MBA Nhóm 8 WALMART-Công ty bán lẻ lớn nhất thế giới
ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
2012 KINH DOANH QUỐC TẾ
MBA NHÓM 8
ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU CÔNG TY WALMART VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Các thành viên trong nhóm: STT Họ và tên Lớp SBD
1 Nguyễn Thanh Danh 19A 8
2
Lê Th
ị Ngọc Hảo
1
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
I. TỔNG QUAN CÔ NG TY 2
II. MÔ I TRƯỜNG KINH DOANH 4
1.1.
Môi trường chung 4
1.2.
Môi trường ngành của Walmart (phân tích dựa trên mô hì nh 5 áp lực cạnh tranh của Micheal
Porter) 5
1.3.
Môi trường cạnh tranh 8
1.3.1.
Đối thủ cạnh tr anh 8
1.3.2.
Chiến thuật ứng phó với các đối thủ cạnh tranh 9
MBA Nhóm 8 WALMART-Công ty bán lẻ lớn nhất thế giới
Bài tập nhóm – môn Kinh Doanh Quôc Tế
2
I. TỔNG QUAN CÔNG TY
Công ty Walmart không chỉ là nhà bán lẻ lớn nhất nước Mỹ và toàn cầu, mà
hơn nửa thập niên qua, Walmart còn là công ty lớn nhất lịch sử thế giới. Doanh thu
năm tài chính 2012 của Walmart đạt xấp xỉ 444 tỷ USD, lợi nhuận thuần là 26,5 tỷ
USD và sở hữu 2,2 triệu nhân viên trên toàn cầu. Walmart có trụ sở chính tại 702
SW 8
th
Street Bentonville nước Mỹ và có 8500 siêu thị trên 15 quốc gia ở khắp
các châu lục với các tên khác nhau. Tại Mexico với tên gọi Walmex, Asda ở Anh,
Seiyu tại Nhật Bản, Best Price tại Ấn Độ, …Walmart đặc biệt thành công tại Anh,
Nam Mỹ, Trung Quốc tuy nhiên cũng đã thất bại tại Đức và Hàn Quốc.
Lịch sử hình thành và phát triển của Walmart
Năm 1945, Sam Walton quyết định bước vào lĩnh vực bán lẻ. Hai mươi bảy tuổi,
với số tiền 20 ngàn USD vay từ người cha vợ và một ngàn USD tiết kiệm, Walton
quyết định mua một cửa hàng tạp hóa nhỏ có tên gọi Ben Franklin ở New Port.
Cửa hàng này là một “franchise” (cửa hàng kinh doanh theo hình thức nhượng
quyền sử dụng thương hiệu) của Butler Brothers và được xem là khởi đầu cho
thành công vang dội của Walton trong ngành bán lẻ. Bằng cách nhập hàng giảm
giá về để bán, mở cửa muộn hơn những nơi khác, mua hàng với giá sỉ từ những
nhà cung cấp rẻ nhất, chỉ trong một thời gian ngắn, Walton đã đưa cửa hàng này
dẫn đầu về doanh thu và lợi nhuận trong một khu vực gồm sáu bang là địa bàn
hoạt động của Butler Borthers.
Thấy cửa hàng của Walton có vẻ ăn nên làm ra, chủ nhà đã hủy hợp đồng thuê
nhà và lấy lại cửa hàng cho người con trai của mình. Bị đẩy khỏi lĩnh vực kinh
Walmart đánh dấu việc thâm nhập thị trường thế giới bằng một cửa hàng ở Mexico
City. Từ đó, Walmart không ngừng bành trướng hoạt động trên cả thị trường Mỹ
lẫn ở nước ngoài.
Hiện nay, Walmart vẫn là công ty b án lẻ lớn nhất nước Mỹ, đồng thời là công
ty sử dụng nhiều lao động nhất ở Mỹ, Mexico và Canada với doanh thu hàng năm
đạt trên 300 tỉ USD. Các cửa hàng Sam’s Club cũng đạt doanh thu gần 40 tỉ USD
mỗi năm và đang tiếp tục mở rộng ra nhiều thị trường quốc tế. Nếu xem Walmart
như một nền kinh tế thì nền kinh tế này đứng thứ 30 trên thế giới về quy mô.
Doanh thu của Walmart hiện đang tăng trưởng với tốc độ 10%/năm và dự báo sẽ
đạt con số 500 tỉ USD trong vòng một thập niên tới.
Những giai đoạn phát triển đáng chú ý của Walmart
+ 1962: Mở cửa hàng đầu tiên tại Arkansas, Mỹ.
+ 1970: Cổ phiếu Walmart niêm yết trên thị trường chứng khoán.
+ 1985: Tạp chí Forbes xếp Sam Walton là người giàu nhất nước Mỹ.
+ 1990: Walmart trở thành tập đoàn bán lẻ lớn nhất quốc gia.
+ 1991: Cửa hàng Walmart đầu tiên ở nước ngoài được mở tại Mexico City
(Mexico).
