1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
***
Phạm Xuân Thụy
Các rào cản trong thƣơng mại quốc tế và yêu cầu đối với hoạt động
xuất khẩu củaViệt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và Quan hệ kinh tế quốc tế
Mã số: 60.31.07
Luận văn thạc sỹ Kinh tế
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRỊNH THỊ THU HƢƠNG HÀ NỘI - 2006 2
MỤC LỤC Trang
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾ TẮT
LỜI MỞ ĐẦU
1
CHƢƠNG I. TỔNG QUAN VỀ CÁC RÀO CẢN TRONG THƢƠNG MẠI
3.2.2.6 Quản lý tỷ giá hối đoái
19
1.3.2.7 Tỷ lệ nội địa hoá bắt buộc
19
1.3.2.8 Các biện pháp liên quan đến các doanh nghiệp nhà nước và
quyền kinh doanh thương mại
20
1.3.2.9 Các rào cản khác
20 3
1.4 Qui định của WTO về các rào cản trong thƣơng mại quốc tế
20
1.4.1 Qui định của WTO về rào cản thuế quan
21
1.4.1.1 Qui định của WTO về thuế quan
21
1.4.1.2 Qui định của WTO về hạn ngạch thuế quan
23
1.4.2 Qui định của WTO về các rào cản phi thuế quan
24
1.4.2.1 Các biện pháp tương đương thuế quan
24
1.4.2.2 Các biện pháp hạn chế định lượng
25
1.4.2.3 Các biện pháp liên quan đến doanh nghiệp
28
2.1.3.2 Rào cản phi thuế quan của Trung Quốc
57
2.1.4 Các rào cản thương mại của thị trường các nước ASEAN
61 4
2.1.4.1 Rào cản thuế quan của các nước ASEAN
62
2.1.4.2 Rào cản phi thuế quan của các nước ASEAN
63
2.2 ảnh hƣởng của các rào cản thƣơng mại tại các thị trƣờng chính đến hoạt
động xuất khẩu của Việt Nam
66
2.2.1 ảnh hưởng của các rào cản thuế quan
66
2.2.2 Ảnh h-ëng cña c¸c rµo c¶n phi thuÕ quan
67
CHƢƠNG III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ NHẰM ĐỐI PHÓ VỚI
CÁC RÀO CẢN TRONG THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ, ĐẨY MẠNH XUẤT
KHẨU CỦA VIỆT NAM
70
1. Chiến lƣợc phát triển xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ 2000-2010
70
2. Kinh nghiệm đối phó với các rào cản trong thƣơng mại quốc tế của một số nƣớc
72
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Viết tắt
Tiếng Anh
Tiếng Việt
ADP
(Agreement on) Anti-Dumping
Practices
Hiệp định về chống bán phá giá
AFTA
ASEAN Free Trade Area
Khu vực tự do thương mại ASEAN
APEC
Asia-Pacific Economic
Cooperation
Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á -
Thái Bình Dương
ASEAN
Association of South-East Asian
Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á
CEPT
Common Effective Preferential
Tariff
Chương trình ưu đãi thuế quan có
hiệu lực chung của ASEAN
DOC
Department of Commerce
Bộ Thương mại Hoa Kỳ
Hiệp định về trợ cấp và các biện
pháp đối kháng của WTO
WTO
World Trade Organization
Tổ chức Thương mại thế giới
VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
TCVN
Tiêu chuẩn Việt Nam
TMQT
Thương mại quốc tế 6
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Thương mại quốc tế, từ lâu, đã đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển
kinh tế ở mọi quốc gia. Thông qua thương mại quốc tế, các quốc gia tiến hành trao đổi
để phát huy hết các lợi thế và khắc phục các hạn chế của nền kinh tế nước mình. Tuy
nhiên, tham gia vào thương mại quốc tế không có nghĩa là tham gia vào một cuộc
chơi hoàn toàn bình đẳng, bởi vì, các quốc gia khi tham gia vào thương mại quốc tế
