Hướng dẫn áp dụng sản xuất sạch hơn trong các nhà máy chế biến sữa - Pdf 13


BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI CẤP BỘ

HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG SẢN XUẤT SẠCH HƠN
TRONG CÁC NHÀ MÁY CHẾ BIẾN SỮA Chủ nhiệm đề tài: CAO XUÂN THẮNG 7840
07/4/2010

và trình độ quản lý của các nhà máy chưa cao. Các qui trình công nghệ và
tài liệu hướng dẫn sản xuất sạch hơn của các nước phát triển rất khó áp
dụng cho các nước đang phát triển do khác nhau về đặc thù sản phẩm,
công nghệ
và trình độ. Do đó, mỗi quốc gia đều phải tự xây dựng tài liệu
hướng dẫn sản xuất sạch hơn cho các ngành công nghiệp của mình nhằm
áp dụng đúng điều kiện thực tiễn của quốc gia đó.
Mặc dù tầm quan trọng của việc thực hiện sản xuất sạch hơn trong
các nhà máy công nghiệp là rất quan trọng, nhưng các tài liệu hướng dẫn
thực hiệ
n sản xuất sạch hơn cho từng ngành công nghiệp đặc thù còn rất
hạn chế. Ở Việt Nam, chỉ có một số ít ngành công nghiệp đã có tài liệu

2
hướng dẫn triển khai sản xuất sạch hơn: Ngành chế biến tinh bột sắn, dệt
may Các ngành công nghiệp chế biến khác cần phải tiếp tục xây dựng
các tài liệu hướng dẫn.
Với đặc thù ngành chế biến sữa rất phong phú về mặt chủng loại
sản phẩm, nếu chỉ thực hiện trong một năm sẽ không thể xây dựng được
tài liệu h
ướng dẫn sản xuất sạch hơn cho tất cả các nhà máy với các công
nghệ chế biến và các sản phẩm khác nhau. Trong khuôn khổ nhiệm vụ
“Hướng dẫn áp dụng sản xuất sạch hơn trong các nhà máy chế biến sữa”
này, chúng tôi xây dựng tài liệu hướng dẫn áp dụng sản xuất sạch hơn
cho các nhà máy sữa nói chung và tập trung vào hai loại sản phẩm chính
của ngành chế biến sữa ở Việt Nam.


ng dẫn áp dụng sản xuất sạch hơn. Đánh
giá cơ hội và lựa chọn giải pháp sản xuất sạch hơn được thực hiện trên tất
cả các khâu của quá trình sản xuất. Các dòng thải được xác định, các
nguyên nhân gây phát thải được xác định, từ đó đưa ra các giải pháp. Căn
cứ vào thực tế sản xuất của Việt Nam, trình độ công nghệ chung và xu thế
phát triển chung của các nhà máy, các giả
i pháp phù hợp được đưa ra.
Sau khi dự thảo tài liệu hoàn thành, nhóm tác giả đã tổ chức hội thảo, gửi
tài liệu để xin ý kiến đóng góp của các chuyên gia để hoàn thiện tài liệu.
Công tác đào tạo cán bộ đã được triển khai cho hơn mười cơ sở chế biến
sữa, tuyên truyền, gửi tài liệu cho các công ty và áp dụng tại một công ty
chế biến sữa. Kết quả bước đầu cho thấ
y, việc triển khai áp dụng sản xuất
sạch hơn tại công ty Cổ phần sữa Ba Vì là rất khả quan. Việc sử dụng tài
liệu hướng dẫn áp dụng sản xuất sạch hơn là rất hiệu quả và có giá trị
thực tiễn cao.
4
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN

+ Giảm chất thải tại nguồn:

- Quản lý nội vi: Đây là biện pháp đơn giản nhất trong các giải
pháp. Biện pháp này không đòi hỏi phải có kinh phí đầu tư và có thể thực
hiện được ngay sau khi xác định giải pháp. Một số ví dụ của quản lý nội
vi là: khắc phục các điểm rò rỉ, đóng kín van, tắt các thiết bị khi không sử
dụng…Những biện pháp thực hiện thường rất đơn giản, tuy nhiên, lại dễ
b
ị bỏ qua, do đó đòi hỏi phải có sự quan tâm của ban lãnh đạo và công tác
đào tạo cán bộ phải tốt
- Kiểm soát quá trình tốt hơn: Để đảm bảo các thông số của qui
trình sản xuất luôn luôn ở khoảng giá trị tối ưu (nhiệt độ, pH, nồng độ…)
cần phải giám sát và điều chỉnh các thông số này nhằm giữa quá trình sản
xuất luôn tối ưu về sản xuất, tiêu thụ
nguyên liệu và giảm thiểu phát thải.
Việc này đòi hỏi phải có sự quan tâm của lãnh đạo và quá trình kiểm soát
tốt.
- Thay đổi nguyên liệu: là việc thay đổi nguyên liệu đang sử dụng
sang dạng nguyên liệu khác thân thiện hơn với môi trường. Việc thay đổi
nguyên vật liệu không có nghĩa là thay đổi hoàn toàn sang một loại mới
mà có thể là thay đổi nâng cao chất lượng nguyên vật liệu.
- Cải tiến thiết bị: Là việ
c thay đổi thiết bị đã để ít gây tổn thất
nguyên vật liệu hơn. Cải tiến có thể là điều chỉnh tốc độ máy, tối ưu kích
thước kho chứa, bảo ôn bề mặt nhiệt…
- Công nghệ sản xuất mới: là việc lắp đặt sử dụng các thiết bị hiện
đại, có hiệu quả hơn. Giải pháp này đòi hỏi phải có chi phí đầu tư, do đ
ó
cần nghiên cứu kỹ trước khi thực hiện


toàn nghề nghiệp; Có các cơ hội thị trường (đặc biệt là thị trường các
nước phát triển); Có khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi; Sử
d
ụng nguyên vật liệu và năng lượng ít hơn; Tạo điều kiện thuận lợi trong
việc chứng nhận hệ thống quản lý môi trường ISO 14000; Tạo điều kiện

7
tăng sức cạnh tranh thông qua cải tiến điều kiện làm việc của nhân viên;
và giúp doanh nghiệp tuân thủ tốt hơn Luật môi trường.
4. Các bước thực hiện sản xuất sạch hơn:
Có sáu bước thực hiện sản xuất sạch hơn:
Bước 1: khởi động
- Lãnh đạo cam kết: đánh giá sản xuất sạch hơn cần có thời gian
thu thập thông tin và phát triển các giải pháp, do
đó cần phải có
sự cam kết của lãnh đạo trong triển khai
- Thành lập nhóm SXSH: nhóm này cần có kỹ năng, quyền hạn
và thời gian cần thiết. Nên có đầy đủ thành phần lãnh đạo, kế
toán, thủ khu, kỹ thuật…tốt nhất là nên có chuyên gia về SXSH
từ bên ngoài
- Liệt kê các công đoạn trong quá trình sản xuất: tổng quan toàn
bộ nhà máy, liệt kê tất cả các công đoạn từ đầu vào đến đầu ra,
có sơ đồ qui trình công nghệ chi tiết và đầy đủ, đặc biệt chú ý
đến các khâu có tính chu kì – đây là khâu dễ phát thải cao nhất.
Ghi chú rõ ràng đầu vào đầu ra để tiện theo dõi.
- Xác định và lựa chọn công đoạn lãng phí: Dựa trên sơ đồ qui
trình công nghệ để xác định các công đoạn gây lãng phí; dựa
trên cân bằng nguyên vật liệu năng lượng để xác định phạm vi
đánh giá; những công đoạn gây phát thải và lãng phí lớn cần
được