+ 1997: Walmart có lợi nhuận 100 tỉ USD/năm.
+ 1999: Walmart có 1.140.000 nhân viên, trở thành tập đoàn có số lượng người
làm lớn nhất thế giới.
MBA Nhóm 8 WALMART-Công ty bán lẻ lớn nhất thế giới
Bài tập nhóm – môn Kinh Doanh Quôc Tế
4
+ 2006: Tạp chí Fortune công bố Walmart lần thứ tư liên tiếp đứng đầu danh sách
500 công ty lớn nhất thế giới và là công ty được ngưỡng mộ nhất nước Mỹ.
II. MÔI TRƯỜNG KINH DOANH
Môi trường kinh doanh Walmart: phân tích 3 lĩnh vực chính là môi trường
trạng thất thoát cùng chi phí lưu kho.
Tất nhiên không thể không kể đến website : www.walmartstore.com nơi
khách hàng không chỉ có thể mua được hàng hóa mà còn có thể khiếu nại
hay tìm hiểu các thông tin về Walmart.
MBA Nhóm 8 WALMART-Công ty bán lẻ lớn nhất thế giới
Bài tập nhóm – môn Kinh Doanh Quôc Tế
5
e. Chính trị/Pháp lý: Người ta nói rằng tham gia chính trị cũng là cách mà
Walmart đã làm khi mà phụ nữ bị phân biệt đối xử bằng cách không được
phép họ ngồi ở vị trí giám sát, quản lý. Cũng có ý kiến cho rằng có những
vụ kiện chưa được giải quyết đang chờ có ý kiến của Walmart vì công ty
này bị cho là đi ngược lại với luật lao động.
f. Nhân khẩu học: Wal-Mart là nhà tuyển dụng tư nhân lớn nhất nước Mỹ và
thế giới với 1,6 triệu nhân viên. Theo số liệu của Wal-Mart, ở nước Mỹ còn
có thêm 3 triệu người khác có những việc làm phụ thuộc trực tiếp vào việc
mua sắm từ Wal-Mart. Nhưng ở bang Georgia, 10.261 trẻ em trong danh
sách của chương trình bảo hiểm tiểu bang dành cho trẻ em nghèo khó có
một cha hay mẹ làm việc cho Wal-Mart. Ở bang Tennessee, 9.617 nhân viên
Wal-Mart đang hưởng chương trình bảo hiểm y tế của tiểu bang dành cho
người nghèo.
1.2. Môi trường ngành của Walmart (phân tích dựa trên mô hình 5 áp lực
cạnh tranh của Micheal Porter)
a. Đối thủ tiềm năng:
Là một tập đoàn bán lẻ, Wal-Mart không chỉ lớn nhất, nó không còn bất kỳ
đối thủ nào có thể sánh được. Wal-Mart lớn bằng cả Home Depot, Kroger, Sears,
Target, Costco và Kmart cộng lại. Target, vốn được xem là đối thủ trực tiếp gần kề
nhất và là kẻ cạnh tranh tinh ranh nhất của Wal-Mart, cũng chỉ là hạng “tép riu”
Nằm sâu trong các hồ sơ tài chánh trình cho chính phủ Mỹ, P&G báo cáo rằng
trước khi sáp nhập, Wal-Mart đã chiếm 16% doanh số của công ty. Các báo cáo
P&G cũng cho biết 10 công ty bán lẻ hàng đầu mua hàng của P& G đã chiếm tới
32% doanh số. Điều đó có nghĩa là W-M không những là khách hàng đứng đầu
Top 10 của P&G – nó lớn bằng cả 9 khách hàng kia cộng chung lại. Cho nên câu
hỏi thực sự thú vị là: Việc P&G mua lại Gillette là để công ty này có thêm sức ảnh
hướng đối với Wal-Mart – hay là cho Wal-Mart có thêm sức chi phối với một
P&G lớn hơn?
b. Quyền lực đàm phán với nhà cung cấp:
Wal- Mart là nhà phân phối lớn có tầm ảnh hưởng toàn thế giới, hệ thống phân
phối của Wal mart có thể ảnh hưởng tới nhiều ngành hàng như thực phẩm, hàng
điện tử , các hàng hàng hóa tiêu dùng hàng ngày. Wal Mart có đủ quyển lực để
đàm phán với các doanh nghiệp khác về giá cả, chất lượng sản phẩm cũng như các
chính sách marketing khi đưa hàng vào trong hệ thống của mình.
Nhà cung cấp cho Walmart chỉ có hai lựa chọn: hoặc chấp nhận giá Walmart đưa
ra dù họ chỉ được lãi vài xu trên mỗi sản phẩm, hoặc Walmart sẽ cắt không đặt
hàng nữa. Nếu các hãng cung cấp có ý định đi ngược lại tiêu chí của Walmart,các
hãng này sẽ bị đe dọa cắt hợp đồng và khả năng phá sản là rất cao.