đều cố gắng phát huy hết khả năng để thu được lợi ích tối đa nhất nhưng đồng thời
cũng luôn bảo hộ thị trường cho các doanh nghiệp nội địa. Để làm được điều này
Chính phủ các quốc gia đã lập nên các hàng rào, cả hữu hình lẫn vô hình để ngăn cản
hàng hoá, dịch vụ từ nước ngoài thâm nhập và cạnh tranh với các doanh nghiệp trong
nước. Trong đó, các nước giàu, các nước có nền kinh tế phát triển, với các ưu thế của
mình lại là những nước áp dụng mạnh mẽ nhất các biện pháp này đối với hàng hoá từ
các quốc gia đang và chậm phát triển. Ngay cả trong bối cảnh tự do hoá thương mại
và quốc tế hoá đời sống kinh tế như hiện nay thì các rào cản thương mại này chẳng
đề cập đến vấn đề này, có thể nêu ra: “Bảo hộ hợp lý sản xuất và mậu dịch nông sản
trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế”- Đề tài nghiên cứu cấp bộ của
Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội (2002-2003), “Hệ thống rào cản kỹ thuật trong
thương mại quốc tế và những giải pháp để vượt rào cản kỹ thuật của các doanh nghiệp
ở Việt Nam”–Viện Nghiên cứu thương mại, Bộ Thương Mại (2001-2002), “Nghiên
cứu các rào cản trong thương mại quốc tế và đề xuất các giải pháp đối với Việt Nam”-
Bộ Thương Mại (2003-2004).
Tuy nhiên, với việc Việt Nam sẽ sớm trở thành thành viên của Tổ chức thương
mại thế giới (WTO) trong năm 2006 này người vấn đề đặt ra là phải nghiên cứu các
rào cản trong thương mại quốc tế dựa trên các qui định của WTO để từ đó tạo đà cho
hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam vượt qua các rào cản, đẩy mạnh hoạt động xuất
khẩu của nước ta.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích các hình thức rào cản trong thương mại quốc tế, đặc biệt
là dựa trên các qui định của WTO, luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu các rào cản thương
mại ở các thị trường xuất khẩu chính mà hàng hoá của Việt Nam đang vấp phải cũng
như đề xuất các giải pháp để vượt rào cản, đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu 8
- Chỉ ra và phân tích các rào cản đang được áp dụng trong thương mại quốc tế
dựa trên qui định của WTO
- Phân tích các rào cản thương mại của một số thị trường xuất khẩu chủ yếu của
Việt Nam
- Đề xuất các biện pháp vượt rào cản thương mại cho Việt Nam.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hình thức rào cản đang được áp dụng
QUỐC TẾ
1.1 Khái niệm về rào cản trong thƣơng mại quốc tế
Khi tham gia vào thương mại quốc tế (TMQT), các quốc gia đều cố gắng phát
huy hết các lợi thế của mình, tận dụng các ưu thế trên thị trường quốc tế nhưng mặt
khác chính các quốc gia đó lại cũng phải đối mặt với những lợi thế của các quốc gia
khác là đối thủ cạnh tranh. Lợi thế cho quốc gia này đồng nghĩa với sự yếu thế cho
quốc gia khác. Để khắc phục, các quốc gia sẽ sử dụng một loạt các công cụ để điều
chỉnh hoạt động thương mại. Công cụ truyền thống và hiện vẫn được sử dụng phổ
biến hơn cả là đánh thuế nhập khẩu đối với hàng hoá của các quốc gia khác khi thâm
nhập vào thị trường trong nước, cùng với đó là hàng loạt các khoản thu, các qui định,
các chính sách nhằm hạn chế hàng hoá của nước ngoài xâm nhập thị trường nội địa.
Đối với nước xuất khẩu lúc này hàng hoá của họ sẽ phải đối mặt với một hàng rào mà
người ta gọi là rào cản thương mại.
