BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HỒ THỊ THÙY TRANG
HOÀN THIỆN MÔ HÌNH QUẢN TRỊ TẬP ĐOÀN KINH TẾ TẠI TẬP
ĐOÀN BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG VIỆT NAM TRƯỚC YÊU CẦU
HỘI NHẬP NỀN KINH TẾ QUỐC TẾ LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH Hà Nội - 2008
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
HỒ THỊ THÙY TRANG
1.1 Khái niệm và đặc điểm của TĐKT ………………………………………….
4
1.1.1 Khái niệm về TĐKT …………………………………………………
4
1.1.2 Đặc điểm của TĐKT …………………………………………………
6
1.2 Phân loại TĐKT ……………………………………………………………
8
1.2.1 Căn cứ vào phƣơng thức hình thành và nguyên tắc tổ chức …………
8
1.2.2 Căn cứ vào trình độ liên kết và hình thức biểu hiện …………………
9
1.3 Tính tất yếu khách quan của việc hình thành các TĐKT và vai trò của các
TĐKT đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia …………………………
11
1.3.1 Tính tất yếu khách quan của việc hình thành các TĐKT ……………
11
1.3.2 Vai trò của các TĐKT đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia
14
1.4. Chu kỳ phát triển và xu hƣớng phát triển của các TĐKT ………………
16
1.4.1 Chu kỳ phát triển của các TĐKT ……………………………………
16
1.4.2 Xu hƣớng phát triển của các TĐKT …………………………………
22
1.5 Kinh nghiệm về phát triển TĐKT của một số nƣớc trên thế giới …………
23
1.5.1 Kinh nghiệm về phát triển TĐKT ở Nhật Bản ………………………
23
1.5.2 Kinh nghiệm về phát triển TĐKT ở Hàn Quốc ………………………
THIỆN MÔ HÌNH QUẢN TRỊ TẠI VNPT TRƢỚC YÊU CẦU HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ ……………………………………………………………
84
3.1 Phƣơng hƣớng phát triển của VNPT ………………………………………
84
3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình quản trị tập đoàn tại VNPT …
87
3.3 Một số kiến nghị với Chính phủ và Bộ Thông tin và Truyền thông ………
106
KẾT LUẬN ……………………………………………………………………
119
TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………………………
121
PHỤ LỤC ……………………………………………………………………….
123
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCVT
: Bưu chính Viễn thông
CNTT
: Công nghệ Thông tin
DNNN
: Doanh nghiệp Nhà nước
HĐQT
: Hội đồng quản trị
TĐKT
: Tập đoàn kinh tế
TNHH
: Trách nhiệm hữu hạn
vực Bưu chính, Viễn thông và Công nghệ Thông tin, việc hoàn thiện mô hình
quản trị tập đoàn kinh tế tại Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam nhằm
nâng cao năng lực cạnh tranh, xây dựng Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt
2
Nam thành một Tập đoàn kinh tế vững mạnh, là một trong những “quả đấm
thép” đóng góp một phần quan trọng đối với việc tiếp tục thúc đẩy mạnh mẽ
công cuộc Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá, góp phần đưa đất nước phát triển,
hội nhập thành công trong thời đại kinh tế tri thức và xu thế toàn cầu hóa là
yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.
Với ý nghĩa trên người viết xin chọn đề tài: “Hoàn thiện mô hình
quản trị tập đoàn kinh tế tại Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam
trước yêu cầu hội nhập nền kinh tế quốc tế” với mục đích kết hợp giữa lý
luận và thực tiễn để nghiên cứu nhằm hiểu rõ hơn vấn đề quản trị thuộc lĩnh
vực công tác của bản thân.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về mô hình
quản trị tập đoàn kinh tế, thực trạng hoạt động của mô hình quản trị Tập đoàn
kinh tế tại Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, luận văn nêu lên định
hướng và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình quản trị tập đoàn
kinh tế tại tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam trước yêu cầu hội nhập
nền kinh tế quốc tế. Nhiệm vụ khoa học của luận văn:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về Tập đoàn kinh tế;
- Đánh giá thực trạng hoạt động của mô hình quản trị tập đoàn kinh tế
tại tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam;
- Nêu lên định hướng và các giải pháp thiết thực hoàn thiện mô hình
quản trị tập đoàn kinh tế tại Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Mô hình quản trị tập đoàn kinh tế và vấn đề hoàn thiện mô hình quản trị
tập đoàn kinh tế tại Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam trong điều kiện
4
CHƢƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ
1.1 Khái niệm và đặc điểm của Tập đoàn kinh tế
1.1.1 Khái niệm về Tập đoàn kinh tế
Là một hình thức tổ chức tiên tiến, đại diện cho trình độ phát triển cao
của lực lượng sản xuất, Tập đoàn kinh tế (TĐKT) đã trở thành hình thức phổ
biến chi phối trực tiếp và mạnh mẽ đến toàn bộ nền kinh tế ở nhiều quốc gia
trong giai đoạn hiện nay.
