Tự do hóa tài chính - kinh nghiệm quốc tế và giải pháp đối với Việt Nam thời kỳ sau khi gia nhập WTO - Pdf 13

TRƯờNG ĐạI HọC NGOạI THƯƠNG
Khoa kinh tế THế GiớI Và QUAN Hệ KINH Tế QuốC Tế


LUậN VĂN THạC Sỹ
Đề tài
:
T DO HểA TI CHNH KINH NGHIM QUC T V
GII PHP I VI VIT NAM THI K SAU KHI GIA
NHP WTO Giáo viên hớng dẫn : PGS.TS. NG TH NHN
Sinh viên thực hiện : NGUYN TH HềA BèNH
Lớp : Cao học 12


6
7
7
9
10
16
16
20
22
28
28
31
33
2.1 Tự do hóa tài chính theo WTO của Hàn Quốc
2.2 Tự do hoá tài chính theo WTO của Thái Lan
2.3 Tự do hóa tài chính theo WTO của Malaysia
2.4 Tự do hóa tài chính theo WTO của Trung Quốc
2.5 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
CHƯƠNG III GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI TIẾN TRÌNH TỰ DO HÓA
TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM THỜI KỲ SAU WTO
3.1 Tóm tắt cam kết tự do hoá tài chính theo WTO của Việt Nam
34
39
42
46
53
59

59
3.2 Thực trạng tự do hóa tài chính theo WTO của Việt Nam


71
71
73

75

75

77
77
79
80

82
83
83
83
87
90
90
91
92
93
93
95
96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC



Bảo hiểm tiền gửi
ĐTNN

Đầu tư nước ngoài
NHNN/NHTW

Ngân hàng Nhà nước/Ngân
hàng Trung ương
NHTM

Ngân hàng thương mại
NHTMCP

Ngân hàng thương mại cổ phần
NHTMNN

Ngân hàng thương mại nhà
nước
TCTD

Tổ chức tín dụng
TTCK

Thị trường chứng khoán

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1
Mức độ cam kết tự do hoá tài chính trong WTO của Hàn
Quốc
34
Bảng 2.2
Mức độ cam kết tự do hoá tài chính trong WTO của một
số nước theo các phương thức cung cấp
35
Bảng 2.3
Hiện diện thương mại của các định chế tài chính nước
ngoài tại Hàn Quốc năm 2000
37
Bảng 2.4
Chỉ số tự do hóa tài chính khi cam kết và thực tế thực hiện
39
Bảng 2.5
Mức độ cam kết tự do hoá tài chính trong WTO của Thái
Lan
40
Bảng 2.6
Một số thay đổi về mặt chính sách đối với định chế tài
chính nước ngoài sau khi Thái Lan gia nhập WTO
41
Bảng 2.7
Mức độ cam kết tự do hoá tài chính trong WTO của
Malaysia
44
Bảng 2.8
Cơ cấu ngành ngân hàng tại Malaysia năm 2007
46

