Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ và xây dựng mô hình phát triển sản phẩm dùng trong phẫu thuật chấn thương chỉnh hình thay thế nhập khẩu - Pdf 13

BỘ CÔNG THƯƠNG
TỔNG CÔNG TY THÉP VIỆT NAM – CTCP
VIỆN LUYỆN KIM ĐEN

BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN
CÔNG NGHỆ CẤP BỘ
Tên đề tài :
“Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ và xây dựng mô hình phát triển sản
phẩm dùng trong phẫu thuật chấn thương chỉnh hình thay thế nhập khẩu”



Cơ quan chủ quản: TỔNG CÔNG TY THÉP VIỆT NAM - CTCP
Cơ quan chủ trì: VIỆN LUYỆN KIM ĐEN
Chủ nhiệm đề tài: ThS. ĐINH VĂN TÂM Hà Nội, 2011

Hà Nội, 2011 -2-
Danh sách những người thực hiện chính
Họ và tên
Học hàm, học vị
chuyên môn
Cơ quan công tác
1.Đinh Văn Tâm Thạc sỹ luyện kim

Viện Luyện kim đen
2.Phạm Thị Minh Phượng Kỹ sư luyện kim Viện Luyện kim đen
3.Nguyễn Hồng Phúc Kỹ sỹ luyện kim Viện Luyện kim đen

4.Phạm Thị Mai Phương
5.Lê Văn Nguyên

Kỹ sư luyện kim
Kỹ sư luyện kim
Viện Luyện kim đen
Nhị khê, Thường Tín, HN
6.Nguyễn Văn Sáu Kỹ sư Công ty TNHH Meifa


3. Ảnh hưởng của các nguyên tố hợp kim 11
3.1 Ảnh hưởng của nguyên tố crôm 11
3.2 Ảnh hưởng của nguyên tố niken 11
3.3 Ảnh hưởng của một số nguyên tố khác như Mo, Ti, Mn, Si 11
3.4 Ảnh hưởng của nguyên tố cacbon 13
4. Khả năng chống ăn mòn của thép không gỉ austenite 14
4.1 Ăn mòn điểm 14
4.2 Ăn mòn tinh giới 15
5. Cơ sở chọn thép không gỉ dùng trong ngoại khoa 16
5.1 Dựa vào cơ sở lý thuyết 16
5.2 Dựa vào kết luận của nhiều công trình đi trước 16
5.3. Tiêu chuẩn quốc tế về vật liệu cấy ghép 18
6. Tình hình nghiên cứu và triển khai trong nước 20
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
1. Nội dung nghiên cứu 21
2. Phương pháp nghiên cứu 21
CHƯƠNG 3: CHẾ TẠO CHI TIẾT CẤY GHÉP 23
1. Chế tạo vật liệu 23
1.1 Công nghệ nấu luyện ở lò trung tần 24
1.2 Công nghệ tinh luyện điện xỉ 26
1.3 Công nghệ rèn. 28
1.4 Công nghệ cán. 28
2. Kiểm tra tính chất của vật liệu 29
2.1 Thành phần hoá học 29
2.2 Tính chất cơ lý 29
2.3 Cấu trúc tế vi 30
2.4 Tính chống gỉ 33
3. Gia công chế tạo sản phẩm 35
3.1 Gia công phôi 35
3.2 Gia công kéo nguội 37


-5-
MỞ ĐẦU
Hiện nay ở nước ta, do hậu quả của chiến tranh cũng như tai nạn giao
thông đang có chiều hướng tăng cao cũng như nhiều nguyên nhân khác mà
hàng triệu người đang có nhu cầu phải phẫu thuật chấn thương chỉnh hình. Vì
vậy nhu cầu về các dụng cụ, vật cấy ghép kết xương là rất lớn.
Vật liệu phục vụ cho việc chế tạo các chi tiết dùng để cấy ghép xương
có nhiều loại, trong đó thép không gỉ đã có nhiều công trình nghiên cứu và
được sử dụng nhiều hơn cả.
Ở nước ta từ những năm 1960, thép không gỉ đã được dùng trong lĩnh
vực chấn thương chỉnh hình. Các chi tiết đó phải nhập từ nước ngoài từ nhiều
nguồn và bằng nhiều con đường khác nhau, như hàng viện trợ của các nước,
các tổ chức Quốc tế, các đoàn cán bộ y tế của ta mang từ nước ngoài về. vv.
Đến nay, hầu hết các chi tiết dùng trong phẫu thuật chấn thương chỉnh
hình vẫn chủ yếu được nhập khẩu từ nước ngoài. Do đó nó không chủ động
được trong việc cung cấp và kích thước chi tiết không phù hợp với người Việt
Nam.

