Giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh tổng công ty tài chính cổ phần dầu khí VPFC hướng tới tập đoàn tài chính - Pdf 13



TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
***

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI :

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
TỔNG CÔNG TY TÀI CHÍNH CỔ PHẦN DẦU KHÍ PVFC
HƯỚNG TỚI TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH Sinh viên : Lưu Thị Bích Ngọc
Lớp : Nhật 3
Khóa : 43
Giáo viên hướng dẫn : TS. Lê Thị Thu Thủy
Hà Nội, 6-2008

chính nhưng vì đây là một lĩnh vực hết sức nhạy cảm và rủi ro nên vẫn
Khoá luận tốt nghiệp
Lƣu Thị Bích Ngọc – Nhật 3 K43G
2
đang ở giai đoạn thử nghiệm và thăm dò. Tổng công ty Cổ phần tài chính
Dầu khí PVFC là một tổ chức tài chính hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu
tín dụng của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, các đơn vị thành viên, khơi
thông các nguồn vốn trong nước, thu hút nguồn vốn nước ngoài và quản lý
một cách tối ưu các nguồn vốn đầu tư. Theo như định hướng phát triển
Tổng công ty sẽ trở thành tập đoàn tài chính vào năm 2010, tuy nhiên các
nghiệp vụ kinh doanh còn bộc lộ khá nhiều hạn chế dẫn đến chưa đủ lớn
về tiềm lực cũng như quy mô vốn, công nghệ, nhân lực đáp ứng nhu cầu
ngày càng mạnh mẽ của thị trường. Xuất phát từ thực tế đó em chọn đề tài:
“ Giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh Tổng công ty tài chính Cổ
phần Dầu khí PVFC hƣớng tới tập đoàn tài chính”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những lý luận thực tiễn về tập đoàn tài chính, tìm
hiểu thực trạng về hoạt động kinh doanh của Tổng công ty tài chính Cổ
phần Dầu khí Việt Nam từ đó tìm hiểu hạn chế về các nghiệp vụ kinh
doanh, đánh giá thuận lợi, khó khăn, đề xuất các giải pháp phát triển hoạt
động kinh doanh, xây dựng lộ trình hướng tới tập đoàn tài chính vào năm
2010.
3. Đối tƣợng nghiên cứu
Các lý thuyết chung về công ty tài chính, tập đoàn tài chính, Tổng
công ty tài chính Cổ phần dầu khí PVFC, các nghiệp vụ kinh doanh đặc
trưng của công ty như: huy động vốn, đầu tư tài chính, uỷ thác đầu
tư thực trạng hoạt động kinh doanh của công ty qua các năm kể từ khi
thành lập.
4. Phạm vi nghiên cứu
Khoá luận không đi sâu vào nghiên cứu các tập đoàn tài chính lớn

CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TẬP ĐOÀN
TÀI CHÍNH VÀ XU HƢỚNG HÌNH THÀNH TẬP ĐOÀN
TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

I- KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH
1. Tìm hiểu về công ty tài chính
1.1. Khái niệm
Hiện nay trên thế giới đang tồn tại rất nhiều khái niệm khác nhau về
công ty tài chính do sự khác biệt về môi trường pháp lý và công cụ tài
chính của mỗi nước. Tuy nhiên một cách khái quát nhất các nhà kinh tế học
đều thống nhất khái niệm Công ty tài chính là: Một tổ chức tài chính trung
gian phi ngân hàng được thành lập để cung cấp các loại dịch vụ tài trợ,
cung cấp các khoản cho vay, cho thuê, đầu tư tài chính,bao thanh toán và
thực hiện các hình thức tín dụng ngắn, dài hạn khác. Công ty tài chính có
thể được hình thành do các nhà đầu tư trong và ngoài nước hoặc là công ty
con của các tập đoàn kinh tế lớn nhằm đa dạng hoá thị trường tài chính.
Các trung gian tài chính này huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu,
trái phiếu, hay thương phiếu. Các công ty tài chính cung ứng chủ yếu các
loại tín dụng trung hạn và dài hạn, ví dụ cho người tiêu dùng vay tiền để
mua sắm đồ đạc, xe hơi, tu bổ nhà hoặc cho các doanh nghiệp nhỏ vay.
Ngoài ra, các công ty tài chính còn thực hiện các dịch vụ cầm, giữ hộ và
quản lý các chứng khoán, các kim loại quý.vv
Nghị định 79/2002/NĐ-CP ngày 4/10/2002 của Chính phủ Việt Nam
quy định về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính đã định nghĩa:
“ Công ty tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, với chức
năng là sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho
vay, đầu tƣ, cung ứng các dịch vụ tƣ vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện
một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật, nhƣng không đƣợc làm
dịch vụ thanh toán, không đƣợc nhận tiền gửi dƣới một năm”.
Khoá luận tốt nghiệp