Từ ngày 7/11/2006, Việt Nam chính thức là thành viên của Tổ chức Thương
mại thế giới WTO. Với các cam kết theo Hiệp định chung về thương mại dịch vụ
GATS, Việt nam sẽ mở cửa mạnh mẽ thị trường dịch vụ tài chính. Khi hoàn thành
các cam kết trong GATS, Việt Nam sẽ hoàn thành hai nội dung quan trọng của quá
trình tự do hoá tài chính, đó là tăng cường hiện diện thương mại của các tổ chức tài
chính nước ngoài tại Việt Nam và tự do hóa một phần các luồng vốn quốc tế. Theo
nhận định của người viết, Việt Nam có thể tận dụng lợi thế „người đi sau‟ trong
quá trình thực hiện cam kết bằng cách đúc rút kinh nghiệm thành công cũng như
thất bại của một số nước đi trước có xuất phát điểm tương tự như nước ta. Nghiên
cứu kinh nghiệm của những nước này sẽ giúp Việt Nam nhận thức rõ ràng hơn về
bản chất của quá trình tự do hoá tài chính nói chung và tự do hoá tài chính trong
WTO nói riêng, nhận định được lợi thế và rủi ro của quốc gia khi tự do hoá tài
chính đồng thời tìm ra những bước đi phù hợp với bối cảnh và điều kiện thực tế
của Việt Nam.
Hiện nay, có 3 cách tiếp cận khi nghiên cứu về tự do hoá tài chính. Cách
tiếp cận thứ nhất đi sâu tìm hiểu về tự do hoá tài chính nội địa, trong đó hạt nhân là
tự do hoá lãi suất. Cách tiếp cận thứ hai nghiên cứu về việc mở cửa thị trường tài
chính đối với các tổ chức nước ngoài. Cách tiếp cận thứ ba tập trung phân tích tự
2 do hoá tài chính thông qua các cam kết của WTO. Cách tiếp cận thứ ba tương đối
mới mẻ và thực tế đến nay cũng chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu [12].
Lựa chọn cách tiếp cận thứ ba, người viết chọn đề tài „Tự do hoá tài chính
– Kinh nghiệm quốc tế và giải pháp đối với Việt Nam thời kỳ sau khi gia nhập
WTO‟ làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu ở trong và ngoài nƣớc
Ở nước ngoài: Đã có một số tài liệu nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn về tự
do hoá tài chính theo các cam kết của WTO như: Financial Services
Liberalization in the World Trade Organization (James Gillespie, 2000, Havard

Trên cơ sở hệ thống hoá những vấn đề có tính lý luận chung về tự do hoá tài
chính và nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước về tự do hóa tài chính sau khi
gia nhập WTO, đề tài hướng đến việc đưa ra những bài học thành công, thất bại
của tự do hóa tài chính trong WTO nhằm đề xuất các biện pháp kiểm soát hiệu quả
quá trình tự do hoá tài chính Việt Nam sau WTO.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn có các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Nghiên cứu nội dung của tự do hoá tài chính theo WTO
- Phân tích kinh nghiệm các nước về tự do hoá tài chính theo WTO và rút ra
những bài học điển hình về thành công và thất bại của tự do hoá tài chính
- Đánh giá thực trạng quá trình thực hiện các cam kết tự do hóa tài chính
theo WTO ở Việt Nam
- Đề xuất những biện pháp nhằm kiểm soát tiến trình tự do hoá tài chính ở
Việt Nam thời kỳ hậu WTO.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn: các cam kết về tự do hoá dịch vụ tài
chính theo quy định của WTO và quá trình tự do hoá tài chính ở một số nước và ở
Việt Nam sau khi gia nhập WTO.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu là tự do hóa
tài chính trong WTO, đặc biệt tiếp cận 2 nội dung quan trọng của tự do hóa tài
4 chính nói chung, đó là: hiện diện thương mại trên thị trường tài chính và tự do hoá
dòng vốn quốc tế.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn lấy phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin và
quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế-tài chính làm phương pháp luận. Ngoài
ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu tổng hợp, thống kê, phân
tích, đối chiếu, so sánh, diễn giải và quy nạp.

