêm trọng, tác động
xấu đến gia đình và xã hội ở nước ta hiện nay.
Nhóm vấn đề tiếp cận và nghiên cứu gia đình dưới góc độ văn hóa, đạo
đức có một số công trình như:“Nho giáo và gia đình”, NXB.Khoa học xã hội,
Hà Nội,1995;“Xây dựng gia đình văn hóa trong sự nghiệp đổi mới”,
NXB.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997;“Văn hóa gia đình và xây dựng gia
đình văn hóa trong thời kì hội nhập quốc tế” của thạc sĩ Trần Thị Tuyết Mai, tạp chí cộng sản, số 161-2008… Qua các công trình này, các tác giả đã khái
quát được những giá trị văn hóa của gia đình, chỉ ra sự cần thiết phải xây
dựng văn hóa gia đình và gia đình văn hóa ở Việt Nam hiện nay.

Luận văn làm rõ những tác động của kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa đến gia đình hạt nhân ở Việt Nam
Khảo sát những tác động của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa đến gia đình hạt nhân ở huyện Đông Anh- Hà Nội
Nêu lên một số giải pháp để phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực
của kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, để xây dựng gia đình hạt nhân
ngày càng tốt đẹp.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- LêNin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà
nước về vấn đề gia đình, xây dựng gia đình mới xã hội chủ nghĩa.
Dựa trên những công trình của những học giả khác nhau về vấn đề gia
đình.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng: phương pháp logic- lịch sử,
phân tích- tổng hợp, đối chiếu- so sánh. Đồng thời sử dụng một số phương
pháp cụ thể, riêng biệt của xã hội học, tâm lý học, đạo đức học trong những
trường hợp tương ứng, cần thiết. 5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu tác động của kinh tế thị trường đến gia đình hạt nhân Việt
Nam.
5.2 Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi nghiên cứu: Luận văn làm rõ tác động của kinh tế thị trường

Chương 1. Lý luận chung về gia đình, gia đình hạt nhân, kinh tế thị
trường và tác động của kinh tế thị trường đến gia đình hạt nhân ở nước ta hiện
nay
1.1 Lý luận chung về gia đình, gia đình hạt nhân và kinh tế thị trường
1.2 Tác động của kinh tế thị trường đến gia đình hạt nhân ở Việt Nam
hiện nay.
Chương 2. Tác động của kinh tế thị trường đến gia đình hạt nhân ở Đông
Anh- Hà Nội. Thực trạng và giải pháp.
2.1 Một số nét khái quát đặc điểm kinh tế- xã hội của huyện Đông Anh.
2.2 Gia đình hạt nhân ở Đông Anh và tác động của kinh tế thị trường đến
gia đình hạt nhân ở Đông Anh.
2.3 Một số vấn đề đặt ra trong xây dựng gia đình hạt nhân với điều kiện
kinh tế thị trường ở Đông Anh và những giải pháp để hạn chế mặt tiêu cực,
phát huy mặt tích cực của kinh tế thị trường trong xây dựng gia đình hạt nhân
ở Đông Anh.

Chương 1
LÍ LUẬN CHUNG VỀ GIA ĐÌNH, GIA ĐÌNH HẠT NHÂN, KINH
TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐẾN GIA ĐÌNH HẠT NHÂN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.
1.1. Lí luận chung về gia đình, gia đình hạt nhân và kinh tế thị trường
1.1.1. Lí luận chung về gia đình, gia đình hạt nhân
* Khái niệm gia đình
Gia đình là một phạm trù lịch sử, thay đổi và phát triển cùng với sự thay

