Xay dung xa hoi hoc tap o nuoc ta
Xây dựng xã hội học tập ở nước ta
ND - Xây dựng xã hội học tập (XHHT) vừa là
một nhiệm vụ cấp bách, vừa là một yêu cầu chiến lược, nhiệm vụ cơ bản, lâu dài của
nền giáo dục nước nhà, quyết định thành công của sự nghiệp CNH, HÐH ở nước ta, của
quá trình đưa nền kinh tế Việt Nam thành một nền kinh tế tri thức, đưa dân tộc Việt
Nam trở thành một dân tộc thông thái như Bác Hồ hằng mong muốn, đưa xã hội Việt
Nam thành một xã hội trí tuệ, hiện đại, hội nhập kinh tế thế giới.
Nhiệm vụ trung tâm của xây dựng XHHT ở nước ta
Nhiệm vụ trọng tâm của XHHT là làm cho mọi người từ trẻ đến già đều thấy cần phải học, và học
suốt đời, xem học tập là một nhu cầu của cuộc sống, như cơm ăn, áo mặc, tạo môi trường học
tập đáp ứng cao nhất nhu cầu học tập ban đầu và học suốt đời của mọi tầng lớp nhân dân, mọi
lứa tuổi và cả người cao tuổi, mọi ngành nghề, mọi trình độ, trong đó đặc biệt chú ý nhu cầu học
tập của người cao tuổi, người bị khuyết tật, người bị thiệt thòi về giáo dục và có thể học ở mọi
nơi (tại trường, tại nơi làm việc, tại nhà...), mọi lúc, học bằng nhiều cách: trên lớp, học từ xa
qua phát thanh, truyền hình, học trên máy tính, trên mạng in-tơ-nét, hội nghị, hội thảo, trò
chơi... theo nguyên tắc tự học là chính.
Bản chất XHHT là một môi trường giáo dục, trong đó mọi người đều được cung cấp cơ hội học
tập, với thiết chế giáo dục mở, mềm dẻo, linh hoạt, thích ứng điều kiện học của từng người, từng
cơ quan, đơn vị... một môi trường trong đó mọi lực lượng xã hội, mọi tầng lớp xã hội đều tự giác
học hành và tích cực tạo ra các cơ hội, điều kiện học hành cho xã hội sao cho cả xã hội trở thành
một trường học lớn, mỗi người dân là một học trò, nhu cầu học luôn được đáp ứng và là nơi đào
tạo nguồn nhân lực dồi dào, đa dạng với nhiều trình độ, nhiều năng lực khác nhau đáp ứng yêu
cầu phát triển đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế trong một thị trường lao động luôn biến động
dưới sự tác động tiến bộ của khoa học và công nghệ.
Trong XHHT, quan niệm về học được mở rộng. Học không chỉ là học văn hóa mà còn phải học
các kiến thức khác để làm việc, để sáng tạo, để làm người, để sống tốt hơn, thích ứng sự thay
đổi của xã hội. Và, học không chỉ học trong nhà trường, học tập trung theo niên chế mà còn học
trong cuộc sống xã hội, tập thể, gia đình, bạn bè,... Học được ý thức là con đường làm tăng
trưởng trí tuệ, giá trị đạo đức, tinh thần, thể chất, thẩm mỹ,... cho con người. XHHT là một xã
hội cung cấp cho con người đầy đủ các điều kiện, các cơ hội để học tập, phát triển, bảo đảm cho
học tập trung, không theo niên chế, không học "giáp mặt", học từ xa bằng các dạng học liệu
riêng được cung cấp qua hệ thống truyền thông đa phương tiện với hình thức học tập chủ đạo là
tự học.
Hệ thống giáo dục ban đầu và hệ thống giáo dục tiếp tục là hai hợp phần của một chính thể là hệ
thống giáo dục quốc dân, có mối liên hệ qua lại rất mật thiết, bổ trợ cho nhau, mang tính liên
thông đan xen dọc - ngang nhịp nhàng và làm tiền đề cho nhau tồn tại, phát triển, thay đổi. Luật
Giáo dục sửa đổi bổ sung ban hành năm 2005 đã ghi: "Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo
dục chính quy và giáo dục thường xuyên. Giáo dục thường xuyên giúp mọi người vừa học vừa
làm, học liên tục, học suốt đời...". Hệ thống giáo dục ban đầu có chức năng tổ chức dạy - học
cho thế hệ trẻ (khoảng 22 - 23 triệu).