niệm đối nghịch „kiềm chế tài chính‟. McKinnon và Shaw, người đặt nền tảng lý
thuyết về tự do hoá tài chính, trong tác phẩm “Tiền và Vốn trong phát triển kinh
tế” (1973) mô tả hệ thống tài chính bị kìm hãm là hệ thống trong đó chính phủ đưa
ra các quyết định về phân bổ tín dụng và lãi suất, quyết định cấp phép và hoạt động
được phép của các tổ chức tài chính và kiểm soát luồng vốn quốc tế [2, tr.6].
Như vậy, đối lập với kiềm chế tài chính, tự do hóa tài chính thực chất là
quá trình xóa bỏ những kìm hãm và những ràng buộc về mặt tài chính hay là
quá trình để các công cụ của chính sách tài chính tiền tệ vận hành theo cơ chế
thị trường, chuyển vai trò điều tiết tài chính từ bàn tay hữu hình của chính phủ
sang bàn tay vô hình của thị trường, từ quản lý hành chính sang quy luật thị
trường. Tuy nhiên, cũng giống như bất kỳ quan hệ kinh tế nào khác, trong các
quan hệ tài chính, vai trò điều tiết của “bàn tay vô hình” và “bàn tay hữu hình”
không thể hoàn toàn triệt tiêu cho nhau. [2, tr.8]
Nội dung cơ bản của tự do hóa tài chính bao gồm:
+ Tự do hóa lãi suất, hạt nhân của tự do hóa tài chính, theo đó lãi suất do thị
trường quyết định, tùy thuộc vào cung cầu đầu tư, vào mức tiết kiệm và thu nhập
trong nền kinh tế.
+ Loại bỏ kiểm soát tín dụng. Cụ thể, nguồn vốn trong nền kinh tế được
phân bổ dựa trên lãi suất thị trường và mức độ tin cậy của người đi vay chứ không
phải bằng các biện pháp hành chính.
+ Tự do hóa hoạt động của các tổ chức tài chính trên thị trường tài chính
như: đảm bảo quyền tự chủ của các tổ chức tài chính, chấm dứt sự can thiệp vào
công việc hàng ngày của các tổ chức tài chính; xóa bỏ rào cản hành chính gia nhập
6 thị trường dịch vụ tài chính; chấm dứt sự phân biệt đối xử về pháp lý giữa những
loại hình hoạt động khác nhau; cho phép sở hữu tư nhân trong các ngân hàng và tổ
chức tài chính.
+ Tự do hóa luồng vốn quốc tế, xóa bỏ các hạn chế về quản lý ngoại hối và

quy tắc chung về thương mại dịch vụ trong lĩnh vực tài chính trên cơ sở các cam
kết về mở cửa thị trường và đãi ngộ quốc gia. Như vậy, khi nói đến tự do hóa tài
chính trong WTO là nói đến tự do hoá theo biểu cam kết về dịch vụ tài chính, hay
còn gọi là tự do hóa dịch vụ tài chính. Nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu, trong
luận văn này, các khái niệm tự do hóa tài chính, tự do hóa tài chính trong WTO
và tự do hóa dịch vụ tài chính được sử dụng thay thế lẫn nhau.
Cần lưu ý rằng, tự do hóa tài chính nói chung và tự do hóa dịch vụ tài chính
là hai khái niệm không đồng nhất. Tự do hóa dịch vụ tài chính được thể hiện thông
qua các cam kết gia nhập WTO về dịch vụ tài chính. Các cam kết này nới lỏng quy
định về hiện diện thương mại của tổ chức tài chính nước ngoài trên thị trường
nước thực hiện cam kết và, trong một số trường hợp, nới lỏng các quy định về di
chuyển các dòng vốn quốc tế ra/vào lãnh thổ của nước đó (sẽ phân tích dưới đây).
Tự do hóa dịch vụ tài chính do đó chỉ là một phần nội dung của tự do hóa tài chính
nói chung: mở cửa thị trường tài chính trong nước đối với các định chế tài chính
nước ngoài (hiện diện thương mại) và tự do hóa dòng vốn quốc tế.
1.2.1 Quy định của WTO về tự do hóa tài chính
1.2.1.1 Tổng quan Hiệp định chung về thương mại và dịch vụ GATS
Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS) là một bộ phận không thể
tách rời trong hệ thống pháp lý của WTO và là văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt
động thương mại dịch vụ giữa các nước thành viên WTO. GATS ra đời như một
trong những kết quả quan trọng của Vòng đàm phán Urugoay. GATS hoạt động
với mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng thương mại của mọi nước thành viên và đảm
bảo luật pháp có tính dự báo nhằm phát triển thương mại và đầu tư để tiến dần tới
tự do hoá thương mại dịch vụ.
Theo GATS, dịch vụ được chia thành 12 ngành và 155 tiểu ngành, trong đó
dịch vụ tài chính là ngành dịch vụ lớn nhất.
GATS quy định những nghĩa vụ và nguyên tắc hoạt động trong thương mại
8 cho phép các thành viên đưa ra các hạn chế mang tính "nhu cầu kinh tế".
Nguyên tắc “tự do hóa dần dần” (Điều XIX): phản ánh sự chấp nhận
chung là tự do hóa sẽ được thực hiện từng bước.
Nguyên tắc về giải quyết tranh chấp: tất cả các cam kết đều ràng buộc về
mặt pháp lý. Quốc gia bị vi phạm quyền lợi có thể khiếu nại. Nếu chứng minh
được quyền lợi của mình bị vi phạm, quốc gia đó có thể áp dụng các biện pháp
trừng phạt đối với nước vi phạm cam kết. [20], [5]
1.2.1.2 Khái niệm dịch vụ tài chính
Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) định nghĩa dịch vụ tài
chính là “bất kỳ dịch vụ nào mang tính chất tài chính được các nhà cung cấp
dịch vụ tài chính cung cấp cho một nước thành viên”. Mặc dù có một danh mục
các dịch vụ tài chính rất chi tiết trong GATS nhưng cho tới nay chúng vẫn chưa
bao gồm hết các dịch vụ tài chính có thể xảy ra trong thực tế.
Các dịch vụ tài chính trong GATS bao gồm:
 Bảo hiểm và các dịch vụ liên quan đến bảo hiểm
 Dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác.
Bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến bảo hiểm bao gồm:
 Bảo hiểm gốc
 Bảo hiểm nhân thọ, trừ bảo hiểm y tế
 Bảo hiểm phi nhân thọ
 Tái bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm
 Trung gian bảo hiểm (như môi giới bảo hiểm và đại lý bảo hiểm)
 Dịch vụ hỗ trợ bảo hiểm (như tư vấn, dịch vụ tính toán, đánh giá rủi ro và
giải quyết bồi thường)
Ngân hàng và dịch vụ tài chính khác bao gồm:
 Nhận tiền gửi và các khoản phải trả khác từ công chúng
 Cho vay dưới tất cả các hình thức, bao gồm tín dụng tiêu dùng, tín dụng
cầm cố thế chấp, bao thanh toán và tài trợ giao dịch thương mại

