Một số đánh giá về chính sách chống suy thoái kinh tế của việt nam trong giai đoạn 2008 2010 - Pdf 13


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ-HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
ViÖn Kinh tÕ BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI

Mét sè ®¸nh gi¸ vÒ chÝnh s¸ch
chèng suy tho¸i kinh tÕ cña ViÖt Nam
trong giai ®o¹n 2008-2010 CNĐT: NguyÔn Ngäc Toµn

8550



3
LỰC LƯỢNG NGHIÊN CỨU TS Nguyễn Ngọc Toàn Viện Kinh tế, Chủ nhiệm đề tài
ThS Phùng Lê Dung Viện Kinh tế, Thư ký đề tài
TS Nguyễn Quốc Thái Viện Kinh tế
TS Đặng Ngọc Lợi Viện Kinh tế
TS Đinh Thị Nga Viện Kinh tế
ThS Hồ Thị Hương Mai Viện Kinh tế
TS Bùi Văn Huyền Viện Kinh tế
ThS Nguyễn Quế Nga Viện Kinh tế và chính trị thế giới
TS Nguyễn Trần Qu
ế Viện Kinh tế và chính trị thế giới

nh kinh tế vĩ mô và tái cơ
cấu nền kinh tế.

5
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chống suy thoái và khủng hoảng đang là chủ đề nóng hổi ở cả trong lĩnh
vực nghiên cứu lý luận và trong điều hành chính sách thực tiễn. Cuộc khủng
hoảng kinh tế thế giới với sức tàn phá mạnh mẽ đã và đang buộc các nhà nghiên
cứu phải nhận thức và đánh giá lại lý luận chống suy thoái và buộc các chính
phủ ph
ải tìm các giải pháp nhanh chóng vượt qua khó khăn kinh tế. Mặc dù là
một nền kinh tế nhỏ, đang phát triển, nước ta cũng gặp phải những tác động
không nhỏ từ cuộc khủng hoảng này và cho tới nay, Đảng và Nhà nước cũng đã
thực thi một số chính sách nhằm ngăn chặn và đẩy lùi suy thoái kinh tế. Đánh
giá tính hợp lý và hiệu quả của các chính sách này đang là một yêu cầu cấp thiết
cả về lý lu
ận và thực tiễn.
Lý luận về suy thoái kinh tế và khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản đã
được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đề cập tới từ lâu. Khi phân tích về
mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong chủ nghĩa tư
bản, Mác đã chỉ rõ mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng tăng của lực
lượ
ng sản xuất ngày càng phát triển với quan hệ sản xuất dựa trên sở hữu tư bản
tư nhân. Mâu thuẫn này phát triển tất yếu sẽ dẫn đến những cuộc khủng hoảng
chu kì không thể tránh khỏi và cuối cùng sẽ dẫn đến sự diệt vong của chủ nghĩa
tư bản. Các lý thuyết và giải pháp mà chủ nghĩa tư bản đưa ra chỉ có ý nghĩa
cầm máu tạm th
ời chứ không chữa trị triệt để được căn bệnh này. “Khủng hoảng
trong chủ nghĩa tư bản là một hiện tượng cũ, lâu lâu lại diễn đi diễn lại như căn