Hệ thống giáo dục tiếp tục có chức năng tổ chức dạy - học chủ yếu cho người lớn và cao tuổi
(khoảng 60 triệu). Nếu hệ thống giáo dục chính quy (giáo dục trong nhà trường) có cả một hệ
thống cơ sở vật chất hoàn chỉnh, một bộ máy tổ chức điều hành, quản lý chặt chẽ từ trung ương
đến địa phương, có đội ngũ hơn một triệu giáo viên được đào tạo qua trường lớp chính quy và
với chương trình sách giáo khoa được biên soạn và quản lý ở cấp quốc gia và được Nhà nước cấp
ngân sách thì hệ thống giáo dục không chính quy (giáo dục tiếp tục) với nhiệm vụ tổ chức giáo
dục cho gần 60 triệu người lớn trong cả nước nhất thiết cũng phải có các điều kiện cần và đủ mới
vận hành có hiệu quả. Và, việc xây dựng XHHT, môi trường học tập thuận lợi cho mọi người mới
thành công.
Hệ thống giáo dục ban đầu và hệ thống giáo dục tiếp tục có đối tượng, mục tiêu, phương pháp
dạy - học, tài liệu dạy - học, hình thức dạy - học riêng và cung cấp cho xã hội các sản phẩm giáo
dục hướng theo các yêu cầu khác nhau. Vì vậy, cần tiến hành nghiên cứu các cơ sở lý luận, nhất
là lý luận về giáo dục học người lớn, tâm lý học lứa tuổi, cũng như những kinh nghiệm làm
chương trình, tài liệu học tập, cách thức đánh giá chất lượng học tập, v.v... ở trong và ngoài
nước để làm căn cứ khoa học cho việc tổ chức và triển khai các mảng công việc trong quá trình
xây dựng XHHT.
Phác thảo cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân trong XHHT
Hệ thống giáo dục quốc dân trong xã hội học tập gồm hai tiểu hệ thống: Hệ thống giáo dục ban
đầu được tổ chức theo các cấp học, bậc học, từ thấp lên cao: Nhà trẻ - mẫu giáo, mầm non, tiểu
học, THCS, THPT, ÐH-CÐ, sau ÐH và học tập trung, "mặt giáp mặt", học theo niên chế. Hệ thống
học trong nhà tù của đế quốc, học ở thư viện, học ở giảng đường... trong suốt ba mươi
năm xa Tổ quốc. Trong điều kiện không có sự đùm bọc chăm sóc của gia đình, không có
học bổng, không có cơ quan, tổ chức tài trợ, luôn bị đế quốc săn lùng, ám hại, song Bác
vẫn học được và tìm ra được con đường cứu nước, con đường làm cách mạng giải phóng
dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Hai sắc lệnh về sự học được ký cùng ngày
Bác Hồ đã học tập suốt đời nên càng thấm thía cảnh lầm than, thất học của nhân dân các
dân tộc thuộc địa. Khi còn hoạt động ở hải ngoại, năm 1919 Bác đã gửi đến Hội nghị
Versailles bản yêu sách gồm tám điểm, trong đó điểm thứ sáu là: "Tự học tập và mở các
trường kỹ thuật và chuyên nghiệp cho người bản xứ ở khắp các tỉnh".
Khi trở thành vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, Bác chỉ có ham muốn và ham muốn tột bậc là
nước nhà được hoàn toàn độc lập, nhân dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng
có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Điều mong muốn của Bác đã được thể hiện ở
những chủ trương, quyết sách của Đảng và Nhà nước ta, trong các lời dạy của Người.
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Bác đã coi việc diệt giặc dốt quan trọng
và cấp bách như diệt giặc đói, giặc ngoại xâm. Bác đã nhận ra trên 90% số dân ta mù chữ,
thất học, đó là một quốc nạn. Bác còn cảnh báo: "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu".