tạo điều kiện của Vụ Khoa học công nghệ - Bộ Công Thương, Viện Công
nghệ Quân đội, Bệnh viện Quân y 108, Bệnh viện Phẫu thuật chấn thương
chỉnh hình TP Hồ Chí Minh, Bệnh viện 354 …, cùng một số cơ sở nghiên cứu
khác. Nhân dịp này, chúng tôi xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ và hợp
tác đó.

-7-
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
1. Tình hình nghiên cứu và triển khai ở nước ngoài
Chi tiết thép dùng trong phẫu thuật chấn thương chỉnh hình là các chi tiết
được cấy ghép toàn bộ hoặc từng phần vào cơ thể người bằng phẫu thuật
trong thời gian tạm thời hay vĩnh viễn, nhằm chữa lành xương hay bộ phận
tương ứng hoặc thay thế tạm thời hay vĩnh viễn cho bộ phận này.
Việc sản xuất các dụng cụ bằng thép không gỉ dùng trong phẫu thuật
chấn thương chỉnh hình đã được tiến hành từ lâu ở các nước phát triển. Công
nghệ chế tạo thành chi tiết cụ thể phát triển rất nhanh, song quá trình tìm kiếm
vật liệu đã trải qua một thời gian dài.
Từ đầu thế kỷ XX, Lane, Lambolete và Groven đã sử dụng nẹp xương để
điều trị những xương dài bị gẫy nhưng không đạt kết quả vì hiện tượng “bị tự
lỏng” và bị phản ứng. Đó là phản ứng “tự nhiên” khi cơ thể sống tiếp nhận
“vật lạ”. Trong khoảng 10 năm từ 1957 đến 1967, các nhà khoa học Watson-

Titan được nghiên cứu sử dụng làm các vật cấy ghép từ những năm cuối
thập kỷ 30 của thế kỷ trước. Titan và hợp kim của có các tính chất cơ học và
hoá học phù hợp và nhẹ nên thích hợp để chế tạo các vật cấy ghép xương,
điển hình như hợp kim Ti6Al4V. Một yếu điểm của hợp kim titan là có hệ số
ma sát cao, gây khó khăn cho việc sử dụng.
2)Vật liệu polymer
Vật liệu polymer thường dùng để chế tạo các vật cấy ghép xương là
polyenthylen mật độ siêu cao (Ultra high Density Polyethylên – UHDP) và
ximăng xương (Bone Cenment) gồm Polymethyl Methacrylate với Sulphat
Bary và chất xúc tác để chế tạo sự bám dính trong việc thay thế các khớp
xương.
3)Vật liệu gốm: các vật liệu gốm gần đây đã được nghiên cứu sử dụng để
thay thế chỏm xương đùi, xương mắt cá chân…
4)Vật liệu composit: tiêu biểu là vật liệu sợi cabon -9-
2. Thép không gỉ dùng trong ngoại khoa
Như đã nêu trên, thép không gỉ là loại vật liệu được sử dụng để chế tạo
các vật cấy ghép xương rộng rãi nhất trong 4 nhóm vật liệu. Thép không gỉ có
nhiều loại, theo cách phân loại về cấu trúc thì thép không gỉ được chia thành 5
loại: mactensit, ferit, austenit, song pha và bền hoá bằng tiết pha. Trong 5 loại
trên, thép không gỉ austenite được sử dụng chủ yếu trong phẫu thuật chấn
thương chỉnh hình. Thành phần hóa học của một số mác thép không gỉ
austenite chế tạo vật cấy ghép xương được thể hiện trong bảng 1.
Bảng 1: Thành phần hóa học của thép không gỉ austenite chế tạo các vật cấy
ghép xương
Mác thép
Thành phần hóa học các nguyên tố, %
C