vật chất, để tương trợ nhau, cùng làm kinh tế chung và nuôi dạy con cái”[40,
tr.15- 16]
Nghiêng về góc độ tâm lý, học Ngô Công Hoàn đã đưa ra định nghĩa:
“gia đình là một nhóm nhỏ xã hội, có quan hệ gắn bó về hôn nhân hoặc huyết
thống, tâm sinh lý, có chung các giá trị vật chất, tinh thần, ổn định trong các
thời điểm lịch sử”[13, tr.269]
Tổng hợp và toàn diện hơn, tác giả Lê Thi cho rằng: “khái niệm gia đình
được dùng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên cơ sở quan hệ hôn nhân và
quan hệ huyết thống, nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó và cùng chung
sống(cha mẹ, con cái, ông bà, họ hàng nội ngoại). Đồng thời, gia đình cũng có
thể bao gồm một số người được gia đình nuôi dưỡng, tuy không có quan hệ
huyết thống. Các thành viên gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và
quyền lợi( kinh tế, văn hóa, tình cảm), giữa họ có những ràng buộc về mặt
pháp lý, được nhà nước thừa nhận và bảo vệ(được ghi rõ trong luật hôn nhân
và gia đình của nước ta). Đồng thời, trong gia đình có những quy định rõ ràng
về quyền được phép và những cấm đoán trong quan hệ tình dục giữa các
thành viên”[37, tr.20- 21] Khái niệm gia đình được ban hành trong Luật hôn nhân gia đình năm
2000 nước ta xác định: “gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do
quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát
sinh quyền lợi và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo luật định”[21, tr.12]
Có lẽ, nghiên cứu về gia đình nói chung, định nghĩa gia đình nói riêng
còn nhiều vấn đề cần tìm hiểu thêm. Nhìn nhận gia đình từ phương diện của
chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa học, theo tôi, gia đình là một cộng đồng
người đặc biệt được hình thành, phát triển và củng cố bởi các mối quan hệ cơ
bản là hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng. Các thành viên của gia đình có
những giá trị vật chất, tinh thần chung, gắn bó với nhau bởi trách nhiệm,
quyền lợi, nghĩa vụ nhằm đạt mục tiêu cao nhất là nuôi dưỡng các thành viên,

đưa đến những hình thức mang sắc thái tiến bộ hơn cho gia đình. (gia đình
cùng dòng máu, gia đình pu-na-lu-an, gia đình cặp đôi…). Bước sang xã hội
có chế độ tư hữu và giai cấp, hình thức gia đình một vợ một chồng ra đời. Các
xã hội có đối kháng giai cấp (chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa)
đã làm cho gia đình một vợ một chồng “không được trọn vẹn” và có những
sắc thái khác nhau. Quá trình xây dựng xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa,
dần tạo nên những gia đình mớimột vợ một chồng “trọn vẹn”, có khả năng thể
hiện đầy đủ vị trí xứng đáng của mình đối với sự phát triển của xã hội
Như vậy, gia đình là sản phẩm của lịch sử. Nhưng với tư cách là tế bào
của xã hội, gia đình tác động tích cực đến tiến trình phát triển của xã hội.
Đúng như Ph.Ăngghen nhận định: “Theo quan điểm duy vật, nhân tố quyết
định trong lịch sử, quy cho cùng, là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực
tiếp. Nhưng bản thân sự sản xuất đó lại có hai loại. Một mặt, là sản xuất ra tư
liệu sinh hoạt, ra thức ăn, quần áo; mặt khác, là sự sản xuất ra bản thân con
người, là sự truyền nòi giống. Những thiết chế xã hội, trong đó những con người của một thời đại lịch sử nhất định và của một nước nhất định đang
sống, là do hai loại của sản xuất đó quyết định: một mặt là do trình độ sự phát
triển của lao động và mặt khác là do trình độ phát triển của gia đình”[22,
tr.26]. Nhận định đó cho thấy rõ vai trò rất to lớn của gia đình đối với xã hội.
Như vậy có thể thấy mối quan hệ giữa gia đình và xã hội là mối quan hệ
biện chứng. Muốn xây dựng gia đình tiến bộ chúng ta phải quan tâm đến các
chính sách kinh tế, chính sách xã hội, ngược lại để xã hội phát triển chúng ta
không thể không chú ý đến vai trò và tác động của gia đình.
* Khái niệm gia đình hạt nhân
Gia đình Việt Nam hiện nay có thể có hai thế hệ cùng chung sống, cũng
có thể có nhiều thế hệ cùng chung sống. Trong điều kiện của nền kinh tế thị
trường hiện nay, về nhiều phương diện khác nhau, ở nước ta gia đình có hai
thế hệ cùng chung sống chiếm tỷ lệ khá lớn trong dân cư. Gia đình hai thế hệ