Thuật ngữ “rào cản thương mại” (barriers to trade) hay “hàng rào thương mại”
đã được sử dụng khá phổ biến, được đề cập đến ở nhều nơi như trong phần
“UNDERSTANDING THE WTO: THE AGREEMENTS” của WTO hay trong các
nghiên cứu của Nhóm làm việc của Uỷ ban về thương mại thuộc Tổ chức Hợp tác và
Phát triển kinh tế (OECD). Tuy nhiên, cho đến nay, có thể nói rằng vẫn chưa có một
định nghĩa nào cụ thể về các rào cản trong thương mại. Trong Hiệp định về các rào
cản kỹ thuật đối với thương mại của WTO có một khái niệm về rào cản thương mại
nhưng mới chỉ dừng lại ở việc thừa nhận như một thoả thuận rằng “không một nước
nào có thể bị ngăn cản tiến hành các biện pháp cần thiết để đảm bảo chất lượng hàng
hoá xuất khẩu của mình, hoặc để bảo vệ cuộc sống hay sức khoẻ con người, động và
thực vật, bảo vệ môi trường hoặc để ngăn ngừa các hoạt động man trá, ở mức độ mà
nước đó cho rằng phù hợp và phải đảm bảo rằng các biện pháp này không được tiến
hành với cách thức có thể gây ra phân biệt đối xử một cách tuỳ tiện hoặc không thể
biện minh được giữa các nước, trong các điều kiện giống nhau, hoặc tạo ra các hạn 10
mang tính tạm thời; có biện pháp chung nhưng cũng có biện pháp mang tính chuyên
ngành; có những biện pháp trực tiếp đối với hàng hoá xuất nhập khẩu và cũng có biện
pháp gián tiếp như đầu tư liên quan đến thương mại. Chính vì tính đa dạng và phức 11
tạp của các rào cản trong TMQT này đã đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu không chỉ bản
chất và thực tiễn áp dụng chúng mà phải nắm rõ được vai trò và mục tiêu của các
quốc gia khi xây dựng và áp dụng chúng.
1. 2 Sự hình thành và mục đích sử dụng các rào cản thƣơng mại quốc tế
1.2.1 Sự hình thành các rào cản trong thƣơng mại quốc tế
Rào cản thương mại nằm trong hệ thống các chính sách thương mại của các
quốc gia, chính vì vậy, cũng như các biện pháp khác chúng có vai trò chủ yếu trong
trong việc tác động và điều chỉnh hoạt động thương mại theo hướng có lợi nhất, đáp
ứng các mục tiêu và yêu cầu xác định của mỗi quốc gia.
Rào cản trong TMQT bao gồm nhiều loại khác nhau và mỗi loại rào cản lại có
vai trò nhất định riêng của nó. Ví dụ, cả rào cản thuế quan và rào cản phi thuế quan
đều có tác dụng bảo hộ sản xuất trong nước. Thuế quan thì có ưu điểm là rõ ràng,
minh bạch, có thể dự đoán và là nguồn thu quan trọng cho Chính phủ nhưng thuế
quan lại dễ làm sai lệch các tín hiệu thị trường dẫn đến phân bổ các nguồn lực không
hợp lý, hơn nữa thuế quan không có tính bảo hộ cao và kịp thời được như các biện
pháp phi thuế quan. Trong khi đó, các biện pháp phi thuế quan như cấm nhập khẩu,
hạn ngạch nhập khẩu, cấp giấy phép nhập khẩu có tác dụng hạn chế nhập khẩu
nhanh chóng. Một biện pháp phi thuế quan có thể được áp dụng cho nhiều mục đích
khác nhau. Ví dụ, với các qui định về vệ sinh và kiểm dịch động thực vật vừa nhằm
mục đích bảo vệ sức khoẻ, bảo vệ cuộc sống của con người và động thực vật vừa có
tác động gián tiếp giúp bảo hộ sản xuất trong nước. Hai nữa, để phục vụ cho một mục
tiêu nhất định, ví dụ hạn chế nhập khẩu thịt bò người ta có thể vận dụng cùng lúc
nhiều biện pháp phi thuế quan khác nhau như cấm nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu,
thành phần xã hội cũng như tổng thể để quyết định có nên thực thi rào cản đó hay
không. Quá trình này không hề dễ dàng vì việc tính toán lợi ích và thiệt hại là rất khó
khăn nhất là khi nó liên quan đến quyền lợi của các quốc gia là đối tác thương mại có
liên quan.
