CPH Doanh nghiệp Nhà nước ở VN - Pdf 13

Cổ phần hoá DN Nhà nớc ở Việt Nam
Phần A: lời nói đầu

Với sự phát triển nh vũ bão của nền kinh tế thế giới, cổ phần hóa đang là
một vấn đề vô cùng bức xúc đối với nền kinh tế nớc ta.
Chủ trơng cải cách nền kinh tế từ bao cấp, tự túc sang nền kinh tế thị trờng
theo định hớng XHCN có sự quản lý của Nhà nớc, trong đó có mục tiêu cổ phần
hóa các doanh nghiệp nhà nớc là một biện pháp quan trọng để cải tổ nền kinh tế.
Chủ trơng cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc lần đầu tiên đợc nêu tại nghị quyết
hội nghị lần thứ hai ban chấp hành TƯ khoá II(tháng 11 năm 1991)và tiếp tục đ-
ợc cụ thể hoá trong các kỳ đại hội sau. Từ đó cho đến nay, cùng với thực tiễn tiến
hành công cuộc phát triển nền kinh tế đát nớc theo định hớng XHCN và những
kinh nghiệm thu đợc qua quá trình chỉ đạo điều hành sản xuất kinh doanh, chúng
ta đã xác định đợc rằng cải cách doanh nghiệp nhà nớc một cách triệt để là yêu
cầu có tính quyết định để tăng cờng động lực phát triển sản xuất và thúc đẩy
doanh nghiệp nhà nớc hoạt động có hiệu quả hơn.
1
Cổ phần hoá DN Nhà nớc ở Việt Nam
Phần B: Nội dung
I. Sự cần thiết cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam.
1. Thực chất cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc.

Công ty cổ phần là một xí nghiệp lớn t bản chủ nghĩa, mà vốn của nó đợc hình
thành từ sự góp vốn của nhiều ngời thông qua phát hành cổ phiếu.
Cổ phiếu là một thứ chứng khoán có giá, ghi nhận quyền sở hữu cổ phần đồng
thời bảo đảm cho ngời chủ sở hữu có quyền lĩnh một phần thu nhập của công ty
tơng ứng với số tiền ghi trên cổ phiếu. Ngời có cổ phần góp vào công ty gọi là cổ
đông.
Trong thực tế của xã hội t bản, những ngời sáng lập ra công ty cổ phần, những
ngời thực hiện việc phát hành các cổ phiếu để bán, còn các cổ đông thì mua các
cổ phiếu đó và hằng năm căn cứ vào cổ phiếu của mình mà lấy lãi(lợi tức cổ

hiện theo xu hớng, một mặt nó làm cho các hình thức chiếm hữu t nhân phụ
thuộc lẫn nhau. Hình thái công ty cổ phần, hình thái này ra đời đánh dấu sự tiến
hoá của chế độ tín dụng từ kinh doanh chủ yếu dựa vào vay mợn qua ngân hàng
hoặc chung vốn sang huy động vốn trên thị trờng tài chính, trong đó chủ yếu là
thị trờng chứng khoán. Các công ty cổ phần là ngời cung cấp sản phẩm cho sự
phồn vinh của thị trờng chứng khoán. Đổi lại, sự thịnh vợng của thị trờng này tạo
điều kiện cho các công ty cổ phần sinh sôi nảy nở: trong hình thái kinh doanh
này có hai loại hình chủ yếu là công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần
có phát hành cổ phiếu. Có thể nói rằng công ty cổ phần ra đời mang nhiều đặc
điểm mới cho phép nó thích ứng với những đòi hỏi của sự phát triển nền kinh tế
thị trờng hiện đại mà những hình thái khác không thể đáp ứng đợc.
1.3. Cổ phần hoá, hình thức sở hữu doanh nghiệp đã chuyển đổi từ hữu Nhà
nớc duy nhất sang sở hữu hỗn hợp
Mục tiêu nhất quán của cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp nhà nớc là đi
huy động vốn tạo điều kiện để ngời lao động đợc làm chủ thực sự trong doanh
nghiệp, tạo động lực bên trong, thay đổi phơng thức quản lý nhằm nâng cao hiệu
quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp, đồng thời làm tăng tài sản và thay đổi
cơ cấu doanh nghiệp. Qua cổ phần hoá, hình thức sở hữu tại doanh nghiệp đã
chuyển t hữu nhà nớc duy nhất sang sở hữu hỗn hợp, và chính từ đây dẫn đến
những thay đổi quan trọng về hình thức tổ chức, quản lý cũng nh phơng hớng
hoạt động của công ty. Doanh nghiệp nhà nớc sau khi cổ phần hoá sẽ trở thành
công ty cổ phần, hoạt động theo luật doanh nghiệp. Việc đa dạng hoá hình thức
sở hữu cho phép thực hiện triệt để những nguyên tắc quản lý kinh tế, nâng cao
3
Cổ phần hoá DN Nhà nớc ở Việt Nam
quyền tự chủ tài chính và khả năng tự quản lý trong sản xuất kinh doanh, nâng
cao tinh thần trách nhiệm cũng nh óc sáng tạo của ngời lao động và ngời lãnh
đạo doanh nghiệp. Cổ phần hoá chính là biện pháp hiệu quả để sử dụng đồng
vốn đợc tốt nhất.
a. Các bớc tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc.