Có rất nhiều quan điểm đánh giá tương đối chính xác về sự ra đời của
các TĐKT, tuy nhiên tựu trung lại có thể khẳng định sự ra đời của TĐKT có
khởi đầu là sự xuất hiện đầu máy tầu hoả chạy bằng hơi nước vào cuối thế kỷ
XVIII, do các nhà tư bản cần lượng vốn lớn để đầu tư và xây dựng các tuyến
đường sắt ở châu Âu. Quá trình tích tụ, tập trung sản xuất và phát triển rất
mạnh vào những năm sau chiến tranh thế giới thứ hai, tạo thành một làn sóng
hợp nhất mạnh mẽ để hình thành nên các tập đoàn tư bản cực lớn. Và thuật
ngữ “Tập đoàn kinh tế” chính thức xuất hiện vào những năm 60 của thế kỷ
XX khi những tập đoàn (Conglomerate) được hình thành từ những đơn vị
kinh doanh trong các lĩnh vực khác nhau tạo ra những tập đoàn lớn, có tiềm
lực và quy mô hùng mạnh nhằm khai thác tối đa hiệu quả của quy mô. Tuy
nhiên, TĐKT chỉ được phát triển nhanh và thuật ngữ “Tập đoàn kinh tế” được
phát triển rộng rãi trong vòng 20 năm nay. Đó là một tổ chức kinh tế quy mô
lớn, tiềm lực kinh tế - tài chính mạnh, cơ cấu phức tạp, hoạt động trong nhiều
lĩnh vực với phạm vi rộng. TĐKT được coi như là một sản phẩm của lực
lượng sản xuất phát triển.
Mặc dù có vai trò như vậy, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một định
nghĩa thống nhất về TĐKT. Nguyên nhân cơ bản là do có sự khác nhau về
6
1.1.2 Đặc điểm của TĐKT
Ngày nay, TĐKT đã trở thành một hình thức phổ biến với quy mô ngày
càng mở rộng, cấu trúc ngày càng phức tạp, hình thức biểu hiện ngày càng đa
dạng, phong phú. Tuy vậy, khi nghiên cứu các TĐKT trên thế giới, chúng ta
có thể nhận thấy chúng có một số đặc điểm chung như sau:
1.1.2.1 Về quy mô
Các TĐKT có quy rất lớn về vốn, lao động, doanh thu và thị trường.
Trong tập đoàn, vốn được tập trung từ nhiều nguồn khác nhau, được bảo toàn
và phát triển không ngừng, đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung vốn cho
tập đoàn. Các TĐKT trên thế giới có hai con đường cơ bản để tạo vốn, đó là:
tự tạo vốn theo con đường hướng nội là chủ yếu bằng cách tích luỹ từ nội bộ
nền kinh tế mà nguồn vốn chủ yếu là vốn Nhà nước và tạo vốn theo con
đường hướng ngoại là thu hút đầu tư thông qua các dự án đầu tư nước ngoài,
liên doanh, liên kết, phát hành cổ phiếu và vốn vay nước ngoài. Với số vốn
lớn, tập đoàn có khả năng chi phối và cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường. Trị
giá vốn cổ phiếu của tập đoàn General Electric năm 2007 là hơn 500 tỷ USD,
tập đoàn Coca Cola là gần 300 tỷ USD. Nhờ ưu thế về vốn, các tập đoàn có
khả năng mở rộng nhanh chóng quy mô sản xuất, đổi mới công nghệ, nâng
cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, do đó có điều kiện thuận lợi
để tăng doanh thu và mở rộng thị trường. Chẳng hạn như vào năm 2007 tập
đoàn Ford đã đạt doanh thu 280 tỷ USD, tập đoàn Philipmorit đạt 190 tỷ
USD. Ngoài ra, nhờ có lợi thế về vốn, doanh thu và thị trường mà các TĐKT
thường thu hút được một lượng lớn về lao động. Lực lượng lao động trong
các tập đoàn không những lớn về số lượng mà còn có chất lượng cao, được
tuyển chọn và đào tạo rất nghiêm ngặt (Các TĐKT ở Mỹ có từ 34.500 -
450.000 lao động) [19].