- Điều quan trọng trong sản xuất sạch hơn là phải th
ực hiện liên
tục, do đó duy trì sản xuất sạch hơn cần phải được đưa và lịch
công tác hàng ngày
- Cần thực hiện quan trắc định kì ở cấp doanh nghiệp

9
- Các kết quả quan trắc SXSH cần được báo cáo lên lãnh đạo và
thông báo cho các nhân viên
- Sau khi kết thúc, một đánh giá mới cần được bắt đầu, đây chính
là mục tiêu của SXSH

II. Tình hình áp dụng sản xuất sạch hơn trong và ngoài nước
Trong thực tế sản xuất của các ngành công nghiệp nói chung, việc
tối ưu hóa chi phí cho quá trình sản xuất chỉ tập trung vào năng suất và
thường bỏ qua khả năng phát sinh chất th
ải. Đây là quan điểm của các
nhà sản xuất, luôn mong muốn có năng suất cao cho dù tiêu tốn nhiều
nguyên liệu thô và nhiên liệu. Điều này dẫn đến gia tăng lượng phát thải
của quá trình sản xuất và ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường.
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật đóng một vai trò quan trọng
trong nhận thức và cách thức con người tác động vào môi trường.
- Trước những nă
m 50 của thế kỉ 20, chất thải chủ yếu trông chờ vào
khả năng tự làm sạch của thiên nhiên
- Những năm 60 của thế kỉ 20, một số biện pháp giảm thiểu tác hại
của chất ô nhiễm đã được áp dụng: nâng cao ống khói, pha loãng
nước thải, đưa chất thải ra ngoài phạm vi sinh sống của con người.
- Đến những năm 70 của thế kỉ 20,
đã có những bước tiến lớn trong

khích sản xuất sạch hơn ở các nước đang phát triển được đề cập một cách
chi tiết; thông tin sản xuất sạch hơn – năm 2003; Đánh giá sản xuất sạch
hơn trong ngành thịt; Thay đổi mô hình sản xuất: học tập kinh nghiệm
của các trung tâm sản xuất sạch hơn – năm 2002; Đánh giá sản xu
ất sạch
hơn trong ngành thủy sản – năm 2000; Tuyên ngôn quốc tế về sản xuất
sạch hơn: tài liệu hướng dẫn triển khai cho các công ty – năm 2002…
Năm 1994, tác giả Ralph (Skip) Luke và Ann-Christin Freij đã đưa ra
luận cứ cho thấy, việc thực hiện sản xuất sạch hơn trong công nghiệp ở
các nước đang phát triển đã đem lại cơ hội thị trường cho các nước phát
và tạo đi
ều kiện tiết kiệm năng lượng cho các nước đang phát triển. Tác
giả cũng đã đưa ra sự so sánh về xuất khẩu công nghệ xử lý sạch hơn,

11
công nghệ xử lý cuối đường ống của các nước phát triển sang các nước
đang phát triển. Báo cáo cũng đã đưa ra chi phí đầu tư để các nước đang
phát triển có thể thu được lợi nhuận mà vẫn tuân thủ các yêu cầu về môi
trường, đồng thời tiếp cận các phương án giảm thiểu phát thải một cách
truyền thống.
Năm 2006, UNEP đã công bố cuốn “Hiệp định môi trường và s
ản xuất
sạch hơn: các câu hỏi và trả lời”, trong đó một số câu hỏi thường gặp
trong thực hiện sản xuất sạch hơn và cơ chế phát triển sạch đã được đề
cập và giải đáp. Các nghiên cứu khả năng triển khai sản xuất sạch hơn tại
Romani, Trinidad & Tobago, Chile và Costa Rica đã được công bố.
Năm 2002, Osama A El-Kholy đã viết về sản xuất sạ
ch hơn trong
cuốn Bách khoa toàn thư về biến đổi môi trường toàn cầu. Trong đó, sản
xuất sạch hơn được đề cập đến như là một biện pháp tích cực nhất ngăn