Không được nhận tiền gửi ngắn hạn, không
thực hiện dịch vụ trung gian thanh toán
Hoạt động đa dạng nhiều
dịch vụ
Hoạt động mạnh ở một số lĩnh vực: cho
thuê tài chính, tham gia trực tiếp trên thị
trường chứng khoán
Khoá luận tốt nghiệp
Lƣu Thị Bích Ngọc – Nhật 3 K43G
6
Tuy nhiên do sự phát triển và hội nhập kinh tế thế giới, các công ty
tài chính có xu thế mở rộng và đa dạng hoá các nghiệp vụ để phục vụ
khách hàng tốt hơn và tối đa hoá lợi nhuận nên sự khác biệt giữa công ty tài
chính với các NHTM và các trung gian tài chính khác trở nên mờ nhạt dần
và không còn sự khác biệt lớn.
1.2. Phân loại công ty tài chính
1.2.1. Theo tính chất độc lập hay phụ thuộc
a. Công ty tài chính độc lập: Là loại hình công ty tài chính đứng độc
lập, tự hoạt động kinh doanh do các nhà đầu tư trong và ngoài nước thành
lập, không nằm trong hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng hay tập đoàn
nào. Các công ty này thực hiện nhiều hoạt động kinh doanh như: cho vay
và bảo lãnh các khách hàng thương mại và sản xuất công nghiệp, các hoạt
động cho thuê tài sản, bao thanh toán, kinh doanh tiền tệ, tư vấn tài chính.
b. Công ty tài chính phụ thuộc: do một công ty mẹ hay một tập đoàn
kinh tế lớn nắm giữ toàn bộ hay một tỷ lệ vốn nhất định lập nên có nhiệm
vụ cung ứng vốn cho nội bộ tập đoàn và kinh doanh tiền tệ.
1.2.2. Theo phạm vi hoạt động
a. Công ty tài chính bán hàng: Các công ty này gián tiếp cấp tín dụng
cho người tiêu dùng để mua các món hàng từ một nhà bán lẻ hoặc từ một
nhã sản xuất nào đó.

để có thể tồn tại trong cạnh tranh, từ đó đem lại lợi nhuận tối đa cho tập
đoàn. Có thể xem xét các quan niệm về TĐTC ở nhiều góc độ khác nhau:
- Căn cứ vào nguồn gốc: Người ta dựa vào việc xem xét tập đoàn
kinh tế để đưa ra khái niệm về TĐTC. Tập đoàn kinh tế là một chỉnh thể
của một tập hợp các đơn vị thành viên có những quan hệ liên kết về lợi
ích kinh tế, tài chính, sản phẩm, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu
và được sắp xếp theo một cấu trúc tổ chức nhất định, được kiểm soát điều
hành bằng một bộ máy quản lý thống nhất. Tập đoàn kinh tế có thể được
gọi tên khác nhau, được tổ chức theo các mô hình khác nhau nhưng đều
có những đặc điểm chung cơ bản như sau:
Khoá luận tốt nghiệp
Lƣu Thị Bích Ngọc – Nhật 3 K43G
8
Về tổ chức, các tập đoàn kinh tế thường là tập hợp của một số đơn vị
thành viên, trong đó có một đơn vị lớn và quan trọng nhất, đóng vai trò chi
phối hoạt động của các đơn vị còn lại.
Về cơ cấu sở hữu, các tập đoàn thường là đa sở hữu (Nhà nước,
công ty, tư nhân). Đơn vị, cá nhân nào chiếm tỷ lệ sở hữu cao trong tổng
tài sản sẽ nắm vai trò chi phối.
Về quy mô và phạm vi hoạt động, các tập đoàn kinh tế thường có
quy mô tài sản lớn, phạm vi hoạt động rộng trong một hoặc nhiều quốc gia.
Về sản phẩm và lĩnh vực kinh doanh, tập đoàn kinh tế có sản phẩm
thường đa dạng, trong đó có thể có một hoặc một số sản phẩm mũi nhọn.
Nếu xét theo lĩnh vực kinh doanh thì các sản phẩm của một tập đoàn kinh
tế có thể trong cùng lĩnh vực kinh doanh nhưng cũng có thể thuộc các lĩnh
vực kinh doanh khác nhau.
Ngoài những đặc điểm cơ bản trên, TĐTC còn có đặc điểm là: Lĩnh
vực kinh doanh và sản phẩm chủ yếu là tài chính, ngân hàng, bảo hiểm.
Đây là lĩnh vực kinh doanh có tính nhạy cảm và mức độ rủi ro cao, đòi hỏi
quy mô vốn lớn.