Bác động viên khích lệ đồng bào: "Đi học là yêu nước". Ngày 8/9/1945 Hồ Chủ tịch đã
ký hai sắc lệnh về thanh toán nạn mù chữ và thành lập Nha Bình dân học vụ. Đây là sắc
lệnh đầu tiên về giáo dục của Nhà nước non trẻ vừa giành được độc lập.
Mối quan hệ kinh tế - giáo dục
Tiếp đó ngày 15/11/1945, Hội đồng Chính phủ đã quyết định mở lại Trường Đại học
Đông Dương và đổi tên thành Trường Đại học Quốc gia Việt Nam, giảng dạy hoàn toàn
bằng tiếng Việt. Bác Hồ đã đến dự lễ khai giảng đại học đầu tiên của nước Việt Nam độc
lập. Trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà năm 1945 của Bác có đoạn viết: "Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay
không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm
châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em".
Và sau này Bác lại nêu lên một triết lý sâu sắc thông qua một sự việc cụ thể, đơn giản, dễ
nhớ là: "Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây. Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng
vùng ven; các phường trong nội thành cần tham khảo mô hình tổ chức Trung tâm học tập cộng
đồng ở quận Tân Bình và 12 để xây dựng mô hình phù hợp.
Việc thành lập Trung tâm học tập cộng đồng phải có kế hoạch, nội dung, chương trình hoạt động
cụ thể; phường cần phối hợp tổ chức và tạo mọi điều kiện cho mọi người, mọi giới tham gia tích
cực việc học; phổ biến kịp thời các thông tin liên quan đến phát triển nghề nghiệp và kinh nghiệm
sản xuất. Trung tâm giáo dục cộng đồng phường - xã không nhất thiết phải có trụ sở riêng, nên sử
dụng có hiệu quả các cơ sở giáo dục, văn hóa, thể dục thể thao tại địa phương cho hoạt động của
Trung tâm.
Đề án xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2006 - 2010 của TP cần đánh giá thực trạng học tập của
người dân TP; so sánh kết quả thực hiện với các mục tiêu, nhiệm vụ mà Đề án xây dựng xã hội
học tập của Chính phủ để xây dựng các chỉ tiêu phù hợp. Đề án cần xác định rõ lộ trình thực hiện
trong giai đoạn 2007 - 2010; trong đó chú trọng xây dựng giải pháp về tổ chức bộ máy, cơ chế vận
hành, nội dung hoạt động và nhân rộng các mô hình thích hợp đã triển khai.
Giám đốc các sở - ngành, Thủ trưởng các cơ quan đơn vị, Chủ tịch UBND quận - huyện, phường -
xã, thị trấn phải đề ra kế hoạch học tập nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ công chức, có
kế hoạch triển khai chương trình xây dựng xã hội học tập tại địa phương từ nay đến cuối năm
2010
De xay dung mot xa hoi hoc tap
Để xây dựng một xã hội học tập
03:51' PM -
Thứ ba,
18/11/2003
Mới đây, Hội Khuyến học Việt Nam cùng với Bộ Giáo dục – Đào tạo và một
số ngành liên quan đã có đề nghị lên Chính phủ về việc triển khai cuộc vận
động "Toàn dân xây dựng cả nước trở thành một XHHT". Sau khi đã xem xét,
ngày 27/10/2003, Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải đã có ý kiến chỉ đạo
về đề án "Xây dựng XHHT ở Việt Nam". Theo đó Thủ tướng nhấn mạnh: Việc
xây dựng XHHT là hết sức cần thiết. Bộ GD-ĐT chủ trì cùng Hội Khuyến học
và các bộ, ngành có liên quan xây dựng đề án về xây dựng XHHT trình Chính
học tập trong đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa. Do đó, hệ thống giáo dục
không chỉ bó hẹp trong các loại hình nhà trường, mà còn trong các hình thức
học ngoài nhà trường. Đó là hệ thống giáo dục mềm dẻo, tạo ra sự đa dạng của
các ngành học, hình thức học, về những kênh liên thông giữa các loại hình
khác nhau.