16,5-
18,5
11,5-
14,5
1,0 2,0 2,5-3 0,03 0,045
ASTM
316LVM
0,024 16-18 13,6 0,57 1,7 2,8 0,003 0,025 ≤0,095

Thép không gỉ austenit là nhóm thép được sử dụng rộng rãi và chiếm đại
đa số trong toàn bộ sản lượng thép không gỉ của thế giới (khoảng 75%). Điển -10
-
hình nhất trong nhóm thép này là mác thép 304 (18%Cr và 8-10% Ni). Từ
loại thép này người ta đã nghiên cứu và phát triển ra nhiều mác thép mới với
hàm lượng niken tăng lên, hợp kim hoá thêm Mo, N… Những mác này có
tính chống gỉ rất cao, có thể làm việc trong các môi trường xâm thực mạnh.
Thép không gỉ austenit có những đặc điểm sau:
- Tính chống ăn mòn cao, chúng hoàn toàn ổn định trong môi trường
nước sông, nước biển, hơi nước bão hòa và quá nhiệt, trong các dung dịch
muối. Trong dung dịch axit cũng có tính chống ăn mòn cao: ổn định trong
HNO
3
với mọi nồng độ và nhiệt độ, trong H
2
SO
4
nguội, trong dung dịch HCl

màng ôxyt Cr
2
O
3
hoặc FeCr
3
O
4
có tính bảo vệ cao. Trong hệ hai cấu tử Fe-Cr,
Crôm hoà tan hoàn toàn trong Fe-α và theo kết quả của nhiều công trình
nghiên cứu khác nhau cho thấy để màng ôxyt crôm trong dung dịch rắn có
tính bảo vệ thì lượng chứa crôm phải lớn hơn 11,7%. Lượng crôm càng cao
khả năng chống ăn mòn trong khí quyển và một số môi trường khác càng cao.
3.2 Ảnh hưởng của nguyên tố niken
Thép không gỉ trên cơ sở hệ Fe-Cr chỉ bền vững chống ăn mòn trong một
số môi trường. Nếu chứa thêm niken, tính chống ăn mòn sẽ được tăng cường
đáng kể do tác dụng thụ động hoá của niken. Mặt khác, niken là nguyên tố mở
rộng vùng Fe-γ, do đó muốn nhận được pha austenit thì lượng niken phải lớn
hơn 8% .
Từ các phân tích trên thành phần cơ bản của thép không gỉ có tính chống
ăn mòn cao là FeCr18Ni8 (gọi tắt là thép không gỉ 18-8), tổ chức cơ bản của
thép sau khi tôi trong không khí (đối với chi tiết nhỏ mỏng) hoặc tôi trong
nước (đối với chi tiết dầy) là austenit. Tuy vậy cần chú ý ở trạng thái đúc
trong quá trình kết tinh, xảy ra trong điều kiện thực tế - xa vùng cân bằng có
thể gặp các pha khác như Ferit, cacbit và cả pha Xecma do không đồng nhất
thành phần.
3.3 Ảnh hưởng của một số nguyên tố khác như Mo, Ti, Mn, Si
Vai trò của một số nguyên tố khác trong thép không gỉ 18-8 phụ thuộc
vào những mục đích khác nhau, người ta có thể hợp kim hoá thêm các nguyên
tố Mo, Ti, Mn, Si.

mòn trong thép không gỉ 18-8 nên người ta cố gắng hạn chế hàm lượng
mangan càng nhiều càng tốt. -13
-
- Silic: Silicon thường được thêm vào thép không gỉ để nâng cao khả năng
chống ôxy hoá và tăng bền pha ferit, với một lượng nhỏ silicon và đồng cho
vào thép không gỉ austenit có chứa molipđen để cải thiện khả năng chống ăn
mòn trong acid sulfuric. Trong thép không gỉ austenit, hàm lượng silic cao
không những cải thiện khả năng chống oxy hóa mà còn ngăn ngừa sự cácbon
hoá ở nhiệt độ cao.
3.4 Ảnh hưởng của nguyên tố cacbon
Cacbon ở trạng thái cân bằng có thể liên kết với một số kim loại tạo
thành cacbit, trong thép 18-8 chủ yếu là Cr
23
C
6
. Khi nung để tôi, cacbit sẽ hoà
tan trở lại trong austenit (hình 1).