hiệ
u quả. Chính vì thế, Keynes đề nghị một giải pháp là tăng cầu hiệu quả. Do
các doanh nghiệp và cá nhân, với khuynh hướng tăng tiết kiệm và giảm đầu tư,
không thể làm tăng cầu hiệu quả trong thời kì suy thoái, chỉ có chính phủ mới
có thể tăng mạnh cầu hiệu quả thông qua khả năng chi tiêu cao hơn mức thu
nhập. Khác với lý thuyết tân cổ điển, do giá cả và tiền lương cố
định trong ngắn
hạn, theo Keynes chính sách tiền tệ cũng là một công cụ để kích cầu và điều tiết
chu kì kinh doanh.
Lý thuyết kinh tế học hiện đại, khởi đầu từ Keynes đã trở thành nền tảng
lý luận cho hoạt động can thiệp và điều tiết nền kinh tế của các chính phủ tư bản
chủ nghĩa cho đến đầu thập niên 70 của thế kỉ 20. Lý thuyết này là sự k
ết hợp
giữa lý thuyết kinh tế vĩ mô của Keynes với những nền tảng kinh tế học vi mô
tân cổ điển, hình thành nên cái gọi là “tổng hợp tân cổ điển” (neo-classical
synthesis), cho rằng cần có sự kết hợp giữa Nhà nước và thị trường tự do, bởi
vì, nói như Samuelson, không thể “vỗ tay bằng một bàn tay”. Tuy nhiên, kể từ
thập kỷ 70, cùng với sự đi xuống của kinh tế M
ỹ với tình trạng lạm phát đình

7
đốn, khủng hoảng dầu lửa và sự sụp đổ của hệ thống bản vị đô la, lý thuyết nhà
nước can thiệp vào nền kinh tế mất dần ảnh hưởng cùng với sự trỗi dậy của các
học thuyết tự do mới như trường phái tiền tệ của Milton Friedman, trường phái
kinh tế vĩ mô tân cổ điển với những đại diện như Robert Lucas, Thomas Sargent
và Edward Prescott, cổ
vũ cho tự do cạnh tranh và giảm sự can thiệp của Nhà
nước. Friedman cho rằng, các chính sách kích cầu kiểu Keynes thường bị lạm
dụng tùy tiện khiến cho việc sử dụng nó kém hiệu quả và nhiều khi có tác dụng
ngược. Mặc khác, Friedman chỉ ra rằng trên thực tế, chu kì kinh doanh nhiều

nhưng cũng để lại những hậu quả gián tiếp cực kì nghiêm trọng: đầu tư trực tiếp
nước ngoài và xuất khẩu sụt giảm, kinh tế nước ta rơi vào suy thoái nghiêm
trọng. Do chúng ta chưa có lý luận và kinh nghiệm trong chống suy thoái và
kích cầu cho nề
n kinh tế, những chính sách kích thích nền kinh tế không thu
được hiệu quả mong muốn. Chẳng hạn, theo PGS, TS Trần Đình Thiên, khi
chúng ta bơm tiền kích cầu, lượng tiêu thụ xe máy Trung Quốc ở Việt Nam tăng
lên gấp ba lần, chứng tỏ một tỷ lệ lớn tiền kích cầu đã kích cầu ngoại. Phải đến
năm 2001, nền kinh tế nước ta mới hồi phục và đạt được tốt độ tăng trưở
ng cao.
Tuy vậy, cho đến nay, những bài học kinh nghiệm về chính sách chống suy
thoái và kích cầu trong giai đoạn này vẫn chưa được tổng kết đầy đủ.
Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nổ ra vào năm 2008 có qui mô lớn
chưa từng có kể từ sau những năm 1930 và vì thế, có tác động mạnh mẽ đến nền
kinh tế nước ta. Mặc dù chúng ta đã có những kinh nghiệm nhất định trong việc
chống suy thoái và kích c
ầu, tuy nhiên, với qui mô rất lớn và phức tạp của nó,
cuộc khủng hoảng đang đặt ra những thách thức lý luận nghiêm trọng. Dù chính
phủ đã có những giải pháp ứng phó, tuy nhiên, cơ sở lý luận của các giải pháp
chống suy thoái trên vẫn chưa rõ ràng và cần được luận giải một cách khoa học.
Những câu hỏi có thể đặt ra là: cơ sở nào để quyết định qui mô gói kích cầu?
Tác động của nó đến c
ầu hiệu quả ở mức nào? Hiệu quả của các chính sách tiền
tệ đến đâu? Liệu Việt Nam có gặp phải tình trạng cái bẫy thanh khoản không?
Đây là những vấn đề lý luận và thực tiễn giúp có kinh nghiệm xử lý những
quyết sách chống suy thoái sau này.
2. Mục tiêu của đề tài
Trên cơ sở tìm hiểu những nghiên cứu có liên quan trong và ngoài nước,
tính cấp thiết của vấn đề, tình hình kinh tế trong nước và những gi
ải pháp chống