Lý do đó là Walmart luôn đặt hàng với số lượng lớn, ổn định. Nhưng để đảm bảo
việc hợp đồng sẽ được ký kết, hãng cung cấp phải đưa được mức giá thấp nhất.
Nắm được điểm yếu đó của các nhà cung cấp, Walmart tìm cách buộc các nhà
cung cấp phải cạnh tranh lẫn nhau, rồi tìm nơi nào hiến giá thấp nhất.
c. Khá ch hàng:
MBA Nhóm 8 WALMART-Công ty bán lẻ lớn nhất thế giới
Bài tập nhóm – môn Kinh Doanh Quôc Tế
7
Châm ngôn của tôn trọng khách hàng:” Khách hàng không phụ thuộc chúng
ta mà chúng ta phụ thuộc khách hàng”.
MBA Nhóm 8 WALMART-Công ty bán lẻ lớn nhất thế giới
Bài tập nhóm – môn Kinh Doanh Quôc Tế
8
nhiều hơn bất kỳ công ty nào không chỉ trong nước Mỹ và khắp thế giới; nó có
1906 siêu thị, nhiều hơn 5 năm trước 1.000 cái. Tức là, trong 5 năm qua, sau khi
chinh phục được ngành kinh doanh siêu th ị, Wal-Mart đã tăng tốc độ xâm lăng
hàng thực phẩm; trung bình mỗi tháng có 16 siêu thị mới khai trương .
Dù là thực phẩm hay trong các lãnh vực bán lẻ khác, Wal-Mart không chỉ là hạng
nhất trong số các tập đoàn tương tự, nó không có đối thủ.
1.3. Môi trường cạnh tranh
1.3.1. Đối thủ cạnh tranh
Môi trường cạnh tranh của Walmart tương đối đồng nhất. Mặc dù đối thủ
cạnh tranh chủ yếu của Walmart là các chuỗi cửa hàng bán lẻ, nhưng các siêu thị
bán lẻ, các cửa hàng bán đồ hạ giá cũng đạng tạo ra sức ép cạnh tranh lớn cho
Walmart. Ngành bán lẻ đang trải qua giai đoạn thay đổi và phát triển cả về lượng
và chất. Những “ông lớn” thường phải cạnh tranh ở cả trong và ngoài nước. Đó là
những cuộc cạnh tranh lớn về giá cả, địa điểm, qui mô cửa hàng, công nghệ, sự
sáng tạo, hình ảnh công ty, mặt hàng sản phẩm. Các nhà bán lẻ hàng đầu đã hội
nhập nhiều chức năng theo hàng dọc, chẳng hạn như thu mua, sản xuất, quảng cáo,
và vận chuyển. Quy mô lớn như thế đem lại cho các nhà bán lẻ hàng đầu lợi thế
cạnh tranh so với các đối thủ có quy mô nhỏ.
Nói chung khi xét về ngành bán lẻ, đối thủ cạnh tranh chính của Wal mart là
Target và Kmart. Các siêu th ị bán lẻ như Circuit City và Bed, Bath, và Beyond,
cũng là các hãng cạnh tranh khác trong ngành bán lẻ. Một cuộc khảo sát cho thấy
phần lớn số người được hỏi ủng hộ WalMarts hơn các cửa hàng như Target và
Kmart. Họ cho rằng Wal-Mart cung cấp mức giá thấp hơn, mặt hàng đa dạng và
chất lượng tốt hơn. Nhu cầu của người tiêu dùng là một tính năng kinh tế quan
trọng trong tất cả các môi trường cạnh tranh. Những thuộc tính (giá cả, chủng loại,
chuỗi giá trị. Cho dù sản phẩm đang được chuyên chở hay trong một lô hàng, hàng
tồn kho, hay đang được phân phối, hay đang ở trên kệ giá ở cửa hàng, Wal-Mart
đều có thể xác thực. Khả năng của họ trong việc hợp lý hóa các nguồn cung cấp
giữa các cửa hàng và các nhà cung cấp đã giúp họ kiểm soát hàng tồn kho một
cách thích hợp và theo dõi những gì đã được bán và những gì chưa được bán.
Các chiến lược điều hành và phân phối cũng đã giúp Wal-Mart duy trì sản
phẩm ở mức giá thấp. Chiến lược của Wal-Mart là mở các cửa hàng ngoại ô các
thành phố lớn và cách các cửa hàng hiện có trong bán kính 200 dặm. Tập trung các
cửa hàng với nhau trong khu vực nhỏ, Wal-Mart dựa trên chiến lược quảng cáo
“bằng miệng” để thu hút người tiêu dùng ở các thành phố lớn. Bởi vì các cửa hàng
được đặt gần nhau, nên chi phí phân phối là rất thấp. Ngoài ra, Wal-Mart tìm cách
đáp ứng nhu cầu của khách hàng khác nhau với bốn tùy chọn bán lẻ riêng biệt, bao
gồm các cửa hàng giảm giá, s iêu thị, Sam’s Clubs, và các chợ trong khu vực. Mỗi
kiểu cửa hàng có quy mô, tổng số nhân viên, và doanh số bán hàng cụ thể.