Hình 1: Độ hoà tan của C trong thép 18-8
Tuy nhiên sự phân bố này là không đồng đều, lượng cacbon trong dung
dịch rắn austenit sẽ cao hơn ở những nơi trước đó có phần tử cacbit. Điều này
dẫn đến hậu quả là dù cho tổ chức sau khi tôi một pha, tính chống ăn mòn vẫn
bị hạn chế.
Nếu quá trình nhiệt luyện không đạt yêu cầu làm cho cacbit không hoà
tan hết hoặc cacbit tiết ra trong quá trình ram thì khả năng chống ăn mòn sẽ
thấp. Từ những phân tích trên, muốn đạt tính chống ăn mòn tối đa thì lượng
cacbon phải hạn chế thấp hơn giới hạn hoà tan của cacbit ở nhiệt độ phòng.

và ăn mòn tinh giới.
4.1 Ăn mòn điểm
Nguyên nhân gây ra hiện tượng ăn mòn điểm là do môi trường tác dụng
không đồng đều trên bề mặt hoặc do sự không đồng nhất tổ chức, kết quả dẫn
đến tạo các hố sâu ăn mòn. Tốc độ phát triển của các hố rất nhanh và ở những
vị trí không thể dự đoán. Đây là loại ăn mòn rất nguy hiểm.
Sự không đồng nhất về môi trường thường do các phần tử lạ, bẩn, bụi.
Hậu quả nhìn thấy trên bề mặt và thể hiện rõ nhất trong các môi trường chứa
clo. Sự không đồng nhất về tổ chức có thể là do pha dư tạp chất và ngay cả
các vết sước trên bề mặt cũng có thể thúc đẩy hoạt động của các vi pin.
Muốn khắc phục ăn mòn điểm thì phải hạn chế hai nguyên nhân trên.
Tuy nhiên trong nhiều trường hợp cũng không thể dự đoán hết các yếu tố
khách quan mà phải chọn biện pháp chủ động là hợp kim hoá thêm các -15
-
nguyên tố có khả năng làm chậm hoặc hạn chế ăn mòn hố sâu. Hai nguyên tố
cho hiệu quả cao nhất về mặt này là molipđen và nitơ. Do đó thép không gỉ
dùng trong ngoại khoa của ngành y tế thường chứa molipđen và nitơ.
4.2 Ăn mòn tinh giới
Đây cũng là một dạng ăn mòn rất nguy hiểm vì nó phát triển với tốc độ
lớn và không nhìn thấy bằng mắt thường. Ăn mòn tinh giới liên quan chặt chẽ
với trạng thái tổ chức nhận được khi nhiệt luyện. Tốc độ ăn mòn phụ thuộc
vào thành phần hợp kim, số lượng, phân bố và độ hạt cacbit, trạng thái ứng
suất. Trong đó sự có mặt của cacbit trên tinh giới là nguyên nhân chủ yếu.
Để khắc phục ăn mòn tinh giới thường sử dụng 2 biện pháp:
- Giảm lượng chứa cacbon dưới 0,03% để cacbit không tạo ra trên tinh
giới, khả năng giảm cacbon phụ thuộc vào trình độ công nghệ luyện kim.
Trên hình 2 thể hiện sự ảnh hưởng của cabon đến khả năng ăn mòn tinh giới

Năm 1936, Manegang và Odiate đã nghĩ rằng những thất bại của việc
ghép xương là do độc tính của kim loại. Hai tác giả đã tiến hành nhiều thí
nghiệm hoàn chỉnh đối với kim loại và hợp kim trên các động vật khác như
thỏ, chuột, chó và từ đó đưa ra bảng độc tính. Nhưng ở những công trình này
chưa đưa ra được nguyên nhân nào gây ra độc tính. Cùng thời gian ấy Varalle
và Struek đã chứng minh được khi ta dùng kim loại khác nhau trên cùng một
động vật sẽ gây ra sự ăn mòn điện hóa. Kể từ đây rất nhiều tác giả ghi nhận
tác dụng gây độc của việc dùng kim loại kép như: WATSON-JONE (1957),
RIEUNAN (1957), RERAND (1963), SICORD và LAVARDE (1967),
L.PIDKORT, JRAGUIM VÀ F.VARENNEE đã phân tích khả năng chống gỉ -17
-
ăn mòn kim loại đưa vào cơ thể. Có thể gây ra biến đổi điện hóa làm hư hỏng
vật liệu đưa vào gây nhiễm độc cho tổ chức lân cận.
Các tác giả trên cho rằng nếu không chọn đúng kim loại để phù hợp với
môi trường cơ thể thì dễ gây ra hiện tượng điện hóa tương tự như khi nhúng
mẫu vào dung dịch muối hay nước biển tức thì hình thành một hiệu điện thế
gây ra sự ăn mòn. Dương cực là nơi sảy ra phản ứng ôxy hóa, một nguyên tử
sắt chạy vào dung dịch, sắt mang hai điện tích dương (Fe
2+
) để lại hai điện
tích âm tự do. Chính nguồn điện tử sinh ra như vậy gây ra dòng điện. Ở âm
cực những điện tử kết hợp với ôxy tạo ra hydroxyt.
OH
-
2e
-
+ H