Cổ phần hoá DN Nhà nớc ở Việt Nam
3. Các loại doanh nghiệp nhà nớc còn lại đều có thể thực hiện cổ phần hoá.

*
Về vấn đề mua bán cổ phần: các tổ chức kinh tế xã hội, công dân Việt
Nam, ngời Việt Nam định c ở nớc ngoài, ngời nớc ngoài định c ở Việt Nam đều
có quyền mua cổ phần ở các doanh nghiệp nhà nớc cổ phần hoá, và đợc nhà nớc
bảo hộ quyền sở hữuvà mọi quyền lợi hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Việc bán cổ phần đợc công khai và thực hiện theo quy định của chính phủ.
Mọi pháp nhân không mua quá 10%, một cá nhân đớc mua không quá
5%tổng số cổ phần của doanh nghiệp mà nhà nớc giữ cổ phần chi phối và không
quá 20%, không quá 10% của doanh nghiệp mà nhà nớc không nắm cổ phần chi
phối.

*
Các hình thức cổ phần hoá gồm:
1. Giữ nguyên giá trị thuộc vốn nhà nớc tại các doanh nghiệp, phát
hành cổ phiếu thu hồi vốn.
2. Nắm một phần giá trị thuộc vốn nhà nớc hiện có tại doanh nghiệp.
3. Tách một bộ phận doanh nghiệp đủ điều kiện cổ phần hoá.
4. Bán toàn bộ giá trị hiện có của doanh nghiệp.

*
Tiền bán cổ phần thuộc vốn nhà nớc sau khi trừ đi chi phí cổ phần hoá đợc
sử dụng để đào tạo lại nhằm giải quyết việc làm mới cho ngời lao động, trợ cấp
cho số lao động dôi d, và bổ sung cho các doanh nghiệp u tiên củng cố.

*
Bộ tài chính thống nhất quản lý mẫu in ấn và cung cấp tờ cổ phiếu các doanh
nghiệp cổ phần hoá, bảo đảm các cổ đông nhận đợc cổ phiếu chậm nhất là 30