trong đề tài này, chúng tôi dự kiến sử dụng cách tiếp cận kết hợp cả định tính và
định lượng.
Đề tài dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, bám sát
chủ trương, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước,
đồng thời kết hợp
với các lý thuyết và phương pháp nghiên cứu kinh tế học hiện đại và dựa trên
kinh nghiệm chống suy thoái của các nước trên thế giới. Với các phương pháp
cụ thể, đề tài sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như hệ thống, phân tích,

10
so sánh, tổng hợp, mô hình hoá, lấy ý kiến chuyên gia Trong đó, đề tài chú ý
kết hợp sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu
định lượng, kết hợp giữa phân tích định tính các chính sách trên cơ sở các lý
thuyết kinh tế vĩ mô hiện đại với so sánh, phân tích định lượng với các mô hình
toán và kinh tế lượng, đặc biệt là sử dụng mô hình phương trình kinh tế vĩ mô
tuyến tính, các mô hình chuỗi thời gian như vector tự tương quan để
đo lường
tác động của chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và các chính sách khác. Cụ
thể, đề tài áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
4. Kết cấu báo cáo
Ngoài lời mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục, báo cáo tổng kết đề tài bao
gồm 4 chương. 11
Chương 1
CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TOÀN CẦU VÀ NHỮNG TÁC
ĐỘNG ĐẾN NỀN KINH TẾ NƯỚC TA

1.1. Diễn biến của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu

liên quan đến các chứng khoán gắn với cho vay nhà đất dưới chuẩn lên tới 500
tỷ đô la Mỹ. Đến tháng 11, khoản lỗ tăng lên 750 tỷ đô la và IMF ước tính rằng
các tổ chức tài chính toàn cầu cuối cùng sẽ mất tổng cộng khoảng 1,5 nghìn tỷ
đô la cho các chứng khoán này. Hàng loạt ngân hàng đầu tư và tổ chức tài chính
đứng trước nguy cơ phá sản.
Vào tháng 9 năm 2008, chính phủ Mỹ trực tiếp quốc hữu hóa hai tổ chứ
c
tài chính hỗ trợ mua nhà đất do chính phủ bảo trợ là Fannie Mae và Freddie
Mac. Merrill Lynch, ngân hàng đầu tư lớn nhất nước Mỹ được giàn xếp bán cho
Bank of America. Golman Sachs và Morgan Stanley, hai ngân hàng đầu tư đứng
thứ 2 và thứ 3 nước Mỹ được chính phủ bơm tiền. Sau khi Cục dự trữ liên bang
Mỹ từ chối cứu giúp, Lehman Brothers, ngân hàng đầu tư đứng thứ 4 tại phố
Wall, đã phải đệ đơn phá sản, đẩy cuộc khủng ho
ảng tài chính ở Mỹ lên đến
mức cực điểm. Trong vòng 2 ngày, 150 tỷ đô la đã bị rút khỏi các quĩ tiền tệ ở
Mỹ. Thị trường tiền tệ đứng trước nguy cơ khủng hoảng thanh khoản. Thu hẹp
thanh khoản trên thị trường tiền tệ của Mỹ, vốn là nơi các ngân hàng và tổ chức
tài chính vay tiền, đẩy hệ thống tài chính toàn cầu đến bờ vực. Cụ
c dữ trữ liên
bang Mỹ và các ngân hàng trung ương các nước phải hành động ngay lập tức.
Trong quí 4 năm 2008, khoảng 2,5 nghìn tỷ đô la đã được bơm vào thị trường
thông qua việc mua lại các tài sản có giá của ngân hàng, đồng thời nâng vốn của
hệ thống ngân hàng thêm 1,5 nghìn tỷ thông qua việc mua cổ phiếu ưu đãi mới
phát hành. Chính phủ Mỹ và các nước đã phải tiến hành trợ giúp các ngân hàng
lớn có nguy cơ phá sản.
Bất chấ
p những nỗ lực, cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ đã nhanh
chóng lan ra khắp toàn cầu. Hàng loạt ngân hàng và tổ chức tài chính ở châu
Âu, châu Á bị thua lỗ và đứng trước nguy cơ đóng cửa. Ở Anh, ngân hàng
Northern Rock đã phải xin cứu trợ từ Ngân hàng trung ương Anh và điều này