Có thể rút ra: “Hộ” không phải là gia đình nhưng có thể đại diện cho gia
đình về mặt số học trong tính toán thống kê, điều tra xã hội về gia đình. Nhìn
chung trong tuyệt đại đa số các trường hợp thì hộ và gia đình là trùng hợp.
Song cũng còn nhiều trường hợp hộ và gia đình không phải là một. Ví dụ hiện
nay có những hộ mà con cái đã trưởng thành, đã có kinh tế riêng, sinh hoạt
riêng nhưng vẫn đăng ký chung trong một hộ khẩu. Hoặc hiện nay, nhiều
người ở nông thôn lên các thành phố lớn làm việc, chưa có nhà vì vậy chưa
đăng ký được hộ khẩu, do vậy họ có thể đăng ký vào hộ khẩu của người thân
như: cô, dì, chú, bác…Trong trường hợp này, hộ trùng với hộ khẩu nhưng
không phải là một gia đình.
* Ưu thế của gia đình hạt nhân
Sự chuyển tiếp từ gia đình truyền thống sang gia đình hiện đại đã bắt đầu
từ lâu, trước hết ở các thành thị. Trong thời gian gần đây quá trình này được đẩy nhanh chưa từng thấy và lan ra cả các vùng nông thôn rộng lớn; từ chỗ
gia đình là một đơn vị sản xuất nhỏ( chủ yếu là nông nghiệp và thủ công
nghiệp), chỉ duy trì chức năng kinh tế trong lĩnh vực thu nhập và tiêu dùng; từ
chỗ gia đình lớn kiểu gia trưởng, dần dần chuyển sang gia đình hạt nhân.
Trong những năm qua kinh tế xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi, ảnh hưởng
đến sự biến đổi của gia đình Việt Nam. Xu hướng hạt nhân hóa gia đình ở
Việt Nam có chiều hướng gia tăng vì nhiều ưu điểm và lợi thế của nó. Sự gia
tăng của gia đình hạt nhân có thể lý giải do một số nguyên nhân sau:
Một là, điều kiện kinh tế- xã hội đã thay đổi, tư liệu sản xuất đã phần lớn
thuộc về xã hội, nên sự ràng buộc về kinh tế gia đình không còn chặt chẽ như
trước. Trong kinh tế thị trường, tính trách nhiệm trong công việc tăng lên, sự
nhạy bén trong sản xuất kinh doanh được đặt ra, do vậy quy mô gia đình nhỏ
lẻ tỏ ra thích hợp hơn. Trước đây, các gia đình truyền thống rất trọng các gia
đình lớn- nhiều thế hệ sinh sống. Điều này không chỉ được coi là phúc, là
vượng, là sự hòa thuận mà sâu xa hơn còn do yêu cầu của kinh tế- nền sản