nhưng sau đó mở rộng ra làm gẫy vít trước thời hạn.
Nghiên cứu phản ứng của các mô đối với vật ghép:
Khi cấy một vật thể kim loại vào cơ thể sẽ gây nên phản ứng cục bộ. Các
phản ứng toàn thân thường ít gặp hơn nên ít được nói đến.
Phản ứng của cơ thể đối với vật ngoại lai là “viêm điện phân”. Viêm điện
phân còn nguy hiểm hơn cả chấn thương hoặc mổ xẻ vì hiện tượng ăn mòn
gây nên do một quá trình viêm vô trùng nó có khuynh hướng làm ngăn cách
vật cấy và cơ thể. Hiện tượng hủy hoại thực chất này thể hiện bằng sự hình
thành màng mầu trắng nhạt có chiều dầy khác nhau và khá bền, thường gặp
hiện tượng này khi bẻ gãy các dụng cụ nối ghép xương. Hiện tượng “váng
huyết” này thường gặp ở nơi tiếp xúc giữa thép không gỉ và gỉ sắt.
Hiệp hội thực nghiệm về vật liệu nối ghép xương của Mỹ đưa ra: một
kim loại được gọi là thích nghi khi màng sơ giả bao quanh mỏng hơn 0,03mm
sau sáu tháng khi nó được đưa vào cơ thể của chó và thỏ.
Các mảnh cấy ghép hiện đang dùng trong phẫu thuật chỉnh hình: một số
kim loại như Pt, W, Pa không bị ôxy hóa nó có thể dùng được trong phẫu
thuật chỉnh hình. Nhưng công dụng của chúng bị hạn chế vì đắt tiền, khó gia
công, cơ tính thấp do đó thép không gỉ được sử dụng phổ biến như hiện nay.
5.3. Tiêu chuẩn quốc tế về vật liệu cấy ghép
Theo tiêu chuẩn Quốc tế ISO 5832-1 đã đưa ra vật liệu cấy ghép trong
phẫu thuật có thành phần hóa học và yêu cầu cơ tính như sau:
Bảng 2: Thành phần hoá học của vật liệu cấy ghép trong phẫu thuật
Mác
thép
Thành phần hóa học các nguyên tố, %
C

Mn

Si


Giới hạn bền
kéo σ
b
(MPa)
Độ dãn dài
tương đối
δ(%)
Sau ủ
D
E
bất kỳ
bất kỳ
190
285
490-690
590-800
40
40
Sau biến
dạng nguội
D và E d hoặc S 690 860-1100 12

Một số nước nghiên cứu áp dụng mác thép SUS316L sau những năm
1970:
Viện nghiên cứu gang thép Trung Quốc là trung tâm nghiên cứu chuyên
ngành trong lĩnh vực vật liệu luyện kim của nước này. Từ năm 1970 Viện đã
hợp tác với các bệnh viện Quân đội, trường đại học Y khoa và nhiều bệnh
viện khác ở Bắc Kinh đã chế tạo vật liệu dùng trong ngoại khoa. Mác thép mà
họ đã chọn là SUS 316L, SUS 317L. Sản phẩm đã được thử nghiệm trên súc