số nguyên nhân chính, dưới các góc nhìn khác nhau.
1.2.1 Sự đổ vỡ của bong bóng nhà đất và khủng hoảng n
ợ dưới chuẩn
Cho đến gần đây, rất ít người ngoài giới kinh doanh địa ốc biết về các
khoản cho vay dưới chuẩn. Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới đã khiến
cho công cụ tài chính này trở thành trọng tâm chú ý, do những hậu quả của nó
đối với nền kinh tế Mỹ và kinh tế toàn cầu. Điều này thật dễ hiểu bởi cho vay
thế chấp nhà đất dướ
i chuẩn vốn chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong thế giới tài
chính trong phần lớn lịch sử một phần tư thế kỉ của nó. Vậy cho vay dưới chuẩn
là gì?

14
Hiểu một cách đơn giản, cho vay dưới chuẩn là khoản cho vay đối với
các cá nhân có tiền sử tín dụng yếu kém hoặc có vấn đề. Thông thường, muốn
vay nợ ngân hàng để trả góp mua nhà, người đi vay cần phải có một số vốn để
trả trước một phần, đồng thời phải chứng minh được khả năng tài chính để trả
nợ đều đặn trong suốt quá trình đi vay. Ngân hàng sẽ
xem xét các yếu tố này
cùng với tiền sử vay nợ của khách hàng. Người nào có tiền sử tín dụng kém,
nghĩa là hay trả nợ trễ hạn hoặc từng không có khả năng trả nợ, sẽ có điểm tín
dụng thấp. Điểm tín dụng được sử dụng để phân biệt nợ chuẩn và nợ dưới
chuẩn. Người có điểm tín dụng dưới chuẩn sẽ khó được cho vay.
Công cụ nợ dưới chuẩn nở rộ vào khoảng thời gian sau sự sụp đổ của thị
trường cổ phiếu công nghệ dotcom theo sau vụ tấn công 11/9 và việc Mỹ xâm
lược Irắc và Afghanistan. Trước sự sụp đổ của thị trường chứng khoán và tình
trạng hoảng loạn sau vụ tấn công trung tâm thương mại thế giới, Cục dự trữ liên
bang Mỹ (FED) phải giảm lãi suất để kích thích n
ền kinh tế. Cho tới mùa hè
năm 2003, lãi suất dự trữ liên bang Mỹ đã xuống mức thấp kỉ lục. Theo sau sự