Có thể nói, XHHT là một hiện tượng có tính qui luật của sự phát triển, là vấn
đề chung của thời đại. Song mỗi nước lại có chiến lược xây dựng XHHT của
riêng mình. Ở nước ta, theo quan điểm của tôi, khi xây dựng XHHT phải chú ý
đến mấy điểm sau:
Giai đoạn phát triển đầu tiên của XHHT phải gắn liền với mục tiêu tăng
trưởng kinh tế, phát triển xã hội, xóa đói giảm nghèo, thực hiện công bằng xã
hội. Phát triển học tập là để tạo ra sự tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
Để làm được điều đó thì phải dựa vào khoa học và công nghệ, dựa vào một
nền sản xuất bền vững.
Bảo đảm sự tăng trưởng nhất thời đã là một việc khó, còn phải đảm bảo tăng
trưởng bền vững lại càng khó hơn. Đối với bài toán tăng trưởng, dữ kiện quan
trọng nhất là trí tuệ của dân tọc. Không ít quốc gia chủ trương khai thác triệt
để môi sinh tăng trưởng. Tất nhiên tăng trưởng kinh tế chưa hẳn đã mang lại
sự phát triển xã hội, bởi thu nhập tăng nhưng xã hội thiếu công bằng, thiếu dân
chủ, văn minh... thì chỉ là xã hội lạc hậu. Mà xã hội phát triển phải là xã hội
có nhiều khả năng lựa chọn đối đối với người dân trong đời sống hàng ngày
của họ. Chúng ta cũng cần phải hiểu cho đúng khái niệm giảm nghèo, trên cả 3
phương diện: giảm nghèo về tri thức, giảm nghèo về sức khỏe và giảm nghèo
về cơ sở vật chất.
Giai đoạn thứ hai của việc xây dựng XHHT là phát triển kinh tế tri thức dựa
trên trên nguồn nhân lực chất lượng cao, trên cơ sở đầu tư vào một số vấn đề:
cho mọi người thuộc mọi lứa tuổi. Nền giáo dục đó bao gồm: hệ thống giáo
dục chính quy, không chính quy và phi chính quy. Nhà nước phải tạo điều kiện
cho người dân được đăng ký học phi chính quy, học tập ngoài nhà trường, học
bất cứ cái gì mà người dân cần.
Thứ ba: Chuyển từ nền giáo dục thuần túy chạy theo văn bằng như hiện nay
sang nền giáo dục coi trọng việc hình thành và phát triển nhân cách, không
chạy theo bằng cấp. Nếu không người học chỉ cần đạt đến mục tiêu có bằng
cấp là thôi, không còn động lực học tập để có tri thức, để làm việc.
Thứ tư: Chuyển từ khẩu hiệu "Giáo dục cho mọi người" sang khẩu hiệu "Cả
nước là một xã hội học tập". Nghĩa là chuyển từ cơ chế chỉ có nhà nước phải
có trách nhiệm tạo điều kiện học tập cho người dân sang cơ chế mọi người dân
đều phải có trách nhiệm học tập, học tập để khỏi bị thất nghiệp, bị xã hội đào
thải, để không bị lạc hậu và theo kịp các bước tiến của khoa học và công nghệ
Kiến tạo một xã hội học tập ở Việt Nam - những hạn chế
từ lịch sử
Trần Ngọc Vương
Tạp chí Tia Sáng
07:02' PM -
Chủ nhật,
20/08/2006
Nền kinh tế tri thức ở quy mô toàn xã hội tự nhiên đòi hỏi mọi thành viên của
xã hội ấy đồng thời là những người năng sản bằng trí tuệ. Kiến tạo một xã hội
học tập, không nghi ngờ gì nữa, là một con đường tất yếu mà Việt Nam phải
khẩn trương hướng tới. Bài viết này xuất phát từ một góc nhìn cụ thể, là góc
nhìn về logic - lịch sử sự vận động của đối tượng, lại chỉ muốn đề cập chủ yếu
tới những hạn chế, những khía cạnh không thuận, nói khác, những khó khăn
trong việc xây dựng một xã hội như thế, ở ta.
lấy" này, tuy không hoàn toàn chỉ mang nghĩa tiêu cực, nhưng nhũng tác động
tiêu cực của nó là điều không thể xem thường.