thiên nhiên, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu; giảm thiểu phát thải và hạn
chế mức độ gia tăng ô nhiễm; bảo vệ và cải thiện ch
ất lượng môi trường,
sức khỏe con người và bảo đảm phát triển bền vững.
Trong những năm đổi mới và khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế
giới (WTO), các DN đã không ngừng phát triển và áp dụng SXSH nhằm
tăng cơ hội xuất khẩu, giảm thiểu chi phí sản xuất. Sau khi có Chỉ thị của
Bộ Công nghiệp (cũ), các Tập đoàn, Tổng Công ty, Công ty, các Sở Công
nghiệp đ
ã mở rộng việc nghiên cứu nội dung SXSH, phổ biến đến tận các
cơ sở; chỉ đạo xây dựng và triển khai thực hiện áp dụng SXSH; thường
xuyên chỉ đạo tổ chức kiểm tra, giám sát và đánh giá hiệu quả việc áp
dụng SXSH tại các cơ sở sản xuất công nghiệp. Có thể nói các doanh
nghiệp áp dụng SXSH đã tác động đến quá trình sản xuất, đến sản phẩm
và dịch vụ
ở Việt Nam nói chung. Trong quá trình SXSH, các doanh
nghiệp hiểu rằng chưa có điều kiện về tài chính để thay đổi công nghệ thì
SXSH chỉ cần cải tiến quản lý trong nội bộ nhà máy như tránh thất thoát
và rò rỉ nguyên vật liệu, xây dựng hệ thống thải khép kín, loại trừ các
nguyên liệu độc hại, giảm số lượng và tính chất độc hại của các chất thải
ngay tại nguồn thải. Đối vớ
i sản phẩm: SXSH bao gồm việc thiết kế lại

13
sản phẩm để có thể giảm thiểu lượng tài nguyên tiêu thụ, giảm các ảnh
hưởng tiêu cực trong suốt chu kỳ sống của sản phẩm ngay từ khâu thiết
kế đến thải bỏ. Đối với dịch vụ: SXSH dựa vào các yếu tố về môi trường
trong thiết kế và phát triển các dịch vụ. Thực tế áp dụng SXSH ở các nhà
máy, xí nghiệp của ngành hóa chất, ngành giấy và nhiều ngành khác
đã

cắt giảm 1.300 tấn khí CO2 và 5 tấn bụi than. Công ty cổ phần giày Vĩnh
Phú áp dụng 22 giải pháp, tiết kiệm được 317 triệu đồng/năm, giảm 11,5
tấn chất thải rắn và 5% lượng điện tiêu thụ , cải thiện được môi trường
làm việc.
Ở Hà Nội, Hải Phòng, Ðà Nẵng, Bình Dương triển khai các giải pháp
SXSH đối với các ngành gốm sứ, chế biến mủ cao-su, giấy tái sinh, chế
bi
ến thủy sản, thép, dệt nhuộm cũng đạt nhiều kết quả khả quan. Cục
Bảo vệ môi trường nhận xét: việc triển khai SXSH tại các DN trong thời
gian qua cho thấy hiệu quả rõ ràng và dễ dàng xác định hơn nhiều so với
việc áp dụng các giải pháp quản lý môi trường khác. Hầu hết các DN khi
áp dụng SXSH đều giảm được từ 20% -30% lượng chất thải, riêng các
DN vừa và nhỏ tiết kiệm được trên 2 t
ỉ đồng/năm.
Theo Ngân hàng Thế giới, ngành công nghiệp nước ta đang nằm trong
nhóm đứng cuối thế giới về hiệu suất sử dụng năng lượng. Kết quả
nghiên cứu nhiều ngành công nghiệp như nhựa, sành sứ, xi măng cho
thấy nếu áp dung biện pháp SXSH, tiết kiệm năng lượng trong ngành
Công nghiệp có thể đạt tới trên 20- 30%, có thể giảm bớt chi phí tới
10.000 tỷ đồng/ năm.
N
ăm 2000, Trung tâm sản xuất sạch Việt Nam đã công bố Tài liệu
hướng dẫn sản xuất sạch hơn, trong đó các khái niệm và ý tưởng về sản
xuất sạch hơn đã được đề cập, các ví dụ về cơ hội sản xuất sạch hơn, các
lợi ích của sản xuất sạch hơn và cách thực hiện đánh giá sản xuất sạch
hơn đã đượ
c chỉ rõ.
Năm 2003, tác giả Nguyễn Thị Bé Phúc đã công bố các khái niệm cơ
bản về sản xuất sạch hơn. Tác giả đã đánh giá sản xuất sạch hơn là một
công cụ quản lý, công cụ kinh tế có hiệu quả. Ngoài ra, sản xuất sạch hơn