cầu. B
ước tiếp theo, người ta có thể chia tách các chứng khoán này để chúng có
mức độ rủi ro khác nhau và nhà đầu tư có thể lựa chọn mức độ rủi ro ưa thích.
Những người muốn an toàn sẽ nhận tiền trước, nhưng ở mức lợi nhuận thấp.
Những người mạo hiểm hơn có thể được hưởng mức lợi nhuận cao hơn, ít nhất
là về lý thuyết.
Cho tới giữa th
ập kỉ, hình thức chứng khoán hóa này phát triển cực độ.
Bất cứ tài sản nào gắn với một dòng tiền đều có thể chứng khoán hóa và chia tác
với các mức rủi ro khác nhau, thậm chí cả khoản thu phí cầu đường cũng có thể
được làm theo cách này. Lợi ích của cách làm này quá rõ ràng. Trước đây, mức
tín dụng phụ thuộc vào qui mô của ngân hàng địa phương và khả năng chịu rủi
ro. Cá nhân hoặc doanh nghiệp có thể khó vay ngân hàng do ngân hàng không
đủ vốn. Gi
ờ đây, ngân hàng có thể chứng khoán hóa khoản vay và bán lại cho
các nhà đầu tư, dùng tiền đó tiếp tục cho vay. Miễn là có các nhà đầu tư đâu đó
chịu mua chứng khoán, ngân hàng chẳng bao giờ phải lo thiếu vốn. Các nhà
quản lý cũng tỏ ra thích thú với hình thức này bởi lẽ dường như rủi ro được
phân chia rộng hơn và nguy cơ khủng hoảng sẽ thấp hơn. Để có lợi nhuận cao,
các nhà đầu tư b
ắt đầu sử dụng đòn bẩy tài chính, nghĩa là đầu tư bằng tiền vay,
nhờ vào mức lãi suất thấp ở mọi nơi trên thế giới.

16
Qua thời gian, thị trường các chứng khoán mới này trở nên ngày càng
phức tạp, trong đó các chúng khoán phái sinh như chứng khoán nợ thế chấp
(CDO) đặc biệt được chú ý. Chứng khoán nợ thế chấp CDO là một chứng khoán
giống như trái phiếu, có dòng tiền thu được từ các trái phiếu khác, các chứng
khoán này lại được gắn với nợ thế chấp hoặc một khoản vay nợ khác. Sự phức
tạp của các chứng khoán này khiế

17
giảm số tiền phải trả hàng tháng, ít nhất trong thời kì đầu (thường là 2 năm).
Người vay chỉ phải trả rất ít tiền ban đầu. Thậm chí, họ không cần chứng minh
khả năng trả nợ. Rõ ràng hành động này cực kì rủi ro. Tuy nhiên, miễn là giá
nhà tiếp tục tăng, người vay có thể bán nhà sau đó để trả nợ và có lãi. Cách làm
này đã giúp hỗ trợ giá nhà trong một thời gian. Tuy nhiên, giá nhà tăng cộng với
lãi suất tă
ng khiến cho việc sở hữu nhà thêm khó khăn. Các nhà xây dựng thì
vẫn tiếp tục lạc quan về thị trường nhà đất. Số nhà xây dựng mới tiếp tục tăng.
Cuối cùng, bong bóng nhà đất sụp đổ vào cuối năm 2006 và nhiều tổ
chức cho vay chịu thiệt hại lớn, rơi vào phá sản. Không ai còn muốn mua các
chứng khoán gắn với khoản vay thế chấp. Cho đến cuối mùa xuân 2007, thiệt
hại đã lớ
n đến mức, các tổ chức ngân hàng đầu tư uy tín phải thông báo rằng các
quĩ đầu tư của họ, vốn đã đầu tư lớn vào các chứng khoán vay thế chấp có nguy
cơ sụp đổ. Khi qui mô thiệt hại của cuộc khủng hoảng vay nợ dưới chuẩn tăng
lên, cuộc khủng hoảng dưới chuẩn mở rộng ra qui mô toàn cầu.
Tuy nhiên, thiệt hại không chỉ giới hạn trong các chứng khoán vay th
ế
chấp. Thị trường tiền tệ toàn cầu nhanh chóng bị ảnh hưởng. Thanh khoản co
lại. Các quan hệ vay nợ ngắn hạn liên ngân hàng bị cắt đứt. Áp lực giờ đây đè
nặng lên các ngân hàng. Họ không chỉ khó huy động vốn mà còn chịu thiệt hại
nặng nề với số chứng khoán thế cấp nắm giữ. Hơn thế, các chứng khoán rủi ro
cao khác cũng bị ảnh hưởng. Tín d
ụng co thắt bởi ngân hàng bị hạn chế khả
năng cho vay.
Cuộc khủng hoảng lên tới đỉnh vào đầu năm 2008 khi có các tin đồn về
khả năng thanh khoản của các ngân hàng đầu tư lớn ở phố Wall. Những ngân
hàng này mua bán chứng khoán tự doanh và cho khách hàng với tỷ lệ đòn bẩy
cao, trong đó có các chứng khoán cho vay thế chấp dưới chuẩn. Không giống