Trong vòng bảy, tám thế kỷ, đội ngũ ttrí thức nhà nho ở Việt Nam đã dần dần
thay thế và cuối cùng là thay thế hẳn đội ngũ trí thức Phật giáo, tạo ra một nền
học vấn kiểu nhà nho, và vì thế, ngả theo mô hình của nền học vấn Trung Hoa.
Nhưng khác với giới trí thức Trung Hoa nói chung, tầng lớp nhà nho Trung
Hoa nói riêng, chưa bao giờ tầng lớp nhà nho Việt Nam thực sự có thực sự độc
lập tương đối về chính trị, nhất là trong quan hệ với chế độ chuyên chế, để có
thể có được những thành tựu độc lập trong sáng tạo tri thức và những giá tinh
thần đủ để vinh danh chỉ riêng tầng lớp của mình. Lý luận Nho giáo không
được khái quát lên từ thực tế Việt Nam mà lý luận đó chỉ phù hợp nên có thể
vận dụng được trên thực tế Việt Nam ở những thời gian lịch sử nhất định, do
quãng thời gian lịch sử ấy có thể và trên thực tế đã kéo dài, thậm chí quá dài.
Theo cách nhìn nhận cá nhân, tôi cho rằng phật giáo ở Việt Nam thật thịnh
trong một khoảng thời gian không dài, nhưng lại có những thành tựu về sáng
tạo tinh thần đột xuất và có những gương mặt trí tuệ đỉnh cao, khả dĩ vinh
danh và đại diện cho trí tuệ Việt hơn cả những đóng góp mà nhà Nho tạo nên
trong một thời kỳ lịch sử dài hơn nhiều.
Nhìn vào nhũng sản phẩm đỉnh cao cuối cùng theo cách nhìn cầu trúc đồng đại
hóa, sẽ thấy trong đội ngũ tri thức nhà nho Việt Nam thiếu một cách nghiêm
trọng những trí tuệ lý thuyết, những xung năng sáng tạo lớn. Các tác giả Trần
Văn Giàu, Trần Định Hươu, Hà Văn Tấn đã nhiều lần lưu ý đến sự thiếu hụt
áy. Nói thiếu vắng hoàn toàn thì không phải, nhưng chắc chắn đội ngũ những
người như vậy trong lịch sử Việt Nam khá thưa thớt, có nhũng thế kỷ hầu như
không thể tìm thấy được. Điều đáng cảm thán không chỉ là "ôi thương sao
những thế kỷ vắng anh hùng" như Chế Lan Viên từng thốt lên, mà cũng cả “ôi
thương sao những thế kỷ vắng thiên tài"! Nhận xét tương đối tỉ mỉ hơn cả về
điều này là ý kiến của cố học giả Trần Đình Hượu.
a) Không có ai có hứng thú đi vào những tư tưởng triết học. Chưa có tác phẩm,
tác giả chuyên về tư tưởng triết học. Nhũng người mà ta phải tính là các nhà tư
danh xưng xứng đáng nhất trong việc phân loại chuyên gia khoa học thời hiện
đại là nhà sưu tầm, nhà biên khảo hay nhà thư tịch học. Thật đau lòng khi phải
nói lên điều này.
Bộ phận hiền nho - các nhà nho hữu danh và thành đạt cũng hầu như không có
ai đủ can đảm để chỉ "đi đến cùng một con đường đã chọn”, có lẽ trừ Hải
Thượng Lãn ông. Ngay Hải Thượng Lãn ông cũng chọn con đường trở thành
một danh y vào lúc tuổi đời không còn trẻ và tình huống cơ hồ không thể khác.