Wal-Mart chi tiêu cho quảng cáo ít hơn so với đối thủ cạnh tranh của
họ.Một cách mà họ thực hiện điều này là thông qua việc đặt các cửa hàng gần nhau
trong một khu vực tương đối nhỏ. Bởi vì các cửa hàng của họ có xu hướng được
nhóm lại với nhau nên chúng có thể giảm thiểu chi phí quảng cáo.
Một trong những chiến lược quan trọng nhất của Wal-Mart là cung cấp dịch
vụ chất lượng cao cho khách hàng. Mỗi cửa hàng có một tiếp tân gần cửa ra vào để
chào đón khách hàng, cung cấp cho họ một giỏ mua hàng, và chỉ cho khách hàng
chỗ đặt sản phẩm họ muốn tìm. Quy tắc số 8 trong 10 quy tắc của Sam Walton
trong “Xây dựng một doanh nghiệp” là "Nếu phục vụ hơn cả sự mong đợi của
khách hàng thì họ sẽ luôn trở lại"
Các hoạt động hỗ trợ liên quan đến chiến lược của Wal-Mart có quan hệ với
các hoạt động chính kể trên. Những hoạt động các chi phí như vậy bao gồm các
công nghệ được sử dụng trong giám sát sản phẩm (các hoạt động và phân phối),
mối quan hệ với các nhà cung cấp, đào tạo nhân viên, các ưu đãi và chính sách đền
bù. Tất cả các hoạt động này đã được chứng minh là thành công toàn diện khi
Wal-Mart kiếm được doanh thu $ 256 tỷ và $ 9 tỷ đồng lợi nhuận trong năm 2004.
Sức mạnh thương lượng của nhà
cung cấp tăng
Tăng số lượng bán hàng trực
tuyến
Sức mạnh thương lượng của
khách hàng tăng
Rào cản thương mại trong thị
trường nước ngoài được nới lỏng
ảnh hưởng xấu từ việc thay đổi
nhân sự
Thâu tóm nhiều đối thủ cạnh
tranh
Chính sách thương mại ngặt
nghèo
Tham gia các lĩnh vực mới Nhiều yêu cầu quy định mới
Áp dụng nhiều công nghệ MBA Nhóm 8 WALMART-Công ty bán lẻ lớn nhất thế giới
Bài tập nhóm – môn Kinh Doanh Quôc Tế
11 Trong phân tích ở trên, tôi đã liệt kê những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội,
và các mối đe dọa Wal-Mart đang phải đối mặt. Wal-Mart có một chiến lược rất
PHỐI
10 9 9 9 9
SỨC SÁNG TẠO 8 9 10 9 7
NGUỒN LỰC TÀI
CHÍNH
10 8 8 10 8
CHI PHÍ KINH
DOANH
10 9 9 9 8
DỊCH VỤ CHĂM SÓC
KHÁCH HÀNG
10 9 8 10
SỨC MẠNH TỔNG
THỂ
84 79 78 87 76
MBA Nhóm 8 WALMART-Công ty bán lẻ lớn nhất thế giới
Bài tập nhóm – môn Kinh Doanh Quôc Tế
12
nghệ mới là một cơ hội Wal-Mart có thể sẽ tận dụng, nhưng yêu cầu quy định mới
lại là một mối đe dọa đối với mục tiêu mở rộng của Wal-Mart.
Bảng đánh giá sức mạnh cạnh tranh đưa ra đề xuất một cách tương đối lợi thế
cạnh tranh của mỗi công ty. Trong đánh g iá này, Costco có lợi thế tốt nhất. Wal-
Mart đánh bại Target, Kmart, và Safeway theo sát ở vị trí thứ hai,.Tất cả những dữ
liệu này là ước tính để sử dụng trong so sánh giữa các công ty. Chúng ta có thể
nhìn thấy từ dữ liệu này Wal-Mart có một danh tiếng yếu hơn so với tất cả các
công ty khác. Đây có thể là điểm mà Wal-Mart nên quan tâm để cải thiện vị thế
13
Coke sẽ có một giá bán lẻ tiêu biểu chẳng hạn 1,37 USD với loại chai hai lít, và cứ
vài tuần lại được bán giảm giá chẳng hạn 1,09 USD hay thậm chí 99 xu. Bất kỳ ai
thường mua sắm đều quen thuộc với những đợt khuyến mãi chỉ kéo dài trong vài
ngày. Những người tiêu dùng khôn ngoan chẳng bao giờ trả 1,39 USD cho một
chai Coke, họ chỉ mua tích trữ khi giá bán là 99 xu. Những đợt giảm giá khuyến
mại này được lên lịch trước từ lâu nhưng chúng vẫn tạo ra những chu kì tiêu thụ
không ổn định. Người tiêu dùng đâm nghiện với giá bán rẻ hơn và chống lại giá
bán tiêu chuẩn và các hãng cung cấp cũng đâm nghiện với những đợt bùng nổ sản
lượng do việc giảm giá khơi mào, nhưng cũng cần phải bán với giá tiêu chuẩn để
duy trì một biên độ lợi nhuận hợp lý. Còn các cửa hàng thì “phát khùng” vì trữ
hàng cho những đợt khuyến mại, vì bày trí lại kiểu trưng bày, và đối phó với hàng
đống sản phẩm không chịu nhúc nhích khi đợt giảm giá kết thúc. Để trừ khử
những chuyện đó, Walmart muốn những hãng bán hàng cho mình cộng hết tất cả
các khoản giảm giá của các đợt khuyến mại trong năm và trừ vào trị giá sản phẩm
của nguyên một năm. Thế là hiện ra cái giá bán lẻ thấp và cố định của từng ngày.