Cuộc khủng hoảng thực chất là cuộc khủng hoảng tín dụng và hình thành
thông qua các công cụ tài chính dẫn xuất (derivatives). Công cụ dẫn xuất là các
hợp đồng cho phép các công ty mua bán rủi ro xuất phát từ một hay một số tài
sản khác, chẳng hạn như các hợp đồng ngoại tệ tương lai cho phép mua ngoài tệ

ở một tỉ giá nào đó trong tương lai. Sự phát triển của hệ thống tài chính những
năm gần đây đã làm sản sinh ra nhiều công cụ tài chính dẫn xuất mới, phức tạp
hơn và cũng rủi ro hơn, chẳng hạn như các hợp đồng tráo đổi rủi ro tín dụng
trao tay CDS. Đây là một thỏa thuận trong đó người mua sẽ thanh toán tiền cho
người bán để đổi lại việc s
ẽ nhận được một khoản bồi hoàn nếu một khoản vay
hoặc trái phiếu bị vỡ nợ.

19
Các công cụ dẫn xuất tín dụng cho phép người cho vay (ngân hàng và các
tổ chức tài chính cho vay) chuyển rủi ro tín dụng cho bên thứ ba, chẳng hạn các
quĩ đầu tư. Nếu được sử dụng hợp lý, các công cụ dẫn xuất rất hữu ích cho phép
phân bổ rủi ro hiệu quả và tất cả các bên đều có lợi. Vấn đề chính ở đây là việc
lạm dụng nó để né tránh các qui định quản lý bảo vệ nhà đầu tư và công chúng,
những người không có đủ thời gian hoặc khả năng để nắm bắt rủi ro. Trong
trường hợp tốt, việc né tránh các qui định có thể đem lại lợi nhuận cao. Trong
trường hợp ngược lại, người trả giá là nhà đầu tư và người gửi tiền tại ngân
hàng.
Các công cụ chứng khoán dẫn xuất đã xuất hiện từ lâu nhưng chỉ bùng nổ
mạnh mẽ vào thập kỉ
1990 và 2000, đặc biệt là các chứng khoán gắn với cho
vay thế chấp. Nhờ công cụ này, các ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư,
các tổ chức môi giới thế chấp hay các tổ chức được chính phủ hậu thuẫn như
Fannie Mae và Freddie Mac tránh được sự quản lý. Lẽ ra, các tổ chức thẩm định
như Moody, Fitch và Standard & Poor’s phải đứng ra cảnh báo về những rủi ro.

nhưng Alan Greenspan, chủ tịch FED lúc đó đã từ chối thực hiện. Tư tưởng tự
do của FED còn thể hiện ở chỗ tổ chức này đã từng bước nới lỏng đạo luật
Glass Steagall, vốn được xây dựng sau Đại suy thoái để ngăn các ngân hàng
thương mại tham gia vào các hoạt động rủi ro của ngân hàng đầu tư. Đạo luật
này cuối cùng cũng được Quốc hội Mỹ bãi bỏ, mở đường cho các ngân hàng
thương mại tham gia vào các lĩnh vực tài chính khác, bao gồm ngân hàng đầu tư
và bảo hiể
m. Đạo luật mới thay thế đã đưa nhiều công cụ tài chính, trong đó có
công cụ hoán đổi rủi ro tín dụng CDS, ra khỏi tầm kiểm soát của FED. Ngoài ra,
FED cũng gián tiếp đổ dầu vào bong bóng nhà đất và cơn lốc đầu tư bằng chính
sách lãi suất thấp. Mặt khác, FED cũng tin vào sự đánh giá của các tổ chức đánh
giá tín nhiệm đánh giá về rủi ro của các loại chứng khoán và mức độ an toàn của
các tổ
chức tài chính, mà như chúng ta đã biết, các tổ chức này đã không hoàn
thành nhiệm vụ đánh giá chính xác rủi ro.Tư tưởng tự do và phi điều tiết hóa
không chỉ tồn tại trong FED mà trong hầu hết cơ quan chính phủ lúc đó. Năm
2004, năm ngân hàng đầu tư lớn đã vận động Ủy ban chứng khoán Mỹ nới lỏng
các qui định hạn chế số lượng nợ của bộ phận môi giới, cho phép các ngân hàng
khai thác hàng tỷ đô la dự trữ dùng để dự phòng rủi ro. Hành động này đồng
thời cũng lấy đi công cụ bảo vệ của các ngân hàng. Nhờ đó, các ngân hàng đầu
tư đã tăng tỷ lệ nợ trên vốn lên tới 20, 25 lần, thậm chí hơn.
Việc các cơ quan quản lý không theo kịp sự phát triển của hệ thống tài
chính, với những tổ chức mới và công cụ tài chính mới, cộng v
ới việc quản lý