ở các quốc gia này về vai trò điều tiết của Nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng đã
cho phép các nớc đặt vấn đề cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nớc nh một bộ
phận trong chiến lợc tăng trởng mới nhằm khai thác các động lực của khu vực
của kinh tế t nhân và kinh tế thị trờng.
Trong việc xác định các mục tiêu để tiến hành cổ phần hoá DNNN, các nớc
đều cho rằng nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN và giảm thâm hụt ngân
sách nhà nớc là những mục tiêu đầu tiên và trực tiếp. Ngoài ra, tuỳ theo điều kiện
của mỗi nớc mà các mục tiêu cổ phần hóa đợc bổ sung thêm ít nhiều. ở nhóm các
nớc t bản phát triển cần bổ sung thêm thu hút các nhà đầu t t nhân vào những
nghành, những lĩnh vực lâu nay Nhà nớc độc quyền nhận xét thấy không còn cần
thiết nữa. Nhà nớc có điều kiện tập trung vào những nghành và lĩnh vực then chốt
khác nhằm ổn định kinh tế vĩ mô và tạo cơ sở cho sự tăng trởng mới. Thực hiện
phân phối có lợi cho các tầng lớp dân c có thu nhập thấp, tạo sự ổn địnhvề mặt xã
hội.
6
Cổ phần hoá DN Nhà nớc ở Việt Nam
ở nhóm các nớc đang phát triển nhìn chung đều đề cập đến các mục tiêu
trên và còn bổ sung thêm một số mục tiêu có tính đặc thù sau: giảm gánh nặng
nợ nớc ngoài. Thu hút các nhà đầu t nớc ngoài để đổi mới công nghệ và quản lý
nâng cao chất lợng hàng hoá và các dịch vụ trong nớc. Xây dựng và phát triển thị
trờng tài chính trong nớc.
ở nhóm các nớc Đông Âu và SNG còn bổ sung thêm 2 mục tiêu có tính đặc
thù sau: giảm nhanh tỷ trọng gần nh tuyệt đối của khu vực kinh tế nhà nớc đang
gây tình trạng trì trệ và khủng hoảng trong nền kinh tế. Tạo ra hệ thống kinh tế
thị trờng, tăng nhanh khu vực kinh tế t nhân để dân chủ hoá các hoạt động kinh
tế.
Các phơng pháp cổ phần hoá đợc thực hiện phổ biến ở các nớc gồm 3 hình
thức: 1) bán cổ phần cho công chúng; 2) bán cổ phần cho t nhân; 3)những ngời
quản lý và công nhân mua lại doanh nghiệp. Nói chung các phơng pháp này th-
ờng đợc kết hợp với nhau và tuỳ điều kiện của mỗi nớc mà phơng pháp nào đợc

pháp tích cực nhằm cải tổ lại khu vực các doanh nghiệp nhà nớc.Các Nghị định
28/CP ngày 7/5/1996 và Nghị định sửa đổi 25/CP ngày 26/3/1997 đã cụ thể hoá
quyết tâm của chính phủ về công tác cổ phần hoá. Triển khai nội dung các Nghị
định của chính phủ, Bộ tài chính đã có nhiều văn bản hớng dẫn cụ thể nh trong
thông t 47/TC-TCT ngày 17-8-1996. Thông t 50/TC-TCDN ngày 30-8-1996 hớng
dẫn những vấn đề tài chính, bán cổ phần và phát hành cổ phiếu trong việc chuyển
một số DNNN thành công ty cổ phần.
Thực hiện chính sách nâng cao hiệu quả kinh tế và sức cạnh tranh của các
DNNN Đảng và Chính phủ đã coi cổ phần hoá là một trong những biện pháp tích
cực nhằm tăng cờng vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nớc, thúc đẩy các thành phần
kinh té phát triển. Làm nòng cốt cổ phần hoá sẽ góp phần: giải quyết tốt vấn đề
sở hữu công cộng cụ thể hoá quyền sở hữu của ngời lao động, tạo điều kiện cho
quần chúng lao động tham gia làm chủ doanh nghiệp một cách thiết thực.
Tăng vốn, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng sức cạnh tranh của các
DNNN giúp các doanh nghiệp có sức và có cơ hội mở rộng thị trờng, tiếp thu
kinh nghiệm quản lý tiên tiến, ứng dụngcông nghệ hiện đại. Góp phần đắc lực và
đạt hiệu quả cao, để thực hiện thành công chủ trơng chuyển đổi cơ cấu kinh tế
của Đảng và Nhà nớc. Huy động tối đa sức dân vào công cuộc xây dựng đất nớc.
Bằng biện pháp kinh tế, tiết kiệm trong dân c CPH đã huy động một cách tự
nguyện và tối đa cho chơng trình kinh tế.
Tạo cơ sở thúc đẩy quá trình ra đời, hoàn thiện và phát triển thị trờng tài
chính, chứng khoán ở Việt Nam.
Thực tế, quá trình cổ phần hoá thời gian qua đã làm tăng hiệu quả kinh
doanh và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp. Đây là vấn đề mấu chốt quyết
định đến khả năng nâng cao mức thu nhập của ngời lao động; đồng thời theo đó
8
Cổ phần hoá DN Nhà nớc ở Việt Nam
một vấn đề đợc coi là hóc búa nhất trong cơ cấu lại DNNN - vấn đề thất nghiệp -
cũng đợc giải quyết thoả đáng. Các doanh nghiệp nhà nớc không những không sa
thải công nhân khi cổ phần hoá, ngợc lại trên thực tế còn tuyển thêm nhiều lao