Thứ hai các hoạt động then chốt mua hàng hóa, phân phối và kiểm soát chi
phí: Câu chuyện con cá hồi Chile sau đây là một minh chứng rõ nhất về cách thức
mua hàng, phân phối sản phẩm. Trong các đại s iêu thị Walmart những miếng cá
hồi tươi roi rói bày bán với giá 4,84 USD nửa cân. Chúng đã cố gắng vượt qua hơn
8.000 cây số từ miền nam Chile để đến Mỹ trong vòng 48 giờ mà không cần phải
đông lạnh. Đó là một cái giá thấp đến mức với số tiền 4,84 USD ta cũng không thể
nào gửi bưu điện nửa cân cá hồi ngược về Chile. Walmart đã làm gì mà có được cá
hồi với giá rẻ như thế?
Trong năm 1990, nước Mỹ đã ăn 225 tấn cá hồi mỗi ngày. Ngày nay, mức
tiêu thụ là hơn 875 tấn mỗi ngày. Hết thảy cá hồi bày bán ở Mỹ đều thuộc giống cá
hồi Đại Tây Dương – giống cá này sống tự nhiên trong môi trường Đại Tây Dương
nhưng lại là giống cá lựa chọn của các ngư dân nuôi cá hồi vì giống này tương đối
lành tính và phát triển nhanh. Giống cá hồi Đại Tây Dương là sinh vật đang có
nguy cơ tuyệt chủng và không thể đánh bắt được ở vùng b iển Bắc Mỹ. Và hầu hết
Trọn vẹn nhiều khu rừng đã không bị đốn hạ một phần là vì cái quyết định
đòi huỷ bỏ cái hộp ban hành từ văn phòng trung tâm của Walmart trên giao lộ đại
lộ Walton và đường SW số 8 ở Bentoville, bang Arkansas. Hoá ra cái hộp ấy lại
tốn thêm khoảng 5 xu cho mỗi lọ thuốc. Walmart đương nhiên chia đôi khoản tiết
kiệm được để cho hãng sản xuất thuốc khử mùi giữ lại vài xu và chuyển vài xu tiết
kiệm còn lại cho những người tiêu dùng.
Tiết kiệm 5 xu trông có vẻ vụn vặt, cho đến khi ta làm một phép toán. Với
200 triệu người trưởng thành ở nước Mỹ, nếu ta chỉ tính 5 xu cho một lọ khử mùi
nằm trong tủ thuốc gia đình ngay lúc này thì đó là khoản tiết kiệm 10 triệu USD,
trong đó người tiêu dùng được giữ một nửa, 5 triệu USD, chỉ nhờ một thay đổi nhỏ
người tiêu dùng không hề hay biết từ hơn một thập niên trước. Nhưng sự thay đổi
này, và khoản tiết kiệm này, luôn lập lại, và thường xuyên. Người Mỹ đang tiết
kiệm 5 triệu USD bằng những đồng 5 xu năm hay sáu lần trong một năm đều đặn
như thế mỗi khi cần một lọ thuốc mới.
Thứ ba, quan hệ khách hàng và phân khúc khách hàng. Walmart thiết lập
quan hệ khách hàng dựa trên cơ sở tự phục vụ và tự động hóa song song với việc
MBA Nhóm 8 WALMART-Công ty bán lẻ lớn nhất thế giới
Bài tập nhóm – môn Kinh Doanh Quôc Tế
15
kết hợp các sản phẩm cần thiết gần nhau. Walmart phân loại khách hàng thành 3
nhóm chính là: brand aspirations (những người có thu thập thấp thích hàng hiệu),
price sensitive effluents (những người mua sắm giàu có nhưng thích giá rẻ) và
value price shoppers (những người thích giá rẻ nhưng không thể mua nhiều).