SEC); hoạt động của các công ty bảo hiểm do uỷ ban bảo hiểm Quốc gia(
SIC) giám sát và điều chỉnh. Một TĐTC phải đảm bảo các yêu cầu về: vốn
và khả năng quản lý, yêu cầu về việc tài trợ vốn cho cộng đồng và những
yêu cầu trong quản lý TĐTC.
Ở Đài Loan các TĐTC có thể đầu tư và sở hữu 100% các đơn vị
thành viên, bao gồm Ngân hàng, bảo hiểm, công ty chứng khoán, bảo hiểm
nhân thọ và phi nhân thọ. Đạo luật về TĐTC của Đài Loan đã tạo điều kịên
cho thị trường tài chính được củng cố, hợp nhất, tính đến cuối năm 2005,
Đài Loan đã có 14 TĐTC- NH lớn hoạt động trên các lĩnh vực ngân hàng,
chứng khoán, bảo hiểm.
Ở Trung Quốc trước đây, luật Ngân hàng thương mại quy định các
NHTM không được phép thực hiện các giao dịch chứng khoán và bảo
chứng, không được đầu tư vào những doanh nghiệp phi ngân hàng. Nhưng
trước tốc độ phát triển kinh tế quá nóng trong hai thập kỷ qua Trung Quốc
Khoá luận tốt nghiệp
Lƣu Thị Bích Ngọc – Nhật 3 K43G
10
đã sửa luật NHTM theo hướng cho phép các NHTM ( công ty mẹ) sở hữu
các công ty tài chính( công ty con) theo mô hình TĐTC khi thiết lập đầy đủ
những cơ chế pháp lý thận trọng cần thiết.
Ở Việt Nam tuy mô hình này còn mới mẻ nhưng với sự hoàn thiện
dần của thị trường tài chính hứa hẹn một sự thay đổi lớn cả về cơ cấu, tổ
chức cũng như quy mô và phạm vi hoạt động.
Tóm lại, mô hình TĐTC với sự phát triển độc lập của hệ thống các
NHTM, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm đang được áp dụng rộng
rãi trên thế giới và chắc chắn sẽ ngày một phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam.
2.2. Nguyên tắc hình thành TĐTC
Việc phát triển TĐTC dựa trên nguyên tắc hiệu quả, tự nguyện và
theo quy luật của thị trường. Các nguyên tắc đó là:
1- Phù hợp chính sách và phát triển kinh tế của Nhà nước. Việc hình