tiết kiệm được từ 5-8% mức tiêu thụ năng lượng, nguyên liệu, nhiên liệu,
vật liệu trên đơn vị sản phẩm; 70% các Sở Công Thương có cán bộ
chuyên trách đủ năng lực hướng dẫn áp dụng SXSH cho các cơ sở sản
xuất công nghiệp. Từ năm 2016 đến năm 2020, sẽ có 50% cơ sở áp dụng
và mức tiết kiệm năng lượng; nguyên, nhiên, vật liệu đạt 8-13% đơ
n vị

16
sản phẩm. Trong thời gian này, 90% doanh nghiệp vừa và lớn có bộ phận
chuyên trách về SXSH; 90% các Sở Công Thương có cán bộ chuyên
trách đủ năng lực hướng dẫn về vấn đề SXSH.
Để đạt mục tiêu trên, 5 dự án lớn sẽ được các bộ, ngành, địa phương
phối hợp triển khai đến năm 2020. Đó là các dự án về nâng cao nhận
thức, năng lực; xây dựng, vận hành cơ sở dữ li
ệu và trang thông tin điện
tử; hỗ trợ kỹ thuật; hoàn thiện mạng lưới các tổ chức hỗ trợ sản xuất sạch;
hoàn thiện cơ chế chính sách về tài chính để tăng cường áp dụng SXSH
trong công nghiệp. Bên cạnh đó, nội dung SXSH được lồng ghép vào
chiến lược, quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp; mạng lưới cấp
giấy chứng nhận áp dụng SXSH trong công nghiệp cho các cơ sở sả
n xuất
công nghiệp theo nguyên tắc tự nguyện được xây dựng. Các viện nghiên
cứu, trường đại học sẽ tăng cường liên kết với cơ sở sản xuất công nghiệp
trong việc nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng các công nghệ phục vụ
SXSH trong công nghiệp. Nhà nước hỗ trợ tín dụng đối với các dự án
SXSH trong công nghiệp; khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và
ngoài nước đầu tư vào các hoạt động nghiên c
ứu, chuyển giao, ứng dụng
công nghệ thân thiện với môi trường phục vụ SXSH trong công nghiệp…


số liệu. 18
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 1. Nội dung 1: Khảo sát tình hình chế biến sữa
Khảo sát hiện trạng sản xuất sữa tại một số cơ sở chế biến sữa có
tính chất đại diện và các sản phẩm sữa chủ yếu. Chọn ra 2 sản phẩm
chính để xây dựng hướng dẫn sản xuất sạch hơn.
Trong nội dung này, đề tài thực hiện khảo sát hiện trạng ngành
công nghiệp chế
biến sữa tại một số nhà máy có tính chất đại diện, các
sản phẩm sữa chủ yếu đang được sản xuất ở Việt Nam. Qua đó, lựa chọn
ra 2 loại sản phẩm chủ đạo để xây dựng hướng dẫn sản xuất sạch hơn.
Khảo sát qui trình công nghệ để đưa ra qui trình công nghệ sản xuất
chung.
Trong những năm gần đây, ngành công nghiệp chế
biến sữa của
Việt Nam ngày càng có vị trí quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa

Số doanh nghiệp 13 39 49 58 24,57 21,95
(Tổng hợp nguồn Tổng cục thống kê)
So với sản lượng sản phẩm sữa toàn ngành năm 2000, đến năm
2008 sản lượng tất cả các sản phẩm đều tăng, cá biệt như sản phẩm pho-
mat tăng 60 lần, sữa tiệt trùng tăng 6 lần, sản phẩm bơ và sữa chua tăng
gần 3 lần, sữa đặc và kem tăng khoảng 1,7 lần. Số liệu chi ti
ết thể hiện
trong Bảng 3.2
Bảng 3.2 Sản lượng sản phẩm sữa Việt Nam
Sản lượng
Tăng bình quân
(% năm)
Sản phẩm Đơn vị
2000 2005 2007 2008
2001-
2005
2001-
2008
Sữa tươi tiệt
trùng
1000 lít 72.508 208.315 430.503 439.113 23,5 25,25
Sữa chua 1000 lít 27.524 60.675 75.093 80.349 17,13 14,33
Sữa bột các
loại
Tấn 40.078 49.924 40.127 46.500 4,49 1,88

Tấn

2 6,4 6,5 6 26,19 14,72
Pho-mat

thực phẩm và nước giải khát Dutch Lady Việt Nam có nhãn hiệu Dutch
Lady cho sản phẩm sữa bột và Yomost cho sản phẩm sữa chua. Công ty
cổ phần giống bò sữa Mộc Châu có nhãn hiệu Mộc Châu, Công ty cổ
phần sữa Quốc tế có nhãn hiệu Ba Vì cho sản phẩm sữa tươi tiệt trùng.
Công ty cổ phần sữa Hà Nội có nhãn hiệu IZZI…
Theo số liệu điều tra, năm 2008 sản lượng thự
c tế của các sản
phẩm sữa đặc có đường các loại của công ty cổ phần giống bò sữa Mộc
Châu đạt 197 ngàn lít và 11.552 ngàn lít sữa nước các loại. Dự kiến năm
2009, sữa đặc có đường các loại tăng lên 212 ngàn lít và 11.552 ngàn lít
sữa nước các loại. Trong đó, tập trung đầu tư cho chế sản phẩm sữa tiệt
trùng. Hiện tại, công suất của nhà máy đạt 40 tấn/ngày.
Theo số liệu thống kê c
ủa Cục Chăn nuôi – Bộ Nông nghiệp và
phát triển chăn nuôi, hiện nay, sữa tươi nguyên liệu nội địa cung cấp cho
ngành sữa Việt Nam chỉ đáp ứng khoảng 25-27% tổng nhu cầu nguyên
liệu sữa toàn ngành. Do dó, sử dụng sữa hoàn nguyên để sản xuất sản
phẩm sữa vẫn là xu hướng trong thời gian tới.
Số liệu điều tra tại nhà máy Yakult Việt Nam cho thấy, mỗi năm
nhà máy sử dụ
ng 12 tấn sữa bột, 75 tấn đường tinh luyện và 3 tấn đường
glucoza. Công suất sản xuất sữa chua năm 2008 đạt 275.3 ngàn lít/năm và
ước tính năm 2009 sẽ đạt 357.89 ngàn lít/năm.

21
Năm 2008, công ty TNHH thực phẩm F&N Việt Nam đã sản xuất
đạt 4.662 ngàn lít sữa nước các loại và 191 ngàn lít sữa chua các loại.
Trong đó công suất thực sản xuất sữa nước tiệt trùng đạt 3.710 ngàn
lít/năm và 150 ngàn chau sữa nước thanh trùng/năm.
Báo cáo kết quả điều tra tại công ty cổ phần sữa Việt Nam