thần không đẻ sớm, không đẻ dày, độ tuổi kết hôn có xu hướng gia tăng, cùng
với giới hạn của quy luật sinh học thì khó có thể có tới năm hoặc sáu thế hệ
cùng chung sống trong một gia đình. Thời đại hiện nay với sự phát triển của
kinh tế thị trường, của đời sống tâm sinh lý thì gia đình hạt nhân với hai thế
hệ cùng chung sống là phù hợp.
Hai là, dưới tác động của công cuộc đổi mới, các thành viên gia đình
cũng ngày càng đa dạng hóa với nhiều giai cấp, tham gia lao động trong nhiều
thành phần kinh tế…do đó thu nhập, sở thích, giờ giấc sinh hoạt khác nhau.
Vì vậy quy mô gia đình lớn với nhiều thế hệ sinh sống là không thích hợp. Ví
dụ như bố mẹ làm nông nghiệp thường mùa hè phải dậy thật sớm đi làm để
tránh nắng, trong khi đó con cháu lại đi làm xí nghiệp, làm ca kíp hay đi học, thời gian làm việc nghỉ ngơi khác nhau, do vậy gây phiền phức cho nhau. Hơn
nữa hiện nay các thành viên trong gia đình có thể có mức thu nhập khác nhau,
thậm chí có khi chênh nhau nhiều lần. Khi mức thu nhập khác nhau, nếu trong
gia đình nhiều có thế hệ hai, ba anh em trai đều có gia đình rồi sống chung
trong sự quản lý điều hành của cha mẹ cũng vô cùng phiền toái, thậm chí có
thể nảy sinh mâu thuẫn. Vì vậy quy mô gia đình nhỏ có một hoặc hai thế hệ là
phù hợp.
Ba là, gia đình hai thế hệ là phù hợp với quy luật tâm sinh lý. Ông bà,
cha mẹ, con cái có lứa tuổi khác nhau do vậy tâm sinh lý cũng có sự khác
nhau. Thế hệ những người lớn tuổi cần có sự yên tĩnh, trong khi đó thế hệ trẻ
lại sôi nổi, năng động, vì vậy sống chung dễ tạo nên sự xung đột.Ví dụ các cụ
già thích những chương trình dân ca, nhưng thế hệ trẻ lại thích nhạc rock,
những phim ảnh về tình yêu, phim hành động, phim kinh dị…Vì thế, gia đình
lớn khó có thể đáp ứng được sự phong phú của các thành viên, hơn nữa có thể
làm nảy sinh các mâu thuẫn, xung đột không đáng có. Gia đình nhỏ tỏ ra là
mô hình gia đình có nhiều ưu điểm hơn gia đình lớn. Gia đình ít thế hệ sẽ đáp
ứng tốt hơn những nhu cầu mọi mặt ngày càng tăng, những hoạt động riêng tư

Trước đây, ở Việt Nam cũng như những nước kém phát triển, với nền kinh tế
chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, tổ chức gia đình phổ biến là gia đình
mở rộng “tam, tứ, ngũ đại đồng đường”, trong đó tồn tại nhiều thế hệ các
thành viên cùng sống và làm việc với nhau. Sự phân công lao động trong gia
đình truyền thống là hết sức chặt chẽ. Mỗi người được phân công một nhiệm
vụ nào đó trong chuỗi sản xuất phù hợp với lứa tuổi, sức khỏe…Ví dụ, đàn bà
gặt lúa, đàn ông bó và vận chuyển lúa, trẻ con trông em, chăn trâu trong lúc
chờ kéo xe, hoặc mò cua bắt ốc, người già trông nhà, bếp núc, phơi phóng…
Có thể nói, câu ca dao: “Trên đồng cạn, dưới đồng sâu/ Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa” đã phản ánh khá chân thực và sinh động đời sống cũng như
sự phân công lao động trong gia đình Việt Nam xưa. Những quan hệ gần gũi
đó đã góp phần vào việc duy trì sự ổn định lâu dài của kiểu gia đình truyền
thống. Nhưng mặt hạn chế là tham gia vào quá trình kìm hãm năng lực phát
triển của cá nhân cả về trí tuệ và sự tham gia công việc xã hội. Hiện nay,
trong cơ chế thị trường các ngành nghề, các doanh nghiệp khác nhau có mức
thu nhập khác nhau, thậm chí là chênh lệch nhau nhiều lần, có khi hàng chục
lần. Để có thu nhập cao cần phải có sự nỗ lực, phấn đấu của mỗi người trong
tìm kiếm việc làm phù hợp nhu cầu, khả năng của mình, sự năng động, nhạy
bén với những biến đổi nhanh chóng của thị trường. Vì vậy gia đình hạt nhân
là phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường.
Số lượng các thành viên trong gia đình ngày càng ít đi- nghĩa là quy mô
gia đình ngày càng nhỏ dần, điều này phụ thuộc nhiều vào các yếu tố. Về sự
lựa chọn hình thức gia đình, như trình bày trên, bên cạnh gia đình lớn, thì hiện
nay xu hướng hình thành các gia đình nhỏ- gia đình hạt nhân ở nước ta ngày
càng nhiều và quy mô gia đình hiện nay còn trung bình 3 đến 4 người trong
một gia đình thành phố; 4 đến 5 người trong một gia đình đồng bằng; 4 đến 7
người trong một gia đình trung du- miền núi. Nhìn chung và cụ thể hơn thì số
gia đình từ 1-2 người chiếm 0,7%; từ 2-3 người chiếm 19,6%; từ 4-5 người

