SỰ BIẾN ĐỔI NHIỆT ĐỘ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN ĐỜI SỐNG CỦA THỦY SINH VẬT - Pdf 13

Sự biến đổi nhiệt độ và ảnh hưởng của nó đến đời sống của thủy sinh vật
PHẦN I: MỞ ĐẦU

Hiện nay Trái Đất và tình hình của nó là vấn đề được thế giới nói chung và việt nam
nói riêng quan tâm rất nhiều, tình hình các loại loại môi trường ngày càng bị ô nhiễm,
các loại tài nguyên bị khai thác cạn kiệt, các khu công nghiệp, nhà máy,xí nghiệp mọc
lên như nấm, các loại phương tiện giao thông dày đặc…Tất cả đã góp gây ra sự nóng
lên toàn cầu.
Một trong những nguyên nhân chính gây ra sự nóng lên toàn cầu là sự tăng lên
không ngừng của các loại khí gây hiệu ứng nhà kính được tạo ra do quá trình sản xuất
cũng như sinh hoạt của con người. Với sự tăng lên không ngừng của các loại khí gây
hiệu ứng nhà kính, Trái đất trở thành một quả cầu giữ nhiệt, và từ đó nhiệt độ của nó
không ngừng tăng lên theo thời gian. Hiện tượng tăng nhiệt độ trung bình của không
khí và các đại dương trên Trái đất mà người ta đã quan sát được trong các thập kỷ gần
đây. Trong thế kỉ 20, nhiệt độ trung bình của không khí gần mặt đất đã tăng 0,6 ± 0,2
°C (1,1 ± 0,4 °F). Tổ chức liên chính phủ về biến đổi khí hậu hay IPCC nghiên cứu
sự biến đổi các hiện tượng tự nhiên như bức xạ mặt trời và núi lửa tạo ra hầu hết sự
ấm lên từ giai đoạn tiền công nghiệp đến năm 1950 và có sự ảnh hưởng lạnh đi sau
đó. IPCC cũng nghiên cứu sự gia tăng nồng độ khí nhà kính sinh ra từ hoạt động của
con người như đốt nhiên liệu hóa thạch và phá rừng làm cho nhiệt độ Trái Đất tăng
lên kể từ giữa thế kỷ 20.

Sự nóng lên toàn cầu đó đã ảnh như thế nào đến thủy vực và đời sống của thủy sinh
vật? Trong quá trình học tập và nghiên cứu thủy sinh học tôi tập trung nghiên cứu đề
tài “Sự biến đổi nhiệt độ và ảnh hưởng của nó đến đời sống của thủy sinh vật”.
Trong đề tài này tôi tập trung nghiên cứu tình hình nhiệt độ thủy quyển, các quy
luật biến đổi của nhiệt độ theo mùa, theo các tầng nước, sự ảnh hưởng của nhiệt độ
đến đời sống của thủy sinh vật, đến hiện tượng băng tan. Và hướng giải quyết.
Với thời gian hạn hẹp và trình độ có hạn, đề tài này không tránh khỏi những sai sót,
rất mong Thầy- Cô, đồng nghiệp và mọi người quan tâm góp ý, xin chân thành cảm
ơn!

Chế độ nhiệt trong thủy vực có tính ổn định hơn trong không khí, do có độ tỏa
nhiệt và độ thu nhiệt lớn, các lớp nước ở trên mặt và dưới sâu điều hòa nhiệt độ lẫn
nhau trong quá trình lạnh đi hay bốc hơi, làm cho nhiệt độ của cả khối nước luôn đuợc
điều hòa ở mức ổn định, ít bị biến đổi.
Giao động nhiệt độ hàng năm của các thủy vực không lớn: ở biển không quá
10
0
C – 15
0
C, ở các thủy vực nội địa không quá 30
0
C – 35
0
C tuy biên độ nhiệt độ nước
ở các thủy vực khá lớn: ở biển có thể từ -2
0
C – 36
0
C, ở nước ngọt từ 7
0
C- 75
0
C, có khi
tới 96,3
0
C.
3. Tình hình biến đổi giữa các vực nước
Chế độ nhiệt độ của nước trong thủy vực biến đổi theo ba nhân tố chủ yếu: vĩ
độ, mùa vụ và độ sâu.
Quy luật biến đổi nhiệt độ nước theo mùa