cổ phần cơ điện lạnh Eresson) cung cấp. Năm 2008, công ty cổ phần thực
phẩm dinh dưỡng Đồng Tâm (Nutifood) đã đầy tư dây chuyền công nghệ
tự động hoàn toàn từ khâu vệ sinh, tiệt trùng lon đến khâu thành phẩm.
Nhìn chung, thiết bị máy móc và công nghệ của các nhà máy qui mô lớn
là tương đối tốt, hiện đại và đồng bộ, còn các nhà máy qui mô vừa và nhỏ
thì vẫn còn ch
ưa đồng bộ, thao tác thủ công nhiều. Do đó, qui trình công
nghệ bị ảnh hưởng bởi thao tác của công nhân vận hành. Cơ hội áp dụng
sản xuất sạch hơn ở các cơ sở này là rất tiềm năng.
Về công nghệ, giống như trên thế giới, sản xuất sữa tiệt trùng và
thanh trùng ở các nhà máy sữa ở Việt Nam có công nghệ tương đương
nhau. Với các sản phẩm sữa chua, Việt Nam áp d
ụng nhiều công nghệ
khác nhau bao gồm cả lên men tự nhiên từ các chủng vi khuẩn lactic, bổ
sung enzim, phụ gia…Ở các nhà máy lớn, hệ thống thiết bị hiện đại hỗ
trợ quá trình lên men tốt hơn với các thông số qui trình công nghệ được
điều khiển tự động. Các chủng lên men sữa chua, phụ gia của các công
ty là khác nhau và chủ yếu nhập từ các nước Pháp, Đan Mạch, Hà Lan để
tạo ra các hương vị sản ph
ẩm mang tính riêng biệt.
Về thực trạng quản lý chất lượng sản phẩm, các công ty lớn làm tốt
hơn các công ty có qui mô vừa và nhỏ. Năm 1999, Vinamilk đã áp dụng
hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9002 và hiện đang áp
dụng phiên bản ISO 9001:2000. Công ty TNHH thực phẩm và nước giải
khát Dutch Lady đã được công nhận quản lý chất lượng theo ISO 9001
năm 2000 và HACCP năm 2002. Công ty cổ phần sữa Hà Nội nhận
chứng chỉ
ISO 9001:2000 và chứng chỉ HACCP năm 2004. Bên cạnh đó,
các doanh nghiệp qui mô vừa và nhỏ thường tự công bố chất lượng theo
tiêu chuẩn cơ sở. Việc kiểm soát chất lượng nguyên liệu đầu vào còn ít

24
2. Nội dung 2: Đánh giá cơ hội và lựa chọn các giải pháp sản xuất
sạch hơn trong các nhà máy chế biến sữa
Trên cơ sở các thông tin thu nhận được từ quá trình khảo sát, tiến
hành đánh giá cơ hội và lựa chọn các giải pháp sản xuất sạch hơn trong
các nhà máy chế biến sữa.
2.1. Cơ hội SXSH ở các công đoạn chính
2.1.1. Các cơ hội SXSH liên quan đến khu vực tiếp nhận sữa t
ươi
Mô tả tóm tắt:

Sữa bò tươi được thu gom ở các trạm và vận chuyển về nhà máy
bằng hệ thống xe chuyên dụng. Một vài nhà máy chế biến sữa quy mô
nhỏ thường chứa đựng sữa vào các loại bình bằng nhôm hoặc inox
khoảng 25 – 50 lít. Sau khi tập trung về nhà máy, sữa được kiểm tra các
chỉ tiêu để đảm bảo an toàn chất lượng, sau đó lọc tách tạp nhiễm, phân
loại và chuyển vào kho bảo quản lạnh. Nguồn nguyên liệu
đầu vào và
dòng thải đầu ra tại khu vực tiếp nhận sữa nguyên liệu được trình bày
trong hình 1.


Điện
Nước thải
Sữa tổn thất
Cặn thô…
Nước thải
Hình 1. Đầu vào và đầu ra của khu vực tiếp nhận sữa

Trích đoạn Nội dung 4: Đào tạo cán bộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status