vụ tài chính.
Trình độ phát triển của thị trường dịch vụ tài chính tác động đến khả
năng mở rộng quy mô của TĐTC thông qua các công ty con hay công ty
trực thuộc. Trên thực tế, sự hình thành các TĐTC thường bắt nguồn từ việc
mở rộng các loại hình kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ của ngân hàng
mẹ, từ chỗ chỉ kinh doanh dịch vụ ngân hàng, mở rộng sang dịch vụ bảo
hiểm, chứng khoán,v.v. Mặt khác thị trường tài chính ngày càng phát triển,
khách hàng càng đòi hỏi cao hơn về chất lượng và tiện ích của dịch vụ tài
chính- ngân hàng.
Sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin cũng là yếu tố và điều
kiện để một tổ chức tài chính phát triển thành TĐTC. Các tập đoàn này
phải kịp thời nắm bắt thông tin, nhất là công nghệ mới có liên quan đến
hoạt động tài chính để có thể khai thác và ứng dụng các thành tựu công
nghệ mới vào hoạt động kinh doanh, mang lại nhiều lợi nhuận cho tập
đoàn và tiện ích cho khách hàng.
2.3.2. Điều kiện về vốn, công nghệ
Tiềm lực tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hoạt
động và khả năng phát triển lâu dài của tập đoàn. Trong đó nguồn vốn có
Khoá luận tốt nghiệp
Lƣu Thị Bích Ngọc – Nhật 3 K43G
12
tác dụng hỗ trợ cho tập đoàn đổi mới công nghệ, mở rộng lĩnh vực kinh
doanh, phát triển dịch vụ mới, tăng cường năng lực cạnh tranh và mở rộng
thị phần. Các ngân hàng tiên tiến và TĐTC mạnh thường cung cấp các
dịch vụ đa dạng và đạt chất lượng cao với nhiều đối tượng khách hàng
khác nhau.
2.3.3. Điều kiện về con người
Hiệu quả hoạt động của TĐTC phụ thuộc rất nhiều vào vào trình độ
năng lực của đội ngũ nhân viên nhất là đội ngũ lãnh đạo. TĐTC có quy mô
lớn và độ phức tạp càng cao càng đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ quản lý,

mặc dù các tập đoàn này có mô hình kinh doanh phức tạp, có chiến lược
kinh doanh khác nhau nhưng nhìn chung các TĐTC đều có những nét đặc
trưng sau:
2.4.1. Tập đoàn tài chính có phạm vi hoạt động rộng lớn
TĐTC không chỉ hoạt động trong một quốc gia mà còn mở rộng
sang nhiều quốc gia khác. Để chiếm lĩnh thị trường, giảm áp lực cạnh
tranh, TĐTC bành trướng thị trường bằng cách tăng cường hợp tác, liên
doanh, liên kết, thực hiện phân công quốc tế, do đó phạm vi hoạt động của
tập đoàn ngày càng được mở rộng. Hiện tại tập đoàn HSBC đang sở hữu
hơn 10,000 văn phòng, 284.000 nhân viên tại trên 80 quốc gia và vùng lãnh
thổ trên toàn thế giới. Tập đoàn ngân hàng Mitsubishi UFJ tính đến tháng 3
năm 2007 có 875 chi nhánh trong và ngoài Nhật Bản, giá trị vốn cổ phiếu
996,990 triệu yên; 33,059 nhân viên. Tập đoàn Citi có 200 triệu tài khoản
khách hàng tại hơn 100 nước.
Tại các thị trường các Tập đoàn đã thực hiện phân công lao động
một cách hợp lý trong nội bộ tập đoàn, xây dựng mạng lưới tiêu thụ sản
phẩm và kênh bán hàng rộng rãi.
2.4.2. Tập đoàn tài chính có quy mô lớn về vốn, nhân lực và doanh số hoạt động
- Về vốn: Do TĐTC vừa có sự tích tụ của bản thân doanh nghịêp lại
có sự tập trung giữa các doanh nghiệp nên tiềm lực tài chính và quy mô về
vốn của tập đoàn là rất mạnh. Trong tập đoàn, vốn được tập trung từ nhiều
nguồn khác nhau, được bảo toàn và phát triển đẩy nhanh quá trình tích tụ,
Khoá luận tốt nghiệp
Lƣu Thị Bích Ngọc – Nhật 3 K43G
14
tập trung vốn cho tập đoàn. Điều này tạo ra năng lực cạnh tranh mạnh hơn
từng doanh nghiệp riêng lẻ, nâng cao được trình độ xã hội hoá sản xuất và
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Giá trị vốn cổ phiếu của
Citigroup (2006) là 112,537 tỷ USD, tập đoàn Mitsubishi UFJ (2007) là
996,990 triệu yên.