Thứ tư, đối tác then chốt. Xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với các nhà cung
ứng, xem họ như là một thành phần của chuỗi giá trị và tận dụng lợi thế mua nhiều
với giá thấp. Thương lượng với các đối tác để tiết kiệm quy mô từ đó tối ưu cấu
trúc chi phí. Riêng tại Mỹ hiện có khoảng 61.000 công ty cung ứng hàng cho
Walmart. Nhiều công ty trong số này lập ra những “Walmart team” (nhóm chuyên
16
Để đông đảo nhân viên yên tâm làm việc lâu dài, Walmart cho các nhân viên
trở thành cổ đông. Do các siêu thị kinh doanh phát đạt, tỷ lệ lợi tức đầu tư của cổ
đông rất cao, trong thời gian từ năm 1977 đến năm 1978, tỷ lệ lợi tức bình quân
hàng năm lên tới 50%, nhân viên chính thức là cổ đông, mỗi năm cũng được lợi
tức bằng 6,4% tổng tiền lương .
Tại Việt Nam khi mà thị trường bán lẻ vẫn chưa được khai thác hết và thái độ
phục vụ yếu kém của nhân viên là chuyện thường xuyên xảy ra thì mô hình kinh
doanh của Walmart được kỳ vọng sẽ mang lại nhiều thành công…
1.2. Cơ cấu tổ chức của công ty
Khi xem xét một cơ cấu tổ chức, thường xem xét theo ba hướng:
Sự khác biệt theo chiều dọc: đề cập đến vai trò của việc ra quyết định trong
phạm vi một cơ cấu
Sự khác biệt theo chiều ngang: đề cập đến sự phân chia chính thức của tổ
chức thành các đơn vị con.
Sự thành lập các cơ chế phối hợp: là các cơ chế để phối hợp các đơn vị con.
Sự khác biệt theo chiều dọc
Hướng thứ nhất là sự khác biệt theo chiều dọc bao gồm cơ chế quản lý tập
trung & cơ chế quản lý phân cấp:
- Quản lý tập trung là quyết định được ban hành tập trung tại cấp cao nhất trong
hệ thống quản lý và tại một điểm, thường là ở trụ sở chính.
- Quản lý phân cấp là việc ra quyết định được thực hiện ở các cấp thấp hơn trong
hệ thống quản lý.
Với chiến lược quốc tế hóa, Walmart đã sử dụng cơ chế quản lý phân cấp để
chỉ đạo các ho ạt động kinh doanh quốc tế của mình.
Trong những năm đầu của thập niên 90, các nhà quản lý lâu năm tại thị
trường quốc tế của Walmart đã sử dụng cơ chế quản lý tập trung khép kín ở nhiều
quốc gia khác nhau (thành lập bộ phận quốc tế ở Bentonv ille, Arkansas quản lý 3
khu vực Châu Âu, Châu Á và Châu Mỹ). Cơ chế này cho thấy tính hiệu quả tại thị
trường Mỹ và các nhà quản lý đã tin rằng nó cũng sẽ cho kết quả tương tự tại thị
Wal
-
M art
Stores U.S
Sam's Club
Wal
-
Mart
International
Wal
-
M art
Brazil
Seiyu
(Japan)
Wal
-
M art
China
Wal
-
M art
Canada
UK
Một là, các nhà quản lý quốc tế thường phải phụ thuộc vào các nhà quản lý
trong nước về nguồn lực tài chính và bí quyết kĩ thuật có thể đem lại cho công ty
lợi thế cạnh tranh quốc tế. Nếu việc phối hợp giữa các nhà quản lý không tốt có thể
làm tổn thương kết quả thực hiện không chỉ của bộ phận quốc tế mà còn của tòan
bộ công ty.
Hai là, tổng giám đốc của bộ phận quốc tế thường chịu trách nhiệm về mọi
hoạt động ở tất cả các nước. Mặc dù, chính sách này tạo điều kiện cho việc phối
hợp các nước với nhau, nhưng nó lại làm giảm quyền lực của các nhà quản lý ở
từng quốc gia. Cạnh tranh và hợp tác giữa tổng giám đốc và các giám đốc phụ
trách quốc gia không tốt có thể gây tác hại cho kết quả thực hiện chung của toàn
công ty.
Chính vì những yếu tố này mà hiện nay, Walmart vẫn đang tiếp tục tìm một
công thức đúng cho việc quản lý thị trường quốc tế.
Sự thành lập các cơ chế phối hợp
Nhu cầu phối hợp giữa các đơn vị khác nhau tùy thuộc vào chiến lược của công ty.
MBA Nhóm 8 WALMART-Công ty bán lẻ lớn nhất thế giới
Bài tập nhóm – môn Kinh Doanh Quôc Tế
19
Nhu cầu phối hợp tại những công ty theo đuổi các chiến lược quốc tế như
Walmart là cố gắng thu được nhiều lợi nhuận từ việc chuyển giao kỹ năng và sản
phẩm từ Mỹ sang các chi nhánh hoạt động tại nước ngoài.
Hiện nay, Walmart sử dụng cơ chế phối hợp phi chính thức (mạng lưới quản
lý, văn hóa công ty) thay vì các cơ chế phối hợp chính thức (tiếp xúc trực tiếp, liên
lạc định kỳ, nhóm, cấu trúc ma trận).