21
lỏng lẻo, đã tạo cơ sở cho các hoạt động đầu tư, cho vay đầy rủi ro diễn ra mạnh
mẽ, tạo ra bong bóng nhà đất, bong bóng tín dụng và lan truyền rủi ro ra khắp
nền kinh tế và ra toàn cầu. Sự đổ vợ của thị trường nhà đất chỉ là mồi lửa đốt
cháy cả hệ thống mà vốn sớm hay muộn cũng sẽ tạo ra khủng hoảng.

do chưa hội nhập vào hệ thống tài chính toàn cầu. Nhưng khi cuộc khủng hoảng 2
Mác – Ăng ghen toàn tập, tập 25, phần II, chương 30, trang 43-44.
3
Lênin toàn tập, tập 5, trang 17.

22
từ hệ thống tài chính lan rộng ra toàn bộ nền kinh tế, các nước đang phát triển
không tránh khỏi ảnh hưởng. Tốc độ tăng trưởng giảm cùng với tỷ lệ thu nhập
thấp khiến nhiều hộ gia đình đứng trước thảm họa nghèo đói.
Trong khoảng thời gian giữa 2002 và 2007, các nước này tăng trưởng khá
tốt do thương mại toàn cầu bùng nổ, nguồn vốn đầu tư nước ngoài
đổ vào và giá
nguyên vật liệu và sản phẩm sơ chế tăng cao. Vào năm 2007, vốn đầu tư đổ vào
các nước đang phát triển lên tới 1,2 nghìn tỷ đô la, gấp sáu lần so với đầu thập
kỉ, chủ yếu là dưới dạng đầu tư trực tiếp FDI. Cuộc khủng hoảng nổ ra khiến
nguồn vốn này giảm xuống chỉ còn 363 tỷ trong năm 2009. Lượng kiều hối
chuy
ển về cũng giảm 7,3% trong năm 2009, xuống còn 305 tỷ đô la. Tăng
trưởng GDP bình quân cũng giảm từ 8,1% năm 2007 xuống 5,9% năm 2008 và
1,2 % trong năm 2009. Điều này kéo theo 30 triệu công nhân mất việc làm, theo
báo cáo của Tổ chức Lao động quốc tế. Một dự báo cho thấy tăng trưởng chậm
hơn đã khiến có thêm 53 triệu người bị mắc kẹt trong cảnh nghèo đói. Cuộc
khủng hoảng kinh tế qu
ốc tế do vậy có nguy cơ biến thành cuộc khủng hoảng
nhân đạo ở nhiều nước đang phát triển.
Là một nước đang phát triển với những thành quả của công cuộc đổi mới
và mở cửa, nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế khu vực và