9
Cổ phần hoá DN Nhà nớc ở Việt Nam
là đủ (hoặc thiếu). Số đóng góp đợc cho ngân sách nhà nớc không đáng là bao.
Thậm chí có những doanh nghiệp thuộc nghành du lịch- khách sạn là nghành dễ
thu lợi nhuận nhất cũng chỉ đạt mức 0.25%(Trong khi đó khách sạn du lịch tỷ
suất lợi nhuận trên thờng phải đạt xấp xỉ 10%). Các nghành khác cũng ở trong
tình trạng tơng tự. VD: nh nghành thơng mại, cácDNNN thuộc khu vực này cha
lấy xuất khẩu làm trọng mà chủ yếu vẫn chỉ loanh quanh, luẩn quẩn, buôn bán
lòng vòng thu lợi nhuận nhờ chênh lệch giá, chia lãi thu đợc trong nội bộ sao cho
trong ấm ngoài êm là đợc. Doanh nghiệp có hớng ra xuất khẩu thì cũng không
tìm ra loại hàng gì để xuất khẩu cho có lợi bởi ngoài rất nhiều nghị quyết và quy
chế làm việc nội bộ của doanh nghiệp thì họ cũng chả có gì khác.
Những tình hình trên đây là có thực ở từng loại hình DNNN khác nhau. Rõ
ràng nếu xác định vai trò chủ đạo của khối doanh nghiệp nhà nớc đối với nền
kinh tế hiện nay thì không nên và không thể là tất cả các doanh nghiệp nhà nớc
hiện có. Nhà nớc cần tập trung sức lực để chuyển đổi một số hình thức doanh
nghiệp sao cho phù hợp với cơ chế mới - cơ chế thị trờng định hớng XHCN có sự
quản lý của nhà nớc. Và trong đó có một nội dung rất quan trọng đó chính là sự
cần thiết phải chuyển đổi hình thái doanh nghiệp nhà nớc sang hình thái công ty
cổ phần.

2.2 Cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp nhà nớc là nột yêu cầu bức
thiết.
Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nớc ta đã kiên trì tập trung tiến hành
công tác sắp xếp đổi mới các doanh nghiệp nhà nớc và đã đạt đợc một số kết quả
nhất định nh giảm mạnh số lợng doanh nghiệp nhà nớc nâng quy mô vốn bình
quân, giảm bớt đợc sự tài trợ của ngân sách, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, bớc đầu đã phát huy đợc
quyền chủ động kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở, giảm mạnh sự can thiệp
hành chính vào hoạt động sản xuất kinh doanh.