nhiệt đới xích đạo và cận nhiệt
đới), nằm rong khoảng vĩ độ 40
0
B
và 40
0
N. Nhiệt độ trung bình năm
của nước vùng này là 26-27
0
C
- Vùng cận cực (Nam và
Bắc) nằm trong khoảng vĩ độ 40-60
Nam và Bắc, nhiệt độ trung bình
năm là 13-14
0
C
- Vùng cực (Nam và Bắc),
nhiệt độ trung bình năm của nước
là O
0
C.(hình 1)
3
N 0 0 5 10 15 20 25 30
0
C
80
60
40
20
0

nước theo mùa phụ thuộc rất nhiều vào biến đổi nhiệt độ không khí theo mùa.(hình 2
và 3)
Quy luật biến đổi nhiệt độ theo độ sâu:
-Khối nước của nhiệt độ trong thủy vực- hải dương và hồ nội địa có thể chia
thành 3 tầng có đặc tính khác nhau về chế độ nhiệt:
HD: TSKH Hoàng Trọng Đại HVTH: Đỗ Thị Xuân Hương
4
0
C
35
30
25
20
15
10
X XI XII I II III IV VI Tháng
t
0
nước t
0
không khí
Hình 3: Biến đổi nhiệt độ trung bìnhcủa nước qua các tháng ở ruộng
lúa (vùng Nam Hà)
Hình 2: biến đổi nhiệt độ của nước trong ngày ở ruộng lúa (vùng Nam Hà)
Sự biến đổi nhiệt độ và ảnh hưởng của nó đến đời sống của thủy sinh vật
+ Tầng mặt: có nhiệt độ nước tương đối cao và biến đổi theo mùa rõ rệt.
+ Tầng đáy có nhiệt độ nước tương đối thấp và hầu như không biến đổi theo
mùa.
+ Tầng giữa là tầng chuyển tiếp, có nhiệt độ nước đột ngột thay đổi từ nhiệt độ
cao ở tầng mặt xuống nhiệt độ thấp ở tầng đáy. Giới hạn của mỗi tầng biến đổi tùy

độ nước theo độ sâu không lớn, chỉ
khoảng vài độ, kể cả ở những thủy vực
có độ sâu tới vài trăm mét.Ở các thủy
vực (hình 4)
Biến đổi nhiệt độ theo vĩ độ, theo mùa
và theo độ sâu làm thay đổi trọng
lượng riêng của nước ở các vùng khác
nhau, các mùa khác nhau và độ sâu
khác nhau, nhất là giữa tầng mặt và
tầng đáy đều tạo nên hiện tượng phân
tầng nhiệt độ nước chu chuyển nước
theo mùa trong các thủy vực nội địa
và các dòng nước thẳng đứng ở hải
dương.
Ở hải dương, các dòng nước
lạnh thẳng đứng nổi lên trên mặt hay
gần mặt ở vùng ven xích đạo , chỗ
giới hạn phân chia các dòng tín phong
Bắc và Nam với dòng gian
Hình 4: Biến đổi nhiệt độ nước theo độ
sâu ở hồ chứa nước suối Hai (tháng
V/1965)
Sự biến đổi nhiệt độ và ảnh hưởng của nó đến đời sống của thủy sinh vật
cũng đứng im, thường gọi là nước đứng mùa đông. Phân tầng nhiệt độ mùa hạ gọi là
phân tầng thuận (trên nóng, dưới lạnh), còn phân tầng nước mùa đông gọi là phân
tầng nghịch (trên lạnh, dưới nóng). Vào mùa xuân và mùa thu, nước trên mặt dần
nóng lên (mùa xuân) hay lạnh đi (mùa thu) tới khoảng gần 4
0
C, làm nước trên mặt
nặng dần lên và chìm xuống dưới sâu, dồn lớp nước ở dưới sâu lên mặt. Tình hình này