1.1.2.2 Về phạm vi hoạt động
7
một chủ là công ty mẹ đóng vai trò khống chế, chi phối về tài chính, “hệ
thống thần kinh” của tập đoàn. Dạng phổ biến của TĐKT là công ty cổ phần,
công ty trách nhiệm hữu hạn và nhìn chung các công ty con, cháu vẫn có tư
cách pháp nhân.
1.2 Phân loại tập đoàn kinh tế
Hiện nay ở hầu hết các nước trên thế giới, người ta phân chia TĐKT
thành nhiều loại hình tổ chức khác nhau dựa trên các tiêu chí khác nhau.
1.2.1 Căn cứ vào phƣơng thức hình thành và nguyên tắc tổ chức
Nếu căn cứ vào phương thức hình thành và các nguyên tắc tổ chức thì
sự phong phú và đa dạng của các TĐKT có thể khái quát thành ba loại hình tổ
chức sau:
Loại thứ nhất, bao gồm những TĐKT được thành lập trên nguyên tắc
kết hợp chặt chẽ trong một tổ chức kinh tế “liên kết cứng”; các công ty thành
viên kết hợp trong một tổ chức thống nhất và mất đi tính độc lập tài chính, sản
xuất và thương mại. Những TĐKT này được cấu tạo dưới dạng đa sở hữu
theo kiểu công ty cổ phần với sự góp vốn của nhiều chủ sở hữu khác nhau.
Các công ty thành viên hoạt động trong cùng một ngành hoặc có liên quan với
nhau về chu kỳ sản xuất, công nghệ; bổ sung cho nhau trong các quá trình gia
công chế biến sản phẩm mang tính liên tục và thống nhất của toàn tập đoàn.
Loại thứ hai, hình thành theo nguyên tắc liên kết kinh tế thông qua
những Hiệp ước hoặc hợp đồng kinh tế “liên kết mềm”. Các công ty thành
viên ký hợp đồng thoả thuận với nhau về những nguyên tắc chung trong hoạt
động sản xuất kinh doanh như: Xác định quy mô sản xuất, hợp tác nghiên cứu
và trao đổi bằng phát minh sáng chế kỹ thuật; quy định giá cả và thị trường
tiêu thụ…. Trong cơ cấu tổ chức thường có Ban quản trị chung điều hành các
9
hoạt động phối hợp của tập đoàn theo một đường lối chung thống nhất, nhưng
các công ty thành viên vẫn giữ nguyên tính độc lập về tổ chức, sản xuất và
ban quản trị điều hành và tất cảc các công ty phải tiêu thụ hàng hoá của họ
thông qua kênh này. Như vậy các doanh nghiệp thành viên giữ vững tính độc
lập về sản xuất nhưng hoàn toàn mất tính độc lập về thương mại. Tính liên kết
của dạng tập đoàn này chỉ được thực hiện ở khâu tiêu thụ sản phẩm.
1.2.2.3 Trust (Tờrớt)
Đây là một hình thức TĐKT không chỉ có liên kết ở khâu tiêu thụ mà
còn liên kết ở khâu sản xuất, bao gồm nhiều doanh nghiệp công nghiệp do
một ban quản trị thống nhất quản trị. Các doanh nghiệp thành viên bị mất
quyền độc lập cả về sản xuất và thương mại. Các nhà đầu tư tham gia Trust
đều là những cổ đông và việc thành lập các Trust nhằm chiếm nguồn nguyên
liệu, khu vực đầu tư và nhằm thu lợi nhuận cao.