Mạng lưới quản lý
Walmart sử dụng hệ thống intranet củ a mình để truyền ý tưởng và chiến lược
bán hàng giữa các cửa hàng đặt ở các nước khác nhau.
Walmart cũng duy trì hệ thống máy tính MPP (massivly parallel processor –
Hình thức thâm nhập thông qua đầu tư
Sau khi mở rộng và phát triển trở thành tập đoàn bán lẻ số 1 nước Mỹ,
Walmart bắt đầu tiến hành thâm nhập thị truờng thế giới:
Walmart đã lựa chọn hình thức thâm nhập thông qua đầu tư.
Mua bán-sáp nhập.
Kết hợp với công ty bán lẻ sở tại, chuyển giao công nghệ rồi thôn tính.
Tại mỗi nước tìm hiểu văn hóa, sở thích của nước đó để có chiến lược
bán hàng thích hợp (Nhập gia tùy tục)
Công thức cho sự thành công trong chính sách thâm nhập thị t rường quốc tế
của Walmart: Với đặc thù ngành nghề kinh doanh cùng với chiến lược kinh doanh
quốc tế của mình, Walmart đã lựa chọn hình thức thâm nhập thông qua đầu tư, mà
cụ thể là đầu tư trực tiếp thông qua góp vốn liên doanh và lập chi nhánh 100%
vốn chủ sở hữu. Đây là phương thức đầu tiên và và phương thức chủ yếu trong
việc xâm nhập quốc tế của Walmart.
Đến năm 1990, các hoạt động của Walmart vẫn chỉ giới hạn tại Mỹ. Tuy
nhiên vào năm 1990, Walmart nhận ra rằng cơ hội phát triển của nó ở Mỹ đang trở
nên bị giới hạn hơn. Các nhà lãnh đạo công ty tính toán rằng vào đầu những năm
2000, các cơ hội phát triển nội địa sẽ bị kiềm hãm lại do thị trường đã bão hòa. Vì
vậy, công ty đã quyết định mở rộng hoạt động kinh doanh ra thị trường toàn cầu.
Đầu tiên, người ta đã chế giễu ý định này. Họ cho rằng Walmart là một công ty
mang nhiều đặc trưng Mỹ. Trong lúc các phương thức bán lẻ của nó rất hợp với thị
trường Mỹ, nhưng lại không hiệu quả ở các nước nơi mà cơ sở hạ tầng khác với thị
trường Mỹ, thị hiếu và sở thích khách hàng cũng khác, và các nhà bán lẻ có sẵn ở
đó đã chiếm lĩnh thị trường .
Không lo sợ về những cảnh báo đó, vào năm 1991, trong lần xuất hiện đầu
tiên trên thị trường quốc tế, Walmart đã lựa chọn châu Mỹ và châu Á. Walmart bắt
đầu phát triển ra thị trường quốc tế với việc khai trương các cửa hàng đầu tiên ở
Mexico. Walmart xâm nhập vào thị trường ban đầu bằng hình thức liên doanh với
công ty Cifera, một công ty bán lẻ lớn nhất của Mexico.
Ban đầu hãng xâm nhập vào Mexico, nước đông dân thứ hai tại châu Mỹ.
bán những hàng hóa phù hợp hơn với thị hiếu và sở thích của người dân địa
phương hơn. Do Walmart phát triển khắp mọi nơi, nhiều nhà cung ứng hàng hóa
cho nó đã xây dựng các nhà máy sản xuất gần các trung tâm phân phối của
Walmart Mexico để có thể phục vụ công ty tốt hơn, điều này giúp cho công ty
giảm được nhiều chi phí kho bãi và chi phí giao nhận (logistics costs). Ngày nay,
Mexico được xem là thị trường dẫn đầu trong các hoạt đông kinh doanh toàn cầu
của Walmart. Vào năm 1998, Walmart đã mua lại cổ phần dự án liên doanh của
công ty Cifera. Năm 2005, Walmart ở Mexico đã tăng gấp đôi quy mô của nó so
với đối thủ chính ở th ị trường này với khoảng 700 cửa hàng và tổng thu nhập
khoảng 12,5 tỷ USD.
Sự thành công ở thị trường Mexico chứng minh rằng Walmart có thể cạnh
tranh ở những thị trường bên ngoài nước Mỹ và nó đã quyết định mở rộng hoạt
động kinh doanh đến 13 quốc gia khác. Walmart đã thâm nhập vào thị trường
MBA Nhóm 8 WALMART-Công ty bán lẻ lớn nhất thế giới
Bài tập nhóm – môn Kinh Doanh Quôc Tế
22
Canada, Anh, Đức, Nhật, Hàn Quốc, bằng cách mua lại các nhà bán lẻ đã có sẵn
trên thị trường đó và sau đó nó chuyển giao hệ thống quản lý thông tin, logistics,
và các kỹ năng quản lý của mình sang các chi nhánh này. Còn ở các quốc gia khác,
Walmart tự thành lập cửa hàng của mình. Kết quả của những biến chuyển này là
tính đến giữa năm 2006 công ty đã có đến 2.700 cửa hàng ngoài thị trường Mỹ,
500.000 nhân viên, và đạt được tổng thu nhập toàn cầu là hơn 62 tỷ USD.