A C
B
Chế độ nhiệt ở các hồ vùng nhiệt đới có những đặc điểm riêng:
- Nhiệt độ nước không bao giờ chuyển sang âm độ: Nhiệt độ mặt nước thường
xuyên cao (trên 20
0
C)
- So với thủy vực ôn đới, biến đổi nhiệt độ nước theo mùa ở các thủy vực nhiệt
đới nhỏ hơn, nhưng biến đổi nhiệt độ ngày đêm lại tương đố lớn có khi trên 10
0
C
(ruộng lúa)

- Chênh lệch nhiệt độ nước
ở tầng mặt và tầng đáy
không lớn, chỉ trong khoảng
vài độ. Miền Bắc nước ta
nằm trong vùng khí hậu
nhiệt đới nhưng có những
yếu tố khí hậu cận nhiệt đới,
nên nhiệt độ nước có thể
xuống thấp hơn 20
0
C. Nhiệt
độ nước ở Hồ Tây (1962)
trong năm giao động trong
khoảng 12
0
4C và 33
0

sinh vật chỉ sinh sản vào những mùa nhất định trong năm, với những điều kiện nhiệt
độ nước nhất định. Các loài ôn đới thích ứng với điều kiện nhiệt độ thấp, chỉ sinh sản
trong mùa nhiệt độ thấp trong thuỷ vực nước điều này càng rõ rệt chỉ chung sống
trong các thuỷ vực nước ấm. Các loài nhiệt đới ngược lại chỉ sinh sản vào mùa nhiệt
độ nước cao, điều này càng rõ rệt khi chúng sống trong các thuỷ vực nước lạnh. Nhịp
sinh sản theo tuần trăng có thể liên quan tới nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do
hoạt động của thuỷ triều và chế độ ánh sáng trong thuỷ vực. Kiểu sinh sản này rất phổ
biến ở giun nhiều tơ và ở các thuỷ sinh vật khác như thân mềm. Những nguyên nhân
trên cũng có thể có liên quan tới nhịp sinh sản theo ngày đêm, thấy ở nhiều bọn thuỷ
sinh vật như giáp xác, thân mềm, ruột khoang.
Cùng với nồng độ muối, nhiệt độ quyết định sự phân bố theo vĩ độ, ảnh hưởng
đến các thành phần khác của hệ theo mùa, theo độ sâu.
Nhiệt độ là một trong những nguyên nhân làm thủy sinh vật tự nhiên và thủy
sinh vật gây nuôi chết hàng loạt. Mùa đông, nước đóng băng, làm cản trở oxy hòa tan
trong nước. Mùa hè xuất hiện hiện tượng nước nở hoa.
Nhiệt độ ảnh hưởng đến đặc điểm cấu trúc quần thể thuỷ sinh vật:
Trước hết nhiệt độ ảnh hưởng đến sự phân bố của các cá thể trong quần thể.
Phân bố các cá thể trong quần thể trong thuỷ vực có thể vô tổ chức, đồng đều hay
phân bố thành điểm. Phân bố thành điểm là kiểu phân bố đặc trưng của quần thể thuỷ
sinh vật, do tính chất không đồng đều của các điều kiện sống trong thuỷ vực, cả ở nền
đáy và trong tầng nước, sự phân bố không đồng đều thức ăn, oxy, nhiệt độ.
Thành phần sinh dục của quần thể cũng như thành phần sinh trưởng cũng mang
đặc tính thích ứng, bảo đảm hiệu quả sinh sản của thuỷ sinh vật trong điều kiện thay
HD: TSKH Hoàng Trọng Đại HVTH: Đỗ Thị Xuân Hương
7
Sự biến đổi nhiệt độ và ảnh hưởng của nó đến đời sống của thủy sinh vật
đổi của môi trường. Tương ứng với những thay đổi của điều kiện sống, cấu trúc sinh
dục của quần thể cũng thay đổi và do đó cũng thay đổi khả năng sinh sản của quần
thể. (Niconski, 1965). Thành phần sinh dục của quần thể cũng do đặc tính di truyền
của loài quyết định, đồng thời biến đổi theo môi trường ngoài. Ở thuỷ sinh vật biến