khác thâm nhập thị trường trong nước và được hưởng chế độ đãi ngộ quốc gia.
Các quốc gia thành viên WTO thực hiện cam kết thương mại dịch vụ thông
qua một biểu cam kết có cấu trúc như bảng 1.1
11 Bảng 1.1 Cấu trúc biểu cam kết dịch vụ
Phƣơng thức cung cấp (1) Cung cấp qua biên giới (2) Tiêu dùng ngoài lãnh
thổ (3) Hiện diện thƣơng mại (4) Hiện diện thể nhân
Ngành và phân
ngành
Hạn chế tiếp cận
thị trƣờng
Hạn chế đối xử
quốc gia
Cam kết bổ sung
I. Cam kết chung

(3) Không hạn
chế, ngoại trừ
(1) Không hạn
chế …




 Phương thức 3 (hiện diện thương mại): là sự hiện diện thương mại của
nhà cung cấp thành viên tại lãnh thổ của một thành viên khác để cung cấp
dịch vụ tài chính cho người tiêu dùng trong nước. Ví dụ, một ngân hàng
nước ngoài hoặc một định chế tài chính khác thành lập chi nhánh hoặc công
ty con tại lãnh thổ của một quốc gia và cung cấp các dịch vụ tài chính.
 Phương thức 4 (hiện diện thể nhân): bao hàm việc cung cấp dịch vụ thông
qua hiện diện thể nhân của một thành viên tại lãnh thổ của một thành viên
khác. Phương thức này liên quan đến nhà cung cấp dịch vụ độc lập và nhân
viên của pháp nhân cung cấp dịch vụ, bao hàm cả việc hiện diện tiềm năng,
ví dụ, của nhà tư vấn tài chính độc lập cũng như việc chuyển giao nội bộ
nhà quản lý ngân hàng.
Nếu cam kết theo chiều dọc, các nước sẽ cam kết trên cơ sở hạn chế tiếp
cận thị trường, hạn chế đối xử quốc gia và các cam kết bổ sung:
Cột hạn chế về tiếp cận thị trường: liệt kê các biện pháp duy trì đối với các
nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài. GATS quy định 6 loại biện pháp hạn chế bao
gồm: (1) hạn chế về số lượng nhà cung cấp dịch vụ; (2) hạn chế về tổng giá trị của
các giao dịch hoặc tài sản; (3) hạn chế về tổng số hoạt động dịch vụ hoặc số lượng
dịch vụ cung cấp; (4) hạn chế về số lượng lao động; (5) hạn chế hình thức thành
lập doanh nghiệp; (6) hạn chế góp vốn của nước ngoài. Biểu cam kết nào liệt kê
càng nhiều biện pháp nói trên thì mức độ mở cửa thị trường cho các nhà cung cấp
dịch vụ nước ngoài càng hẹp.
Cột hạn chế về đối xử quốc gia: liệt kê các biện pháp nhằm duy trì sự phân
biệt đối xử giữa nhà cung cấp dịch vụ trong nước với nhà cung cấp dịch vụ nước
ngoài. Biểu cam kết nào liệt kê càng nhiều biện pháp trong cột hạn chế về đối xử
quốc gia thì sự phân biệt đối xử giữa các nhà cung cấp dịch vụ trong nước với các
nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài càng lớn.
Cột cam kết bổ sung: liệt kê các biện pháp ảnh hưởng đến hoạt động cung
cấp và tiêu dùng dịch vụ nhưng không thuộc về hạn chế tiếp cận thị trường hay hạn
chế về đối xử quốc gia. Cột này mô tả những quy định liên quan đến trình độ, tiêu