Từ phía người lao động và người tiêu dùng
Bảo vệ người tiêu dùng là một trong những mục tiêu lớn nhất của việc tạo
dựng và thực thi các rào cản thương mại, đặc biệt là các rào cản kỹ thuật. Với lý do là
bảo vệ sức khoẻ của người tiêu dùng các quốc gia có thể đưa ra các qui định hay tiêu
chuẩn kỹ thuật ở mức rất cao và trở thành rào cản thương mại, mặc dù nguy cơ có thể
chưa được xác định dựa trên cơ sở khoa học.
Một lý do khác dẫn tới việc hình thành rào cản trong thương mại là để bảo vệ
người lao động. Thông qua các nghiệp đoàn của mình, người lao động đã kiến nghị
lên Chính phủ yêu cầu có những biện pháp để đảm bảo công ăn việc làm và một mức 13
thu nhập ổn định cho họ. Và trong bối cảnh TMQT hiện nay, các rào cản thương mại
nhằm bảo hộ cho ngành sản xuất của họ luôn được tính tới.
Thậm chí, vì mục tiêu chính trị của đảng cầm quyền, đối với người lao động và
người tiêu dùng, việc đảm bảo lợi ích cho họ không chỉ là nhiệm vụ của các Chính
phủ mà còn là biện pháp để xoa dịu và lấy được sự tín nhiệm của họ.
Từ phía các doanh nghiệp
Một điều dễ nhận thấy là các nhà sản xuất ở mỗi quốc gia đều cần được bảo
hộ trước sự cạnh tranh của hàng hoá ngoại nhập. Chính vì vậy, các nhà sản xuất ở các
quốc gia thường liên hợp nhau lại tạo thành hiệp hội, từ đó yêu cầu hoặc thậm chí gây
áp lực đối với Chính phủ để thực thi các hàng rào thương mại có lợi cho mình. Các áp
lực từ phía các hiệp hội này thường có tổ chức và được thực hiện dưới nhiều hình
thức khác nhau, từ vận động hành lang cho tới quyên góp tài chính. Trong khi đó, đối
với các Chính phủ, quyền lợi của các doanh nghiệp trong nước cũng chính là quyền
hàng không cho sử dụng sẽ bị cấm nhập khẩu, các hàng hoá không được khuyến
khích sử dụng sẽ bị đánh thuế cao hoặc chỉ cho nhập khẩu một lượng nhất định thông
qua hạn ngạch, giấy phép
Bảo vệ an ninh quốc gia, đạo đức xã hội và bảo vệ môi trường
Vấn đề an ninh quốc gia luôn đòi hỏi các biện pháp cấm hoặc hạn chế tối đa
việc nhập khẩu các hàng hoá là vũ khí, chất nổ, phương tiện chiến tranh, nhất là các
loại vũ khí, chất độc có thể huỷ diệt hàng loạt.
Đạo đức xã hội không cho phép nhập khẩu các văn hoá phẩm không lành
mạnh, các chất gây nghiện làm bại hoại đạo đức và lương tri của con người.
Ngoài ra, một vấn đề chung hiện nay toàn cầu đang cùng phải giải quyết là bảo
vệ môi trường cũng đã làm nảy sinh các rào cản đối với việc luân chuyển hàng hoá từ
nước này sang nước khác. Vấn đề đặt ra ở đây là việc áp dụng các biện pháp này phải
hợp lý và dựa trên các cơ sở khoa học xác thực.
Bảo vệ người tiêu dùng
Bảo vệ người tiêu dùng luôn một trong những mục đích quan trọng nhất của
việc áp dụng các hàng rào thương mại. Sự an toàn của người tiêu dùng luôn được đưa
lên hàng đầu trong việc kiểm soát hàng hoá nhập khẩu với các yêu cầu về tiêu chuẩn
kỹ thuật, vệ sinh và kiểm dịch, yêu cầu về đóng gói và ghi nhãn hiệu.