1.2.2.4 Consortium (Côngxoocxiom)
Đây là hình thức tổ chức có trình độ và quy mô lớn hơn các hình thức
liên kết trên. Tham gia Consortium không chỉ có các nhà bản lớn mà còn có
cả các Syndicate và Trust, thuộc các ngành khác nhau nhưng liên quan với
nhau về kinh tế, kỹ thuật. Với kiểu liên kết dọc như vậy, một Consortium có
thể có hàng trăm xí nghiệp liên kết trên cơ sở hoàn toàn phụ thuộc về tài
chính vào một nhóm tư bản kếch xù.
1.2.2.5 Concern (Consơn)
Đây là hình thức tập đoàn phổ biến nhất hiện nay. Concern không có tư
cách pháp nhân và các công ty thành viên vẫn giữ nguyên tính độc lập về mặt
pháp lý. Mối quan hệ giữa chúng được hình thành trên cơ sở những thoả
thuận về lợi ích chung như: thoả thuận về phát minh sáng chế, nghiên cứu ứng
dụng khoa học, hợp tác kinh doanh và một hệ thống tài chính chung….
11
Thường trong Concern người ta thành lập Holding Company có vai trò là
công ty mẹ điều hành hoạt động của tập đoàn; công ty này chỉ quan tâm đến
lĩnh vực tài chính của tập đoàn mà không quan tâm đến lĩnh vực sản xuất.
Thực chất nó là một công ty cổ phần, nắm giữ cổ phần vốn đóng góp của các
vốn và lực của doanh nghiệp được nâng lên. Trong quá trình vận động khách
quan như vậy, TĐKT ra đời và phát triển.
- Tác động của quy luật cạnh tranh và tối đa hoá lợi nhuận
Trong cơ chế thị trường, việc giành ưu thế trong sản xuất và tiêu thụ
sản phẩm để thu lợi nhuận cao là quy luật bất di bất dịch đối với mọi doanh
nghiệp. Điều này dẫn đến sự cạnh tranh quyết liệt giữa các doanh nghiệp và
cuối cùng đi đến hai xu hướng:
+ Những doanh nghiệp đứng vững và chiếm lĩnh thị trường, chiến
thắng trong cạnh tranh sẽ thôn tính vào mình các doanh nghiệp bị đánh bại,
qua đó tăng nhanh hơn quá trình tập trung sản xuất.
+ Nếu cạnh tranh kéo dài và không phân thắng bại thì các doanh nghiệp
sẽ liên kết với nhau bằng các thoả ước.
Như vậy, cả hai xu hướng trên đều tất yếu dẫn đến việc hình thành
TĐKT.
- Tiến bộ của Khoa học - Công nghệ
Yếu tố quyết định thắng lợi trong cạnh tranh và đạt lợi nhuận cao của
doanh nghiệp là việc nghiên cứu - ứng dụng - triển khai tiến bộ khoa học công
nghệ. Để đổi mới công nghệ cần phải có nhiều vốn, tiến hành trong thời gian
nhiều năm, trong khi đó độ rủi ro lại cao và cần phải có lực lượng cán bộ khoa
học kỹ thuật đủ mạnh mà một doanh nghiệp nhỏ, manh mún, biệt lập không
13
đủ sức làm được. Điều này đòi hỏi phải có doanh nghiệp lớn mà tập đoàn kinh
doanh là một loại hình tiêu biểu.