diện thương mại) tuy nhiên tổ chức bảo hiểm nước ngoài vẫn bị hạn chế theo cam
kết chung, đó là: các khoản trợ cấp có thể chỉ dành cho các nhà cung cấp dịch vụ
14 Việt Nam; việc giành trợ cấp một lần để thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi cho
quá trình cổ phần hóa không bị coi là vi phạm cam kết này.
Cam kết kèm theo những hạn chế: Các thành viên chấp nhận mở cửa thị
trường cho một hoặc nhiều ngành dịch vụ nhưng liệt kê tại các cột tương ứng của
Biểu cam kết các biện pháp hạn chế áp dụng cho nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài.
Khi đó, các Thành viên sẽ thể hiện trong Biểu cam kết của mình các cụm từ như
“Không hạn chế, ngoại trừ ….” hoặc “Chưa cam kết, ngoại trừ…”. Xuất phát từ
nguyên tắc chọn - bỏ, nếu chỉ liệt kê biện pháp mà không kèm theo một trong hai
cụm từ trên thì đương nhiên hiểu là "Không hạn chế, ngoại trừ …".
Ví dụ: Trong biểu cam kết gia nhập WTO của Việt Nam về lĩnh vực ngân
hàng và các dịch vụ tài chính khác, Việt Nam chưa cam kết theo phương thức 1
(cung cấp dịch vụ qua biên giới) trong các lĩnh vực dịch vụ được liệt kê, ngoại trừ:
việc cung cấp và chuyển thông tin tài chính và xử lý dữ liệu tài chính cũng như các
phần mềm liên quan của các nhà cung cấp các dịch vụ tài chính khác; các dịch vụ
tư vấn, trung gian môi giới và các dịch vụ tài chính phụ trợ, kể cả tham chiếu và
phân tích tín dụng, nghiên cứu và tư vấn đầu tư và danh mục đầu tư, tư vấn về mua
lại và về tái cơ cấu và chiến lược doanh nghiệp. Tức là trong các lĩnh vực loại trừ
được liệt kê, tổ chức tài chính nước ngoài được phép cung cấp dịch vụ trên thị
trường Việt Nam.
Một ví dụ khác, cũng trong lĩnh vực ngân hàng và các dịch vụ tài chính
khác, Việt Nam sẽ dành chế độ ưu đãi bình đẳng giữa các ngân hàng trong nước và
nước ngoài; tuy nhiên, lại đưa ra các hạn chế khi thành lập chi nhánh ngân hàng
nước ngoài như: ngân hàng mẹ có tổng tài sản có trên 20 tỷ đôla Mỹ vào cuối năm
trước thời điểm nộp đơn hoặc các điều kiện thành lập một ngân hàng liên doanh
hoặc một ngân hàng 100% vốn đầu tư nước ngoài: ngân hàng mẹ có tổng tài sản

của hệ thống đó thông qua việc áp dụng một loạt các chuẩn mực an toàn
(prudential standards). Về nguyên tắc, các biện pháp thận trọng không nhất thiết
phải phù hợp với nguyên tắc tối huệ quốc, đối xử quốc gia và cam kết tiếp cận thị
trường. Tuy nhiên, cơ chế giám sát an toàn không nên bị lạm dụng để tránh thực
hiện cam kết. [3]