Các hàng rào cũng giúp ngăn cản các hàng hoá không đảm bảo chất lượng gây
ảnh hưởng đến sức khoẻ và sự an toàn của người dân.
Chống lại cạnh tranh không lành mạnh và trả đũa thương mại
Một điều dễ nhận thấy là mỗi quốc gia khi mở cửa thị trường sẽ gặp rất nhiều
khó khăn với sự cạnh tranh không lành mạnh từ các quốc gia khác thông qua bán phá 15
giá, trợ cấp xuất khẩu Thông thường, trong những tình huống như vậy, các quốc gia
sẽ tiến hành thương lượng nhằm ngăn chặn các biện pháp cạnh tranh không lành
mạnh. Nếu như việc thương lượng không đi đến kết quả, quốc gia đó sẵn sàng thực thi
- Thuế phần trăm: (ad-valorem tariff) được đánh theo tỷ lệ phần trăm trên trị giá
giao dịch của hàng hoá nhập khẩu, ví dụ: mức thuế nhập khẩu cà chua từ Việt Nam
vào Hoa Kỳ là 16%. Hiện nay, đây là loại thuế được sử dụng rộng rãi nhất trong
TMQT.
- Thuế phi phần trăm: (non-ad valorem tariff) bao gồm các loại:
Thuế tuyệt đối: là thuế được xác định bằng một khoản tiền cố định trên một
đơn vị hàng hoá nhập khẩu. Loại thuế này được áp dụng phổ biến nhất đối với các
mặt hàng nông sản. Ví dụ, thuế nhập khẩu hạt tiêu Việt Nam vào Hoa Kỳ hiện là 4,7
cent/kg.
Thuế tổng hợp: là sự kết hợp của cả thuế phần trăm và thuế tuyệt đối. Ví dụ,
mặt hàng nấm giống Agaricus của Việt Nam nhập khẩu vào Hoa Kỳ có mức thuế là
1,3cent/kg + 1,8%.
Căn cứ vào mức độ ưu đãi, có các loại thuế quan sau:
- Thuế thông thường: còn gọi là thuế phi tối huệ quốc (Non-MFN). Đây là mức
thuế cao nhất mà các nước thành viên WTO áp dụng cho hàng hoá nhập khẩu của
những nước chưa phải là thành viên hoặc các nước chưa có kí kết các Hiệp định
Thương mại song phương với nhau. Mức thuế này có thể nằm trong khoảng từ 20%-
110%.
- Thuế tối huệ quốc (MFN): là loại thuế mà các nước thành viên WTO hoặc các
nước có kí kết Hiệp định Thương mại song phương với nhau (như trường hợp của
Việt Nam và Hoa Kỳ) dành cho nhau. Loại thuế này có mức thuế suất thấp hơn nhiều
so với mức thuế suất thông thường.
Thực ra, trong bối cảnh thương mại quốc tế hiện nay, khi hầu hết các quốc gia
đã tham gia vào WTO hoặc đã kí kết các Hiệp định thương mại song phương thì việc
dành cho nhau thuế MFN có thể được coi là “thuế suất thông thường” và mức thuế
thông thường lúc này lại trở thành thuế suất “không thông thường”.
- Thuế quan ưu đãi phổ cập (GSP): Đây là loại thuế mà các quốc gia phát triển
dành cho hàng hoá nhập khẩu từ các quốc gia đang và chậm phát triển, như trường
hợp EU và Nhật Bản dành cho Việt Nam. Mức thuế này thường thấp hơn mức thuế
hoặc bình đẳng” 5 . Liên quan đến các rào cản thương mại phi thuế quan, chúng ta
cần phân biệt được chúng với khái niệm các biện pháp thương mại phi thuế quan
(Non-tariff Measures). Các rào cản thương mại phi thuế quan là các biện pháp phi
thuế quan nhưng không phải tất cả các biện pháp phi thuế quan đều là rào cản phi thuế
quan. Biện pháp phi thuế quan chỉ là rào cản phi thuế quan khi nó được áp dụng quá
mức cần thiết nhằm mục đích bảo hộ. 18
Ưu điểm của việc áp dụng các rào cản phi thuế quan là:
- Các rào cản phi thuế quan thường rất đa dạng. Có thể áp dụng nhiều biện pháp
phi thuế quan khác nhau cho một mục tiêu nhất định, đồng thời, có thể áp dụng một
rào cản phi thuế quan cho nhiều mục tiêu khác nhau cùng lúc.