chuyển thành công ty cổ phần. Chỉ thị 84 TTg ngày 4/3/1993 của thủ tớng Chính
phủ xúc tiến thực hiện thí điểm cổ phần hoá DNNN và các giải pháp đa dạng hoá
hình thức sở hữu đối với DNNN giai đoạn khởi đầu của cổ phần hoá chỉ có rất ít
các DNNN tiến hành cổ phần hoá. Các doanh nghiệp đã đợc cổ phần hoá đều là
những đơn vị có quy mô nhỏ, ít vốn (nhiều nhất trên 18 tỷ đồng Việt Nam, ít nhất
khoảng 351 triệu đồng). Kinh doanh trong những lĩnh vực không quan trọng. Số
doanh nghiệp đã đợc cổ phần hoá quá ít, cha đại diện cho các doanh nghiệp trong
lĩnh vực khác nhau, các cấp quản lý khác nhau, các vùng khác nhau.
Mặc dù kết quả đạt đợc sau khi cổ phần hoá đêu tốt, hầu nh không có doanh
nghiệp nào sau khi cổ phần hoá lại hoạt động kém hơn trớc. Từ khi có chỉ thị
202/HĐBT(năm 1992) cho đến năm 1998 mới có 14 doanh nghiệp cổ phần
11
Cổ phần hoá DN Nhà nớc ở Việt Nam
hóa.Nh vậy bình quân mỗi năm mới đợc gần 3 doanh nghiệp cổ phần hoá, Theo
năm thì năm 1993có 2 doanh nghiệp đợc cổ phần hoá, năm 1994 có 1 doanh
nghiệp, năm 1995 có 3 doanh nghiệp và năm1996 : 5 doanh nghiệp và 6 tháng
đầu năm 1997 có 3 doanh nghiệp .
Giả sử trong 2 năm 1997-1998 chúng ta thực hiện cổ phần hoá đợc khoảng
150 doanh nghiệp thì nhà nớc mới chỉ chiếm 4% số DNNN hiện có. Thực hiện
các Nghị quyết đại hội lần thứ VI,VII,VIII của Đảng và các nghị quyết của ban
chấp hành Trung Ương, Bộ chính trị, Đảng ,Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện 3 đợt
sắp xếp lớn các doanh nghiệp nhà nớc 1990-1993; 1994-1997 và từ giữa năm
1998 cho đến nay. Trong đó quá trình đổi mới sắp xếp chủ yếu là đợt 3, đợc triển
khai theo các nội dung đợc ghi trong các nghị quyết đại hội VIII của Đảng.
1.2. Sự hoạt động có hiệu quả của doanh nghiệp có 100% vốn là cổ phần.

Theo đánh giá của ban chỉ đạo cổ phần hóa DNNN các công ty cổ phần đều
đạt kết quả tốt, cụ thể là doanh thu của các công ty này tăng 55,9% năm, nộp
ngân sách tăng 98%, lợi nhuận tăng 46,8%, thu nhập tăng 20%, tỷ suất lợi nhuận
trên doanh thu 14%, tỷ suất lợi nhuận trên vốn 76%, và vốn tăng 45%. Đời sống

đợc chia lợi tức trên góp vốn cổ phần từ lợi nhuận sau thuế 22-24% năm(Nếu gửi
tiết kiệm thì lãi suất tối đa cũng chỉ đợc 12% năm).
Tóm lại, thực tế ở các doanh nghiệp đã chuyển thành công ty cổ phần đều cho
thấy hiệu quả hoạt động kinh doanh tăng lên rõ rệt. Nhờ hiệu quả đợc nâng cao
nên tăng thêm đợc việc làm, tăng thu nhập cho cổ đông(trong đó có cổ đông nhà
nớc và ngời lao động) vừa đợc hởng cổ tức ở mức cao, vừa tăng giá trị góp vốn tại
công ty. Ngoài việc tăng trởng đợc góp vốn, đợc chia cổ tức, các khoản nộp ngân
sách nhà nớc cũng tăng nhanh. Kết quả này đã khích lệ một số nghành, địa ph-
ơng, tổng công ty nhà nớc tích cực hơn trong việc triển khai cổ phần hoá.
1.3 Tổng kết quả đạt đợc và mở rộng quy mô cổ phần hóa.

Cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp nhà nớc mà Nhà nớc không cần nắm
giữ 100% vốn để huy động thêm vốn, tạo thêm động lực để thúc đẩy sản xuất
kinh doanh phát triển. Đến ngày 15/8/2000 cả nớc cổ phần hoá đợc 369 bộ phận
doanh nghiệp với tổng số vốn là 1920 tỷ đồng(tăng 12% so với trớc khi cổ phần)
bằng 1,6% tổng số vốn nhà nớc trong các DNNN. Nhìn chung các chỉ tiêu doanh
thu, lợi nhuận, nộp ngân sách, số lơng công nhân viên của các doanh nghiệp cổ
phần hoá đều tăng so với trớc. Cùng với quá trình cổ phần hóa Đảng và Chính
phủ chủ trơng để một số doanh nghiệp nhà nớc đầu t một phần vốn lập công ty cổ
phần mới với tổng số vốn nhà nớc là 868,8 tỷ đồng chiếm 46% vốn điều lệ, kết
quả sản xuất kinh doanh cho thấy 267 công ty(96,4%) có lãi, 12 công ty còn
lại( 3.6 %) hoà vốn.
13
Cổ phần hoá DN Nhà nớc ở Việt Nam
Qua các số liệu tổng kết cho thấy hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp cổ phần hoá là một bài học quý báu. Nhà nớc cần triệt để hơn nữa
trong việc thực hiện cổ phần hoá DNNN. Chúng ta xét thấy rằng sở hữu nhà nớc
trong những nghành, những doanh nghiệp không cần có sự can thiệp của Nhà nớc
thì có thể tiến hành cổ phần hoá toàn bộ hay từng phần để nâng cao hiệu quả
kinh tế nói chung và nhà nớc có điều kiện thu hồi vốn để đầu t vào các lĩnh vực

Bảy là, Nhà nớc không chỉ chú ý đến thu hồi vốn, mà cần phải xác định các
khoản phí tổn nhất định vì lợi ích kâu dài của sự phát triển đất nớc. Những khoản
cho phí tổn cho bảo hiểm, trợ cấp cho ngời lao động, tìm việc làm mới, bán cổ
phiếu theo giá u đãi cho những nhóm xã hội nhất định, cho vay tiền để mua
không lãi suất hoặc hoặc với lãi suất thấp cho những đối tợng nhất định...Ngoài
ra còn có các nhãng chi phí về các hoạt động t vấn, quảng cáo, kiểm toán, môi
giới đầu t qua cổ phiếu ...
Tám là, các doanh nghiệp đợc cổ phần hoá sẽ hoạt động trong khuôn khổ Luật
doanh nghiệp cả về hình thức tổ chức quản lý và các hoạt động tài chính. Vì vậy,
Nhà nớc cần thành lập một cơ quan tài chính quốc gia với đội ngũ cán bộ sáng
lập và quản trị để thay mặt nhà nớc quản lý và thực hiện các hoạt động đầu t phần
vốn của Nhà nớc thông qua các công ty cổ phần.
Chín là, các doanh nghiệp đợc cổ phần hoá phải có sự giải quyết rõ ràng, dứt
điểm các vấn đề tồn đọng về tài chính và lao động trớc khi chuyển sang công ty
cổ phần theo đúng những quy định đã ban hành của nhà nớc.
2. Những điểm mới của nghị định 44/CP của chính phủ chuyển doanh
nghiệp nhà nớc thành công ty cổ phần.
2.1. Về đối tợng cổ phần hoá.
Điều 1: Nghị định 44/CP vẫn giữ nguyên nh nghị định 28/CP song Chính
phủ đã ban hành kèm theo mục lục danh mục các loại doanh nghiệp nhà nớc để
lựa chọn cổ phần hoá, bao gồm 3 loại:
a> Loại doanh nghiệp nhà nớc hiện cha tiến hành cổ phần hoá .
b> Loại doanh nghiệp nhà nớc hiện có. Nhà nớc cần nắm giữ cổ phần
chi phối, cổ phần đặc biệt khi tiến hành cổ phần hoá.
c> Các loại doanh nghiệp hiện có còn lại, đều có thể thực hiện cổ phần
hóa và áp dụng các hình thức chuyển đổi sở hữu khác trong đó Nhà
nớc không giữ cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt.
2.2. Về mục tiêu cổ phần hóa: Điều 2 Nghị định 44/CP bổ sung thêm một
nội dung là nhằm thay đổi phơng thức quản lý.
2.3. Về đối tợng mua cổ phần ở các doanh nghiệp nhà nớc cổ phần hóa. Điều


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status