16 1.2.2 Nội dung và xu hƣớng tự do hoá tài chính trong WTO
1.2.2.1 Nội dung tự do hoá tài chính trong WTO
Như đã đề cập ở trên, tự do hóa tài chính trong WTO, hoặc tự do hóa dịch
vụ tài chính, chỉ thể hiện một phần nội dung của tự do hóa tài chính, đó là: mở cửa
thị trường tài chính trong nước đối với các định chế tài chính nước ngoài (hiện
diện thương mại) và tự do hóa dòng vốn quốc tế. Cụ thể:
Các cam kết theo phương thức 3 (hiện diện thương mại) biểu hiện chính
sách mở cửa thị trường tài chính trong nước với bên ngoài. Trong một nền kinh tế
có thị trường tài chính đóng, hoạt động tài chính ngân hàng tập trung chủ yếu vào
ngân hàng nhà nước. Các ngân hàng tư nhân hoặc ngân hàng nước ngoài bị giới
hạn hình thức, lĩnh vực hoạt động, thậm chí đối tượng kinh doanh. Ví dụ: ngân
hàng nước ngoài không được huy động/cho vay bằng đồng nội tệ; ngân hàng nước
ngoài chỉ được phép thành lập chi nhánh, nhà đầu tư nước ngoài không được nắm
giữ quá 30% tỷ lệ vốn điều lệ của ngân hàng trong nước…. Khi một nước đưa ra
cam kết theo phương thức 3 trong WTO, nước đó sẽ xóa bỏ theo mức độ cam kết
các rào cản gia nhập thị trường (6 rào cản như đã nêu trong mục 1.2.1.3) và thực
hiện đối xử bình đẳng giữa các chủ thể trong nền kinh tế, theo đó khuyến khích sự
có mặt của các định chế tài chính nước ngoài tại thị trường trong nước. Thực tế về
hiện diện thương mại của tổ chức tài chính nước ngoài tại đa số các nước gia nhập
WTO có cam kết mạnh theo phương thức 3 đã chứng minh điều này.
Cam kết về tự do hóa dòng vốn quốc tế (tự do hóa tài khoản vãng lai và tự

cam kết không hạn chế đối với cho vay tài trợ giao dịch thương mại của các tổ
chức tài chính nước ngoài đối với các doanh nghiệp trong nước, điều này cũng
đồng nghĩa với việc Việt Nam phải có những thay đổi tương ứng về mặt chính
sách luật pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức trong nước được vay
vốn tài trợ thương mại ngắn hạn từ nước ngoài như cắt giảm bớt các thủ tục đăng
ký khoản vay, xóa bỏ giấy phép con
Tuy nhiên, không phải cam kết nào về dịch vụ tài chính trong WTO cũng
kéo theo tự do hoá dòng vốn quốc tế. Bảng 1.2 và phụ lục 1 liệt kê một số ví dụ
chứng minh thương mại quốc tế có thể đi kèm hoặc không đi kèm sự vận động các
luồng vốn quốc tế ra/vào lãnh thổ một nước.
18 Bảng 1.2 Sự di chuyển dòng vốn nội địa/quốc tế theo các cam kết trong WTO

Vay bằng đồng nội tệ
Vay bằng đồng ngoại tệ
Vốn vay từ ngân
hàng nước ngoài ở
nước ngoài (cung
cấp dịch vụ theo
phương thức 1)
(a) Chỉ liên quan đến
thương mại dịch vụ
quốc tế
(b) Có sự di chuyển luồng vốn quốc
tế và thương mại dịch vụ quốc tế
Vốn vay từ ngân
hàng nước ngoài
hoạt động tại thị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status