trao đổi hàng hóa trên thị trường.
Có thể nói, kinh tế hàng hóa ra đời và phát triển thì thị trường cũng xuất
hiện và phát triển, nhưng không phải hễ có thị trường là có kinh tế thị trường.
Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa, trong
đó sản xuất chủ yếu để trao đổi, gắn liền với sự phát triển ngày càng cao của
phân công lao động và trình độ chuyên môn hóa. Không gian thị trường đã được mở rộng cho sự lựa chọn, tư duy giá trị, hiệu quả trở nên phổ biến.
Trong nền kinh tế thị trường, quyền tự do, bình đẳng giữa mọi thành phần
kinh tế được tôn trọng và các chủ thể kinh tế chịu sự điều tiết của các quy luật
thị trường, thái độ ứng xử của họ là hướng vào tìm kiếm lợi ích của mình trên
thị trường theo sự dẫn dắt của giá cả.
Vậy kinh tế thị trường là kiểu tổ chức kinh tế dựa trên cơ sở đa dạng các
hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, các hình thức tổ chức sản xuất kinh
doanh.
Ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới đều chọn mô hình kinh tế thị
trường hiện đại phù hợp với những màu sắc riêng cho sự phát triển của mỗi
nước. Sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã thể hiện rõ những nét đặc
trưng riêng của nó.
Một là, có sự lựa chọn khách quan của thị trường. Trong nền kinh tế thị
trường, có ba vấn đề cơ bản do thị trường quyết định. Sản xuất cái gì? Sản
xuất như thế nào?(do giá cả, lợi nhuận mách bảo). Sản xuất cho ai?(do thu
nhập quyết định). Nguồn lực của xã hội được luân chuyển, không gian thị
trường được mở rộng cho sự lựa chọn. Sự vận động của cung- cầu và cạnh
tranh đã làm bộc lộ một cách thực chất sản phẩm gì cần sản xuất, sản xuất bao
nhiêu và các nguồn lực của xã hội cần được lựa chọn, cần sử dụng như thế
nào để sản xuất ra các sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường, hơn nữa
nguồn lực của xã hội được luân chuyển từ nơi thừa sang nơi thiếu, từ nơi có
hiệu quả thấp sang nơi có hiệu quả cao.

Sáu là, kinh tế thị trường là kinh tế mở. Nhờ tự do, mở cửa không gian
thị trường được mở rộng, thị trường thống nhất thông suốt, hòa nhập thị
trường thế giới. Nguồn lực của xã hôi được mở rộng không chỉ trong nước mà

Trích đoạn Tác động tích cực của kinh tế thị trường đến gia đình hạt nhân Tác động tiêu cực của kinh tế thị trường đến gia đình hạt nhân hiện nay Một số nét khái quát đặc điểm kinh tế xã hội của Đông Anh Một số nét khái quát về gia đình hạt nhân ở Đông Anh.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status