- Tác động của chu kỳ kinh tế: Khủng hoảng - Suy thoái - Phục hồi -
Hưng thịnh
Nếu như trong sản xuất hàng hóa giản đơn, với sự phát triển chức năng
làm phương tiện thanh toán của tiền tệ đã làm xuất hiện khả năng nổ ra khủng
hoảng kinh tế, thì nay khi nền sản xuất đã xã hội hóa cao độ, khủng hoảng
kinh tế là điều không tránh khỏi. Khủng hoảng kinh tế xuất hiện làm cho quá
các công ty, dẫn đến sự mở rộng và phát triển mạnh mẽ của các tập đoàn kinh
tế. Tập đoàn kinh tế trở thành biểu tượng sức mạnh của một quốc gia, bảo vệ
nền kinh tế trong nước trước sự thâm nhập của các nền kinh tế khác. Sự hình
thành và phát triển của các TĐKT như đã phân tích, không những đánh dấu
bước phát triển mới của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong thời đại
ngày nay mà còn làm động lực tăng cường sức mạnh kinh tế và khả năng cạnh
tranh của tập đoàn cũng như của nền kinh tế của mỗi quốc gia, đặc biệt là đối
với các nước đang phát triển. Vai trò đó được thể hiện trên các mặt sau:
- Sự hình thành và phát triển của các TĐKT làm tăng khả năng kinh tế
của cả tập đoàn và các công ty thành viên, nó cho phép các nhà quản lý kinh
doanh huy động được tất cả các nguồn lực trong xã hội để phục vụ việc phát
triển kinh tế, việc tập trung các công ty vào trong một đầu mối làm cho họ có
điều kiện thuận lợi khi cạnh tranh với các tập đoàn nước ngoài.
- Đối với các nền kinh tế mới phát triển, nền công nghiệp trong nước
còn manh mún thì các TĐKT là một biện pháp hữu hiệu để chống sự thâm
nhập một cách ồ ạt của các công ty khổng lồ trên thế giới và giúp cho sản xuất
15
trong nước có thể đứng vững và từng bước vươn ra được các thị trường khu
vực và thế giới.
- Các TĐKT sẽ khắc phục được khả năng hạn chế về vốn của từng công
ty riêng lẻ, việc các tập đoàn có công ty tài chính sẽ cho phép thống nhất
trong tích tụ và tập trung vốn; khi có nguồn vốn lớn các tập đoàn sẽ đầu tư
vào các dự án có hiệu quả cao nhất, từ đó sẽ góp phần tăng nguồn thu và thúc
đẩy nền kinh tế phát triển.
- TĐKT có tác dụng rất lớn trong việc cung cấp trao đổi thông tin và
những kinh nghiệm quan trọng trong tổ chức nghiên cứu ứng dụng khoa học,
công nghệ vào sản xuất. Sự hợp tác về nghiên cứu ứng dụng khoa học công
nghệ trong tập đoàn còn cho phép các công ty thành viên có khả năng nhanh
chóng đưa các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn trên một quy mô rộng lớn
1.4 Chu kỳ phát triển và xu hƣớng phát triển của các TĐKT
1.4.1 Chu kỳ phát triển của các TĐKT
1.4.1.1 Giai đoạn hình thành
Khi một tổ chức mới sinh ra yếu tố đầu tiên là quan tâm đến sản phẩm
hoặc dịch vụ của tổ chức có được thị trường chấp nhận hay không. Những
người cùng góp vốn hay chủ doanh nghiệp dành toàn bộ thời gian và tiền bạc
để đầu tư cho kỹ thuật, phát triển sản xuất và marketing. Các yếu tố cơ cấu tổ
chức đang ở dạng sơ khai, cấu trúc tổ chức rời rạc và cơ chế quản lý chưa chặt
chẽ, sự quản lý giám sát mang tính cá nhân, chưa hình thành nên các quy ước
điều lệ. Sự tồn tại của tổ chức trông cậy vào sự sáng tạo ra sản phẩm dịch vụ.
Ví dụ Tập đoàn General Motor (G.M) hình thành năm 1908, giai đoạn
đầu tiên này kéo dài đến năm 1920 đánh dấu một bước phát triển mới khi
G.M thay đổi cơ chế quản lý tập trung sang phi tập trung. Giai đoạn hình
17
thành của G.M gắn liền với sự tích tụ và tập trung vốn; về mặt tổ chức là sự
khẳng định của hệ thống quyền lực có xu hướng tập trung hóa. Phải mất 12
năm để G.M xây dựng một chiến lược phát triển đa ngành, tuy nhiên hoạt
động chính vẫn là sản xuất ôtô; giai đoạn này trình độ lành nghề của công
nhân đã rất thành thục và G.M cũng xây dựng được các dây truyền lắp ráp ở
trình độ chuyên môn hoá cao nhất thời đó.