Ngoài ra, sự mở rộng ra thị trường quốc tế đã đem đến cho Walmart thêm hai
lợi ích nữa. Thứ nhất, Walmart có thể đạt được lợi thế kinh tế do tăng quy mô từ
năng lực mua toàn cầu. Các nhà cung ứng hàng hóa chính của Walmart là những
công ty quốc tế lâu đời; ví dụ như GE (thiết bị điện), Unilever (hàng hóa thức ăn),
và Procter & Gamble (các sản phẩm chăm sóc cá nhân) là những nhà cung ứng
chính của Walmart và họ đã có các hoạt động kinh doanh trên thị trường quốc tế từ
công ty liên doanh với một đối tác trong nước. Tuy nhiên từ kinh ngh iệm gặt hái
được tại th ị trường Mexico, Walmart đã quyết định góp 60% vốn để nắm quyền
kiểm soát.
Sau một quá trình kinh doanh, biết rõ được đặc điểm của thị trường phía Nam
châu Mỹ, Walmart đã thành lập hẳn một chi nhánh tại Achentina thay vì các công
ty liên doanh như trước đây.
Tại Canada, do có những điểm tương đồng với Mỹ về văn hoá, thu nhập,
Walmart đã thành lập công ty với 100% vốn thuộc tập đoàn.
Đối với châu Á, Walmart cũng tuân thủ chiến lược trên khi nhắm tới 3 thị
trường lớn nhất châu lục: Nhật Bản, Trung Quốc và Ấn Độ. Do khoảng cách về
ngôn ngữ, văn hoá, địa lý, Walmart đã khôn khéo dựa vào các liên minh chiến
lược trong các thị trường này và dùng Hồng Kông như một đầu mối để chuẩn bị
cho sự xâm nhập vào Trung Quốc.
Tại th ị trường Nhật Bản, Walmart bỏ tiền mua lại cổ phần của hệ thống siêu
thị Seiyu - hệ thống siêu th ị lớn thứ 5 Nhật Bản.
Là đại gia số một và cũng là hãng phân phối thành công nhất thế giới, nhưng
để tiến vào Trung Quốc, Walmart vẫn phải uốn mình dò dẫm học cách kinh doanh
Á châu lại từ đầu. Nhu cầu tiêu dùng ngày một gia tăng của người dân Trung Quốc
đang đẩy tăng trưởng bán hàng lên tới 15% mỗi năm. Tuy nhiên để có được phần
bánh lớn ở thị trường này thì việc áp dụng các công thức thành công trên nhiều thị
trường phát triển khác như Mỹ hay một số nước châu Âu hẳn chưa đủ. Sau nhiều
năm cải cách, người tiêu dùng Trung Quốc vẫn chưa thoát khỏi công thức rẻ, ưa
phóng đại và thất thường. Có lẽ bởi thế nên sau cả thập kỉ mua chuộc lòng người
bằng cách thích ứng với phong tục và giá trị văn hóa, thị phần Walmart nắm giữ
vẫn chỉ xấp xỉ 3,1%. Và để thoát khỏi nỗi ám ảnh này, Walmart dàn xếp mua lại
Trust - Mart, một chuỗi hơn 100 siêu thị lớn trải khắp 20 tỉnh thành ở Trung Quốc
do người Đài Loan nắm giữ, với hy vọng nâng gấp đôi ảnh hưởng của mình.
Hiện thực hóa tham vọng chinh phục th ị trường tiêu thụ đầy tiềm năng của
Ấn Độ, hệ thống bán lẻ lớn nhất trên thế giới Walmart của Mỹ khai trương siêu thị
liên doanh đầu tiên vào năm 2009. Walmart đã bắt tay với đối tác Bharti
duy nhất là giá cả. Thị trường bán lẻ Đức đang nằm trong tay các hãng Rewe,
Aldi, Lidl, Metro
Theo Fortune, đầu tháng 8/2006 nhà đầu tư từ Na Uy cũng đã rút hàng trăm
triệu USD từ Walmart vì Walmart đã vi phạm các vấn đề về lao động
IV. BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
1. Trung thành với mục tiêu kinh doanh với chiến lược đã chọn.
“Save money. Live better”. Walmart mong muốn mang lại những sản phẩm,
giá trị tốt nhất đến người tiêu dùng. Giúp cho người dân tiết kiệm được chi phí
nhưng vẫn có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Hơn ai hết, người sáng lập Walmart,
SAM Walton là người có niềm tin lớn nhất vào mục tiêu này. Ông cũng truyền
nhiệt huyết đến mọi nhân viên. Niềm đam mê này có thể là thiên bẩm hay phải học
hỏi để có nó. Nhưng chắc chắn một điều là để thành công, bạn sẽ cần tới nó. Nếu