Nói tổng quát, màu tri thức nhà nho ở ta chuyên môn hóa khá muộn màng và
không trở nên đội ngũ chuyên gia thực thụ, hầu như bất cứ bình diện nào của
lao động sáng tạo tinh thần. Trong các hoạt động nghệ thuật, chỉ thơ là có
thành tựu nổi bạt, nhưng không có ai, kể cả nhà thơ vĩ đại nhất trong lịch sử
văn học dân tộc là Nguyễn Du cũng không trở thành nhà thơ "chuyên nghiệp".
Một khi hoạt động sáng tạo tinh thần, lao động trí óc chưa được chuyên môn
hóa, chuyên nghiệp hóa, thì mọi hoạt động lao động khác gắn liền với các hệ
thống tri thức chuyên nghiệp sẽ chỉ trở thành các loại lao động thủ công,
nghiệp dư. Tình trạng đó là phổ biến từ các loại làng nghề gắn bó xa gần với
hoạt động nghệ thuật cho chí các loại làng nghề sản xuất ra các sản phẩm
thuần túy mang tính thương mại. "Công tượng", gọi nôm na là thợ, xếp loại ba,
sau nông dân, còn được an ủi là xếp trên loại người tiêu thụ sản phẩm cho họ,
tức thương nhân, tầng lớp dưới đáy, bị gọi là miệt thị là loại “con buôn”, ý coi
ngang ngang như các loại người bị coi là con... gì gì khác. Việc cất giữ các bí
mật nghề nghiệp thành tâm lý phổ biến không đơn thuần chỉ để giữ gìn
phương tiện mưu sinh: theo ý tôi trong cách hành xử ấy còn tiềm ẩn cả tâm
trạng ẩn ức, cả sự chống đối theo tiêu cực, cả niềm kiêu hãnh về hững phẩm
tính và kỹ năng ưu việt không được thừa nhận.
Gia nhập xã hội hiện đại theo con đường bị cưỡng bức, không hề được chuẩn
bi đầy đủ về mọi phương diện để thích nghi, thiếu nghiêm trọng những kinh
nghiệm và thực tế tương ứng được với xã hội hiện đại từ truyền thống, tóm lại,
với tính nhược tiểu thể hiện khá "hoàn hào", giới trí thức Việt Nam khi trở
thành "tầng lớp trí thức bản xứ” thêm một lần nữa bị chủ nghĩa thực dân vầy
giữa Liên Xô và Trung Quốc đã nổ ra những bất đồng. Tiếp theo đó là đại
cách mạng văn hóa vô sản, tuy diễn ra và tác động tai hại trước hết và chủ yếu
là ở Trung Quốc, nhưng không thể nói Việt Nam nằm ngoài vòng ảnh hưởng
của biến cố này. Trong giới khoa học Việt Nam những năm 1967 - 1970 nhiều
nạn nhân bị quy kết là chuyên môn thuần túy, thiên tài chủ nghĩa, mặc dù thế
một số khá đông trong họ vẫn còn kịp có những cống hiến khoa học xuất sắc,
kịp được nhận những giải thưởng khoa học cao quý như giải thưởng Hồ Chí
Minh hay giải thưởng Nhà nước.
Có thể nói cho đến nay, ở ta mới có những người trí thức lớn - không đông
lắm mà nói thực thì cũng chưa được "lớn" lắm - nhưng chưa thể nói rằng đã có
giới trí thức tinh hoa. Mà chừng nào tri thức tinh hoa chưa thành một giới, nôm
na là núi không có đỉnh, thì khó lòng bàn đến "tầm" trí tuệ Việt Nam, tuy đó là
điều kiện không hiếm người thành tâm khao khát khẳng định.
2. Từ chuyện người có học đến chuyện kiến tạo một xã hội học tập
Việc kiến tạo một xã hội học tập trong đó mọi thành viên đều được học tập lại
là điệu tuyệt đối không dễ dàng. Bên cạnh đòi hỏi về một nguồn ngân sách
Nhà nước khổng lồ, một nguồn tài chính từ trong nhân dân hừng hậu, còn cần
tạo ra được một cương lĩnh, một chương trình giáo dục vừa phải ưu việt vừa
phải mang tính khả thi. Một xã hội học tập lại cũng là một xã hội đòi hỏi một
đội ngũ cực đông đảo những người giáo dục và quản lý giáo dục có chất
lượng, dù yêu cầu tự học có tăng lên đến mức tối đa chăng nữa.