- Nhiều rào cản phi thuế quan rất tinh vi, và vì vậy có thể tránh được sự phản đối
từ các đối tác bị áp dụng rào cản, nhất là khi các nước muốn sử dụng chúng để bảo hộ
cho các ngành nội địa. Ví dụ như việc các rào cản ẩn mình dưới dạng các tiêu chuẩn
kỹ thuật. Hơn nữa, rất nhiều các biện pháp trong số này hiện vẫn không bị cấm sử
dụng như áp dụng các qui định về an toàn, vệ sinh, kiểm dịch, qui định về bảo vệ môi
trường
- Có hiệu lực ngay, khi muốn ngăn chặn việc nhập khẩu một hàng hoá nào đó.
Điều này thì thuế quan không thể làm được.
Về nhược điểm, các rào cản phi thuế quan không có tác dụng tăng thu ngân
sách cho nhà nước, gây bất bình trong quan hệ với đối tác, nhiều khi nó cũng làm sai
lệch tín hiệu của thị trường. Đối với các nhà xuất khẩu, các rào cản phi thuế quan
thường không rõ ràng và khó dự đoán.
Rào cản phi thuế quan bao gồm rất nhiều loại khác nhau, có thể được áp dụng
ở biên giới hay nội địa, có thể là biện pháp hành chính và cũng có thể là các biện pháp
kỹ thuật, có những biện pháp bắt buộc phải thực hiện nhưng cũng có những biện pháp
hoàn toàn tự nguyện. Chính vì tính đa dạng của mình mà các rào cản có thể trùng lắp
giới hạn ở mức phù hợp với các dịch vụ được sử dụng, nhưng trên thực tế hầu hết các
khoản lệ phí này, cũng như các khoản phí và khoản thu khác, là đánh trên trị giá hàng
hoá chứ không phải dựa trên giá trị của các dịch vụ được sử dụng. Theo thống kê của
OECD tháng 3/2005 có 51% các khoản lệ phí kiểu này ở các nước phát triển là được
tính trên trị giá hàng, ở các nước đang phát triển là 71-76% và ở các quốc gia chậm
phát triển là 83%.
Ngoài ra, các biện pháp tương đương thuế quan còn có thể còn bao gồm:
- Thuế đánh trên việc chuyển đổi ngoại tệ
- Thuế tem hải quan
- Thuế hoá đơn lãnh sự quán
- Phí giấy phép nhập khẩu hàng hoá
- Thuế và phí thu thêm đối với các danh mục hàng hoá nhạy cảm
- Các khoản thu nội địa đối với hàng hoá nhập khẩu… 20
1.3.2.2 Các biện pháp hạn chế định lượng (Quantitative Restriction)
Đây là nhóm các biện pháp qui định trực tiếp về số lượng hoặc giá trị hàng hoá
được nhập khẩu. Các biện pháp này hiện bị chỉ trích nhiều nhất và đang dần được gỡ
bỏ. Các biện pháp hạn chế định lượng bao gồm:
Cấm nhập khẩu (Prohibition)
Đây là biện pháp bảo hộ cao nhất khi một quốc gia tiến hành lệnh cấm toàn
diện việc nhập khẩu hàng hoá từ một thị trường nào đó, cấm nhập khẩu một mặt hàng
nào đó hoặc cấm phần lớn các doanh nghiệp mà chỉ cho một số doanh nghiệp xác
định được nhập khẩu hàng hoá.