Giai đoạn này cơ cấu tổ chức theo kiểu hàng dọc, trực tuyến, lãnh đạo
tập trung và chỉ có một cấp quản lý. Nhu cầu trong công tác lãnh đạo là rất
lớn. Khi tổ chức lớn mạnh, số lượng công nhân tăng lên và nhu cầu quản lý
tăng theo để giải quyết các vấn đề phát sinh ngày càng nhiều vì vậy trong giai
đoạn này người chủ doanh nghiệp phải điều chỉnh lại cấu trúc cũng như các
quy tắc điều lệ cho phù hợp với sự lớn mạnh của tổ chức.
1.4.1.2 Giai đoạn trở thành tập đoàn
Do quá trình tích tụ và tập trung vốn cao, quy mô tổ chức ngày càng
lớn đòi hỏi sự lãnh đạo ngày càng tăng và khuynh hướng tập trung hoá là
nước ngoài thì áp dụng cấu trúc theo địa lý. Vai trò của tập đoàn lúc này chủ
yếu là công ty mẹ điều phối tài chính, định hướng chiến lược và ứng dụng
công nghệ mới mà bản thân công ty con không thể đảm đương nổi. Cùng với
sự phân chia quyền lực thì sự hình thành các quy tắc, điều lệ, hệ thống kiểm
soát đặc biệt được coi trọng trong giai đoạn này. Nói chung, một thể chế được
xác lập trong tổ chức, các mối quan hệ trở thành chính thức hơn, các chuyên
viên về nhân sự và các thành viên khác được bổ sung (Ban kiểm soát). Người
lãnh đạo cao nhất lúc này chỉ tham gia vào chiến lược chung của tập đoàn,
việc lập kế hoạch và sự điều hành tập đoàn dành cho các cấp lãnh đạo bậc
trung. Với những cơ chế quản lý mới, hệ thống kiểm soát chặt chẽ, hiệu quả
đã làm cho tập đoàn ngày càng phát triển và lớn mạnh. Cơ chế liên kết giữa
19
lãnh đạo cấp cao và các bộ phận chuyên môn mang tính thống nhất và chính
thức.
Ví dụ năm 1985 G.M bành trướng sang lĩnh vực hàng không khi mua
lại hãng hàng không Hughes và công ty xử lý máy tính hàng đầu nước Mỹ
vào năm 1986. Giai đoạn này sự quản lý điều hành dành cho các nhà lãnh đạo
bậc trung với khối lượng công việc khổng lồ và chính họ luôn bị áp lực lớn
của công việc. Sự phân quyền và kiểu lãnh đạo tập trung chi phối cùng với sự
thành công tột bậc của tập đoàn trong giai đoạn này dễ làm phát sinh sự tự
mãn và căn bệnh quan liêu, các sáng kiến có thể bị hạn chế. Tập đoàn lúc này
dường như quá lớn và được quản lý bởi hệ thống chính quy nghiêm khắc
nhằm duy trì sự vận hành của hệ thống.
1.4.1.4 Giai đoạn thích nghi
Sự khủng hoảng của giai đoạn trên được giải quyết đồng thời với sự
phát triển của quản lý đến giai đoạn tinh vi và phù hợp với sự đa dạng của thị
trường tại các khu vực khác nhau. Cơ cấu tổ chức quản lý theo địa lý và theo
kiểu ma trận ở giai đoạn trên cũng thường được áp dụng. Hệ thống quản lý
chính quy lúc này có thể được đơn giản hoá hơn và được thay thế bởi đội ngũ
lợi cũng gắn liền với sự rủi ro cao trong quản lý. Tổ chức ở giai đoạn này đòi
hỏi phải có sự điều chỉnh kịp thời dự báo theo tốc độ tăng trưởng của tập
đoàn, phải hoàn thiện cơ cấu tổ chức cho phù hợp nếu không sẽ dẫn đến giai
đoạn suy thoái mới (điều này đã xảy ra tại các tập đoàn trong cuộc khủng
hoảng Đông Á năm 1997).
1.4.1.5 Giai đoạn hội nhập trên phạm vi toàn cầu
Giai đoạn hội nhập của tập đoàn thể hiện thông qua việc liên minh, hợp
nhất, sáp nhập và mua lại doanh nghiệp. Các yếu tố công nghệ kỹ thuật và
môi trường trong quy mô bối cảnh có tác động lớn đến giai đoạn này của tập