Một hệ vấn đề tưởng như đã cũ nhưng do việc tìm lời giải đáp cho đến nay còn
mơ hồ nên hóa ra lại thành hệ vấn đề thời sự đó là đáp án đúng cho những câu
hỏi nền tảng: ai là người cần học, học cái gì, học ở đâu, học đến đâu, học để
làm gì? Điều lạ lùng là, theo tôi, đối với tất cả các câu hỏi này, tìm từ trong
lịch sử, đều chỉ thu về được những lời đáp đáng thất vọng trên thực tế.
Trong những phẩm chất mà nhiều người muốn đề lên thành phẩm chất dân tộc,
liên quan đến chuyện học hành, có đức tính hiếu học, và vì thế, truyền thống
tôn sư trọng đạo. Thật đáng ngạc nhiên, người ta có thể gán một phẩm chất
cho một chủ thể không có khả năng thực tế để thực hiện phẩm chất đó. Ít nhất,
Những tri thức, kỹ năng toàn diện và ở trình độ cao, có được là nhờ nhũng nỗ
lực cá nhân to lớn và những chi phí còn to lớn hơn, lại là điều quá xa xỉ trong
một xa hội nông nghiệp sản xuất nhỏ. Không hình thành nổi nhu cầu học tập
mạnh mẽ và đích thực một khi không/ hay chưa có chỗ ứng dụng những tri
thức và kỹ năng học tập được ấy. Chưa bao giờ giáo dục ở ta được hạch toán
như là đầu vào (imput) của một chu trình liên tục trong nền kinh tế quốc dân,
như là một tham số hữu cơ của nền kinh tế mà chỉ mới được quan niệm như là
một vấn đề thuộc phúc lợi xã hội. Những năm gần đây, khi vỡ lẽ ra (chẳng lẽ
mãi mà không vỡ lẽ ra cái điều tối thiểu ấy?) rằng giáo dục là động lực để cải
tạo nền kinh tế, các quyết sách về giáo dục văn chỉ mới chuyển động ở cầp vi
mô: không ai giải thích với chúng ta, từ ông Bộ truởng Bộ Giáo dục, cho đến
câc ông Hiệu trưởng các trường chuyên nghiệp, các Bộ chuyên ngành rằng tại
sao năm nay, thời gian này, từng trường một lại cần và có thể tuyển số lượng
sinh viên là như thế, mà không phải là những con số khác. Các giám đốc Sở
giáo dục không thuyết trình rõtại sao tỉnh này cần đến ngần này loại trường,
ngầnnày loại lớp... Cho đến nay, kể cả ở các truờng Đại học lớn, vốn được
tiếng, hay nói theo ngôn ngữ hành chính là đảm nhiệm chức năng "máy cái",
vẫn có lượng sinh viên tại chức đông hon chính quy, trong khi tỷ lệ mà báo chí
nêu, có đến 70 - 80% sinh viên chính quy tốt nghiệp không có việc hay làm
việc không đúng chuyên môn được đào tạo.
Vì vậy cùng với việc nâng cao chất lượng cãc trường Đại học, cần hình thành
cho được hệ thống các trường dạy nghề đa dạng, phong phú, số lượng lớn, vừa
kế thừa và phát huy được những thứ nghề truyền thống, vừa đón bắt nhu cầu
của các loại ngành nghề mới của công nghiệp, dịch vụ hiện đại, khiến cho
tuyệt đại đa số người lao động còn có khả năng lao động hay lớp trẻ khi nhìn
vào tương lai có được sự bình thản khi nghĩ tới chỗ làm, nghĩ tới "đầu ra", phải
chăng một sự tiên lượng về những việc phải làm trong quỹ đạo này, từ trưóc
tới nay, vốn là bất khả và từ giờ trở đi, vẫn cứ là "chưa phải lúc"? Theo ý tôi,
cái xã hội học tập mà ta mong muốn kiến tạo, cần trước hết tập trung vào đối
tượng này.