thấp, ánh sáng yếu, nước giàu dinh dưỡng, thực vật và động vật nổi kém phát triển,
ngừng sinh sản, tỷ số P/Z<1), biến động theo năm.
Nhiệt độ ngoài ảnh hưởng đến các quá trình sinh học trong đời sống cá thể còn
ảnh hưởng đến sự tuần hoàn của nước, phân tán các chất hóa học (khí oxy), phân tán
chất dinh dưỡng ở trong các tầng nước, tạo nên tầng nước thẳng đứng đưa chất dinh
dưỡng tích tụ dưới đáy sâu lên tầng mặt, làm ảnh hưởng tới các hoạt động dinh
dưỡng, hô hấp của thủy sinh vật, gián tiếp ảnh hưởng tới năng suất sinh học của thuỷ
vực.
5. Hiện tượng nóng lên của trái đất ảnh hưởng đến nhiệt độ các thuỷ vực.
5.1. Tình hình nóng lên của trái đất:
Nhiệt độ trái đất trong 15 năm qua là nóng nhất (cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20).
Hiện tượng này đã được các nhà khoa học cảnh báo từ lâu, khoảng 30 năm, gần đây
mới được các cơ quan hành chính Liên hợp quốc ghi nhận. Việc xác minh hiện tượng
nóng lên của trái đất được xác định dễ dàng hơn qua hiện tượng băng tan. Liên Hiệp
Quốc đã nêu vấn đề nhiệt độ trái đất nóng lên thành vấn đề cấp bách của việc bảo vệ
môi trường thuỷ quyển thế giới.
HD: TSKH Hoàng Trọng Đại HVTH: Đỗ Thị Xuân Hương
8
Sự biến đổi nhiệt độ và ảnh hưởng của nó đến đời sống của thủy sinh vật
5.2. Hiện tượng băng tan ảnh hưởng đến các thuỷ vực trên thế giới.
Theo số liệu Liên Hiệp Quốc năm 2007, tổng số băng trên thế giới là hơn 21
triệu Km
3
, diện tích đóng băng chiếm 15% diện tích trái đất; 40% dân số thế giới (2 tỉ
người) đã chịu ảnh hưởng của hiện tượng băng tan
Tính đến năm 2007, sau 2 năm so với năm 2005, diện tích băng đã tan là 1 triệu
Km
2
và đã hình thành rõ một con đường từ Châu Âu sang Châu Á.
Đối với một số vùng đã chịu ảnh hưởng của hiện tượng băng tan như:

chửng hàng năm nên phải di dân cách xa 10 Km, ở Trung Quốc, lủ lụt lớn đã làm
100000 gia đình bị trôi,…
Ở Việt Nam, theo số liệu uỷ ban liên chính phủ của Liên Hiệp Quốc về biến đổi
khí hậu, Việt Nam là một trong 5 nước chịu ảnh hưởng nhiều nhất ở Châu Á. Nếu
thuỷ triều dâng 1 m, thì ảnh hưởng đến 10% dân số, còn thuỷ triều dâng 5 m thì ảnh
hưởng đến 35% dân số.
5.4. Nguyên nhân và biện pháp khắc phục:
Một số nhà khoa học cho rằng do quá trình biến đổi địa chất theo chu kỳ. Đây
là ý kiến của một số nhà địa chất, không được sự tán thành của các nhà khoa học, nhà
nhân đạo, chỉ là sự phán đoán chứ không được chứng minh bằng khoa học. Nguyên
nhân thứ hai được xác định là do con người tác động đến môi trường tự nhiên của trái
HD: TSKH Hoàng Trọng Đại HVTH: Đỗ Thị Xuân Hương
9
Sự biến đổi nhiệt độ và ảnh hưởng của nó đến đời sống của thủy sinh vật
đất: kinh doanh vô tổ chức, không lường hậu quả, không có những biện pháp bảo vệ
môi trường dẫn đến xảy ra hiện tượng hiệu ứng nhà kính. Hiệu ứng nhà kính làm tăng
nhiệt độ của khí quyển, tăng tan băng nên nước ngày càng nóng lên và làm cho băng
tiếp tục tan ra. Hoạt động kinh doanh vô tổ chức không lường được hậu quả đã ngày
càng làm gia tăng hàm lượng khí cacbonic trong không khí. Hàng năm trên thế giới đã
thải ra khoảng 200 tỉ tấn CO
2
vào khí quyển, trong đó Trung Quốc là 62 tỉ tấn, Mỹ là
58 tỉ tấn.
Nhận định nguyên nhân: Nguyên nhân thứ hai đã được nghiên cứu nghiêm túc,
có cơ sở vững chắc theo phương pháp khoa học khách quan. Nguyên nhân thứ nhát là
những lập luận chưa được xác định bởi những nhà khoa học, mang tính phán doán, ý
đồ chủ quan của những nhà kinh doanh nhằm từ chối trách nhiệm. Dù nguyên nhân
nào hoặc cả hai nguyên nhân thì việc xử lí tác nhân CO
2
là cần thiết và cấp bách. Đối