loại để điều trị gẫy xương, xương vỡ… Đến năm 1960, tại Quân Y viện 108,
Bs. Nguyễn Văn Nhân đã sử dụng nẹp xương. Trong thời kỳ này, do các chi
tiết liên kết xương khan hiếm, các bác sỹ đã tận dụng các chi tiết liên kết
xương của nước ngoài, cải tiến, chế tạo thành chi tiết điều trị cho bệnh nhân
đạt kết quả tốt. Những năm về sau, theo sự tiến bộ chung của đất nước, các
chi tiết liên kết xương chúng ta có được từ các nguồn viện trợ, từ nhập ngoại
cũng nhiều hơn và ngành chấn thương chỉnh hình cũng hình thành và phát
triển.
Để đáp ứng được nhu cầu của ngành phẫu thuật chấn thương chỉnh hình,
Viện Luyện kim đen đã được Bộ Khoa học và công nghệ cho phép thực hiện
đề tài độc lập cấp Nhà nước “nghiên cứu chế tạo các chi tiết bằng thép không
gỉ dùng trong phẫu thuật chấn thương chỉnh hình”, mã số KC-DL-20-92 trong
những năm 1992-1994. Đề tài đã tiến hành nghiên cứu các nội dung:
+ Xác định công nghệ sản xuất thép không gỉ austenit có thành phần hoá
học, cơ lý tính và tính chống gỉ đạt tiêu chuẩn quốc tế ISO 8532-1 bao gồm
các khâu luyện thép, rèn, cán, kéo, nhiệt luyện, tẩy rửa.
+ Chế tạo một số chi tiết (nẹp xương, vít xương, đinh cố định xương, …)
từ thép do Viện nghiên cứu sản xuất.
+ Nghiên cứu khả năng sử dụng của các chi tiết trên. Quá trình nghiên
cứu này gồm 2 bước:
- Thử nghiệm trên súc vật: tại Bệnh viện Quân Y 108 đã tiến hành thí
nghiệm liên kết xương cho 15 con chó, kết quả thu được rất khả quan, hội
đồng khoa học đánh giá tốt và cho phép thử trên người.
- Áp dụng trên người: Tại bệnh viện Quân Y 108, Bệnh viện Sain Paul,
Trung tâm chấn thương chỉnh hình thành phố Hồ Chí Minh đã áp dụng thử
trên người từ mức độ thấp đến mức độ cao: từ đinh cố định xương Stainmann,
đến các loại nẹp xương, vít xương, nẹp đỡ cột sống… Qua theo dõi của các
bác sĩ tại các cơ sở sử dụng cho thấy kết quả đạt được tốt, không có trường
hợp sự cố nào.

-22
-
- Dựa vào những trang thiết bị có sẵn của Viện và các cơ sở nghiên
cứu, sản xuất trong nước để nghiên cứu sản xuất thử nghiệm chi tiết, sản
phẩm theo yêu cầu kỹ thuật.
- Sử dụng phương pháp phân tích quang phổ phát xạ trên thiết bị
FISONS ARL 3460 của Thụy Sĩ để xác định thành phần hóa học của thép.
- Sử dụng máy kéo vạn năng YMM – 50 và LJ 5000 để xác định độ bền,
giới hạn chảy và độ dãn dài.
- Sử dụng kính hiển vi quang học AXIOVERT ( CHLB Đức) để nghiên
cứu tổ chức tế vi của thép.
- Đánh giá khả năng chống gỉ của thép bằng phương pháp điện hóa trên
thiết bị CMS100 (Mỹ).

Bán thành phẩm
Nguyên vật liệu: thép nền, ferro
crom, molipde, Ni kim loại.
Nấu luyện trong lò trung tần, đúc
điện cực để điện xỉ đúng thành
phần mác thép
Tinh luyện điện xỉ tao ra thỏi đúc
Rèn ra phôi theo yêu cầu

Cán nóng : thanh nẹp và dây
Làm sạch, kiểm tra -24
-
1.1 Công nghệ nấu luyện ở lò trung tần
Theo công nghệ, chức năng thông thường của lò trung tần là nấu chảy,
hợp kim hóa và có thể dùng chất chứa ôxy hoặc thổi ôxy sạch để làm giảm
thành phần các bon và khử các tạp chất có hại khác như P, S…
Nguyên liệu để sản xuất:
Thép nền: có thành phần các bon thấp dưới 0,03% C.
Các nguyên tố hợp kim ở dạng ferô các bon thấp hoặc kim loại (tốt nhất
là dùng Ni, Cr, Mo kim loại), nếu không có thì có thể sử dụng FeCr và FeMo
các bon thấp.
Bổ sung Mn và Si bằng Fero mangan và fero silic có hàm lượng Mn, Si
cao và các bon thấp.
Thành phần hoá học của nguyên liệu sử dụng được nêu trong bảng 5.
Bảng 5: Thành phần hoá học của các nguyên liệu, %
Nguyên liệu
Thành phần hóa học các nguyên tố, %


99,8 55

98
82

99

75

Nguyên liệu để khử ôxy và tạo xỉ:
Nhôm sạch
Vôi mới nung ( CaO > 85%)
Huỳnh thạch ( CaF
2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status