Thông thường biện pháp này được thực hiện nhằm đảm bảo an ninh quốc gia
(ví dụ như cấm nhập khẩu vũ khí, đạn dược), bảo vệ đạo đức xã hội (cấm nhập khẩu
các văn hoá phẩm không lành mạnh), bảo vệ tài sản quốc gia về nghệ thuật, lịch sử,
khảo cổ, bảo vệ môi trường và các tài nguyên thiên nhiên khan hiếm, bảo vệ cuộc
Khác biệt cơ bản nhất giữa việc cấp phép nhập khẩu tự động và không tự động
là cấp giấy phép tự động chỉ nhằm mục đích thống kê thương mại để quản lý và điều
tiết hoạt động nhập khẩu, cấp phép tự động đáp ứng cho mọi trường hợp xin cấp phép
và ngay khi có yêu cầu xin cấp phép. Trong khi đó, cấp giấy phép nhập khẩu không tự
động là một biện pháp kiểm soát nhập khẩu theo đó người xin cấp phép phải đáp ứng
được một số tiêu chí nhất định. Cấp giấy phép nhập khẩu không tự động có thể được
áp dụng cho nhiều mục đích khác nhau, nó có thể vì mục đích kinh tế, không vì mục
đích kinh tế hoặc vì cả hai mục đích này. Chính vì sự không rõ ràng này nên hiện nó
được các quốc gia sử dụng phổ biến như các rào cản thương mại nhằm mục đích hạn
chế nhập khẩu. Nếu như cơ chế hạn ngạch không thực sự hiệu quả người ta có thể dễ
dàng hạn chế nhập khẩu thông qua việc phân bổ giấy phép.
Theo thống kê của OECD, biện pháp cấp giấy phép nhập khẩu không tự
nguyện hiện vẫn được sử dụng phổ biến, nhất là ở các quốc gia đang phát triển và các
quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi. Ví dụ, ở Malaysia, cho tới năm 2001 có tới 27%
dòng sản phẩm trong biểu thuế của nước này phải có giấy phép nhập khẩu so với 17%
năm 1997. Hiện danh mục các hàng hoá nhập khẩu yêu cầu cấp các giấy phép không
tự động của nước này vẫn rất nhiều, tới hơn 100 nhóm mặt hàng trong tổng số 137
nhóm mặt hàng áp dụng biện pháp phi thuế quan.
Hạn chế xuất khẩu tự nguyện (Voluntary Export Restraint)
Đây là biện pháp mà nước xuất khẩu hàng hoá buộc phải cam kết giới hạn
lượng hàng xuất khẩu vào một thị trường dưới áp lực của nước này, nếu không sẽ bị
áp dụng các biện pháp pháp trả đũa nghiêm khắc hơn. 22
Về bản chất, hạn chế xuất khẩu tự nguyện cũng giống như là hạn ngạch nhập
khẩu đều được đưa ra nhằm bảo hộ cho ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu,
nhưng khác biệt là ở chỗ hạn chế xuất khẩu tự nguyện được thực hiện bởi nước xuất
khẩu chứ không phải nước nhập khẩu.
- Tiêu chuẩn đóng gói và kí mã hiệu
- Tiêu chuẩn của người tiêu dùng
- Tiêu chuẩn sức khoẻ và an toàn
- Các biện pháp an ninh và yêu cầu về môi trường.
Do tính phức tạp và khả năng áp dụng biến hoá đa dạng của hình thức rào cản
này, từ năm 1947 GATT đã có những vòng đàm phán về các rào cản kỹ thuật đối với
thương mại. Năm 1979 GATT đã công bố Hiệp định về rào cản kỹ thuật trong thương
mại (Hiệp định TBT), có hiệu lực từ 1/1/1980. Chúng ta sẽ xem xét Hiệp định này kỹ
hơn trong phần các qui định của WTO về rào cản thương mại ở chương sau.