của con người và sinh vật, ảnh hưởng đến nền kinh tế- văn hóa –xã hội - điều kiện thổ
nhưỡng- thủy vực và tài nguyên của mọi quốc gia trên thế giới.
Trên thế giới đã-đang và sẽ có những biện pháp thực hiện, cụ thể như:
- Các thỏa thuận trên toàn cầu về việc giảm phát thải khí nhà kính như nghị định thư
Kyoto được thông qua năm 1997. Nghị định thư này được hơn 160 quốc gia đồng ý
thực hiện cắt thải hơn 55% lượng khí nhà kính. Vào tháng 6 năm 2009, chỉ có Hoa
Kỳ, một quốc gia có lượng phát thải khí nhà kính lâu đời trên thế giới, đã từ chối
thông qua nghị định thư này. Hiệp định sẽ hết hạn vào năm 2012. Các cuộc đàm phán
quốc tế đã bắt đầu từ tháng 5 năm 2007 về một hiệp định trong tương lai nhằm thực
hiện thành công vấn đề cắt giảm này.Các cuộc đàm phán do UN điều hành sẽ diễn ra
tại Copenhagen vào tháng 12 năm 2009 này.
- Một số nhóm hoạt động môi trường kêu gọi các tổ chức chính trị và cá nhân hành
động chống lại sự ấm lên toàn cầu, cũng như kê gọi hành động ở mức cộng đồng và
khu vực. Các nhóm khác thì đề nghị cấp quota trên toàn cầu về sản lượng sản xuất
nhiên liệu hóa thạch, họ đã chỉ ra mối quan hệ trực tiếp giữa sản xuất nhiên liệu hóa
thạch và phát thải khí CO
2
.
- Cũng có các hoạt động kinh doanh dựa trên sự biến đổi khí hậu như những có
gắng để nâng cao việc sử dụng năng lượng một cách hiệu quả và hạn chế việc hướng
tới sử dụng nhiên liệu thay thế. Vào tháng 1 năm 2005, liên minh châu Âu đưa ra cơ
chế phát thải thương mại của họ, thông qua đó các công ty kết hợp với chính phủ
đồng ý thu giữ lượng phát thải của họ hoặc mua các khoảng tín dụng từ tiền thay vì
phải trả cho phát thải. Úc đã thông báo lịch trình cắt giảm ô nhiễm cacbon của họ vào
năm 2008. Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã thông báo các kế hoạch để đưa ra
một lịch trình cap and trade kinh tế rộng rãi.
- Nhóm làm việc III của IPCC có trách nhiệm trong việc báo cáo về giảm thiểu sự
ấm lên toàn cầu, và các chi phí và lợi ích của các phương pháp tiếp cận khác nhau.
IPCC Fourth Assessment Report năm 2007 cho thấy không có một công nghệ hoặc
lĩnh vực nào có thể hoàn toàn giảm được sự ấm lên trong tương lai. Họ cũng tìm kiếm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status