xuất nhập khẩu giảm 11,4%. Điều đáng nói là trong 10 năm trước khủng
khoảng, tức là từ 1999-2008, cả xuất nhập khẩu đều đã tăng với tốc độ cực kì ấn
tượng, bình quân trên 20%/năm (xem Bảng 1).
Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu 1999 – 2009 (%)
Năm Tổng kinh ngạch Xuất khẩu Nhậ
p khẩu
1999 11.6 23.3 2.1
2000 29.4 25.5 33.2
2001 3.7 3.8 3.7
2002 16.7 11.2 21.8
2003 24.6 20.6 27.9
2004 28.7 31.4 26.6
2005 18.4 22.5 15
2006 22.4 22.7 22.1
2007 31.4 21.9 39.8
2008 28.8 29.1 28.6
Sơ bộ 2009 -11.4 -8.9 -13.3
Trung binh 1999-2008 21.57 21.2 22.08
Nguồn: Tổng cục thống kê
Xuất khẩu giảm không chỉ là do sự suy giảm nhu cầu về lượng mà cả sự
suy giảm về giá. Giá hàng hóa xuất khẩu đã giảm nhanh, do nhu cầu ảm đạm
hơn và khả năng chi trả của khách hàng cũng thấp hơn. Cụ thể, ta thấy so với
giá xuất khẩu năm 2008, giá xuất khẩu năm 2009 giảm 11,9%, trong đó, giảm
mạnh nhất là nhóm hàng tư liệu sản xuất, gồm nguyên, nhiên v
ật liệu (-31,5%)

24
và máy móc phụ tùng (-11,8%). Nhóm hàng tiêu dùng xuất khẩu của nước ta,
vốn chủ yếu là những mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu, cũng giảm gần
4% về giá. Cũng lưu ý rằng trước thời điểm khủng hoảng, giá xuất khẩu tăng

• Nguyên, nhiên vật liệu
27.8 34.2 15.1 9.4 43.8
26,1
-31.5
• Máy móc, phụ tùng
-2.1 0.5 0.5 5.2 12.1
3,2
-11.8
Nguồn: Tổng cục thống kê
Xuất khẩu giảm khiến nhiều doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu lao
đao, phải thu hẹp, thậm chí đóng cửa sản xuấtvà cùng với họ là nông dân, công
nhân thiếu việc làm, thu nhập giảm. Chẳng hạn, nhà máy đồ gỗ Figra 100% vốn
Nhật bản đã phải đóng cửa sau 4 năm hoạt động vì không kí nổi hợp đồng nào
cho năm 2009. Một loạt dây chuyền sản xuất của các hãng lớ
n như Canon,
Panasonic ở Việt nam cũng phải dừng hoạt động vì thiếu đơn hàng. Với ngành
cà phê, giá cà phê xuất khẩu FOB tại thành phố Hồ Chí Minh đang từ 2520
USD/tấn vào tháng 2/2008, giảm xuống 2000 USD/tấn vào tháng 9 và tiảm tiếp
xuống 1480 USD/tấn vào tháng 11/2008. Điều này kiến cho giá thu mua café
trong nước sụt giảm mạnh, từ mức 40-42 nghìn/kg rơi xuống 24-25 nghìn/kg.
Vì thế, với mỗi tấn café, nông dân mất 14-16 triệu đồng. Nhiều nông dân rơi
vào cả
nh nợ nần, trắng tay.
Sự suy giảm của xuất khẩu gây hiệu ứng lan truyền cho cả nền kinh tế do
xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn trong GDP nước ta. Tổng cầu giảm mạnh đẩy
khiến tốc độ tăng trưởng GDP sụt giảm.

25
1.3.2 Tác động qua kênh đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài
Bên cạnh kênh tác động vào tổng cầu thông qua xuất nhập khẩu, cuộc

1.3.3 Tác động lên tổng thể nền kinh tế
Thông qua tác độ
ng vào hai kênh chính là xuất nhập khẩu và đầu tư nước
ngoài, tổng cầu của nền kinh tế bị suy giảm mạnh, kéo theo sự suy giảm chung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status