1.3.2.4 Các biện pháp về vệ sinh và kiểm dịch động thực vật (Precautionary
Principle, Sanitary and Phytosanitary)
Đây là các biện pháp thường được áp dụng trong việc kiểm soát nhập khẩu các
sản phẩm có nguồn gốc từ động thực vật nhằm bảo bảo vệ cuộc sống của con người
và động thực vật tại nước nhập khẩu khỏi các nguy cơ dịch bệnh có thể có từ nước
xuất khẩu. Nó có thể bao gồm các luật, các qui định, các yêu cầu và thủ tục; các quá
trình và phương pháp sản xuất, thử nghiệm, thanh tra, chứng nhận và làm thủ tục chấp
thuận; xử lý kiểm dịch; thủ tục lấy mẫu và đánh giá nguy cơ; các yêu cầu đóng gói và
nhãn mác liên quan trực tiếp đến an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, do các qui định cho
biện pháp này chỉ mang tính chung chung, ngay cả trong qui định của WTO cũng chỉ
là đảm bảo “mức độ bảo vệ động thực vật phù hợp” nên các quốc gia rất dễ biến tấu
chúng trở thành biện pháp hạn chế nhập khẩu. Ví dụ tiêu biểu cho trường hợp này là
cho tới gần đây Trung Quốc vẫn không cho phép nhập khẩu sản phẩm thịt bò từ Hoa
Kỳ với lý do bệnh dịch từ năm 2000, mặc dù dịch bệnh hiện đã kết thúc và các quốc
gia khác đều đã cho phép nhập khẩu thịt bò của Hoa Kỳ.
1.3.2.5 Các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời (Contingency Protection
Measures)
Các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời còn được gọi theo cách khác là các
biện pháp về bồi thường thương mại. Đó là các biện pháp được áp dụng nhằm chống
bằng chính sách này các quốc gia có thể điều chỉnh hoạt động nhập khẩu hàng hoá
của mình từ các thị trường khác nhau thông qua việc điều chỉnh tỷ giá với đồng tiền
của nước xuất khẩu tương ứng.
Hiện nay, quốc gia đang duy trì chính sách kiềm chế tỷ giá đồng nội tệ nổi bật
nhất là Trung Quốc. Theo đánh giá của các đối tác thương mại lớn nhất là Mỹ và EU
thì đồng nhân dân tệ của Trung Quốc hiện bị đánh tụt giá từ 15% đến 45%. Chính 25
sách này đã góp phần giúp Trung Quốc luôn là nước nhập siêu trong quan hệ với hầu
hết các đối tác thương mại.
Một rào cản khác cũng thông qua chính sách về đồng tiền là quản lý ngoại hối.
Đó có thể là việc yêu cầu các công ty tham gia hoạt đông xuất nhập khẩu phải tự cân
đối nguồn ngoại tệ của mình hoặc qui định mức ngoại tệ tối đa mà các cá nhân, các
công ty được sử dụng trong một thời gian nhất định ở mức thấp do đó làm giảm khả
năng tham gia vào các giao dịch thương mại của các doanh nghiệp này. Các biện pháp
như vậy hiện đã bị hạn chế tương đối nhưng vẫn còn khá phổ biến ở các quốc gia
đang phát triển.
1.3.2.7 Tỷ lệ nội địa hoá bắt buộc (Domestic Content Requirements)
Các chính phủ vẫn thường sử dụng tỷ lệ nội địa hoá bắt buộc như một biện
pháp hạn chế nhập khẩu. Tỷ lệ nội địa hoá được xem như một giải pháp tốt nhằm đẩy
mạnh phát triển ngành công nghiệp trong nước. Tỷ lệ nội địa hoá bắt buộc là tỷ lệ
phần trăm trong tổng giá trị hàng hoá cần phải được thực hiện trong nước để hàng hoá
này được tiêu thụ trên thị trường nội địa. Rất nhiều quốc gia phát triển vẫn thường sử
dụng biện pháp này để thúc đẩy hoạt động sản xuất nông sản, ôtô hay dệt may trong
nước. Chúng thường được phối hợp với chính sách thay thế hàng nhập khẩu bằng sản
xuất trong nước.
Tỷ lệ nội địa hoá bắt buộc đối với hàng nông sản không được áp dụng phổ biến
so với các ngành khác, nhất là sản xuất ôtô và xe gắn máy, nhưng với một số mặt