Mỹ
116,57
21,13
1.459,74
3
HSBC
Anh
121,51
16,63
1.860,76
4
JP Morgan Chase
Mỹ
99,3
14,44
1.351,52
5
AIG
Mỹ
113,19
14,01
979,41
6
UBS
Thuỵ sĩ
105,59
9,78
1.776,89
Khoá luận tốt nghiệp
Lƣu Thị Bích Ngọc – Nhật 3 K43G

Có loại tập đoàn các công ty con mất quyền độc lập về tính thương
mại và sản xuất, các chủ sở hữu trở thành cổ đông của công ty mẹ. Tuy nhiên
nhìn chung cơ cấu của TĐTC thường bao gồm bộ phận kinh doanh và bộ
phận hỗ trợ. Bộ phận kinh doanh được phân tán làm 4 mảng chuyên môn
chính:
Khoá luận tốt nghiệp
Lƣu Thị Bích Ngọc – Nhật 3 K43G
16
 Ngân hàng bán lẻ phục vụ khách hàng cá nhân đại trà
 Ngân hàng bán buôn bao gồm các doanh nghiệp vừa và nhỏ và
các công ty lớn
 Ngân hàng phục vụ khách hàng giàu có
 Ngân hàng đầu tư kinh doanh trên thị trường tài chính
Bộ phận hỗ trợ gồm có quản lý rủi ro, tài chính, tác nghiệp và công nghệ
thông tin
2.4.5. Tập đoàn tài chính hoạt động kinh doanh đa ngành đa lĩnh vực
Các TĐTC trên thế giới hiện nay đều hoạt động kinh doanh đa ngành
đa lĩnh vực, có chiến lược sản phẩm và định hướng đầu tư luôn thay đổi
phù hợp với yêu cầu của thị trường, môi trường kinh doanh và sự phát triển
của nền kinh tế. Tuy nhiên mỗi tập đoàn đều có ngành và lĩnh vực chủ đạo
với những sản phẩm có thương hiệu của tập đoàn. Sản phẩm cung ứng bao
gồm tất cả các loại hình sản phẩm tài chính: cấp tín dụng, tư vấn, dịch vụ,
bảo hiểm, quản lý tài sản, quản lý tài chính, dịch vụ ngân hàng điện tử
Hoạt động đa ngành đa lĩnh vực giúp cho tập đoàn phân tán được rủi ro
cho nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau, khai thác triệt để thị trường và khách
hàng, đảm bảo cho hoạt động của tập đoàn luôn được an toàn và hiệu quả, đồng
thời tận dụng cơ sở vật chất và khả năng lao động phong phú của tập đoàn.
2.4.6. Tập đoàn tài chính có khả năng tập trung, điều hoà vốn
Mục tiêu khi thành lập tập đoàn là tối đa hoá lợi nhuận nên nguồn
vốn của tập đoàn được huy động từ các thành viên và theo hình thức pháp

trường, nâng cao khả năng cạnh tranh của tập đoàn, đồng thời giảm bớt và
phân tán rủi ro. Thông qua đặc điểm điều hoà vốn của tập đoàn, vốn của
các doanh nghiệp thành viên được sử dụng vào những dự án tốt nhất, tránh
tình trạng vốn bị đầu tư tràn lan, trùng lặp, hiệu quả không cao.
 Với tiềm lực mạnh, tập đoàn có khả năng tổ chức nghiên cứu các
đề tài khoa học công nghệ đòi hỏi vốn đầu tư lớn và cần sự phối hợp của
nhiều nhà khoa học, phòng thí nghiệm, thiết bị nghiên cứu mà từng doanh
nghiệp đơn lẻ không thực hiện được. Mặt khác quy mô và phạm vi hoạt
động rộng lớn của tập đoàn sẽ làm cho việc triển khai ứng dụng các kết quả
Khoá luận tốt nghiệp
Lƣu Thị Bích Ngọc – Nhật 3 K43G
18
nghiên cứu khoa học vào kinh doanh có hiệu quả cao hơn với chi phí giảm.
Tập đoàn có tác dụng lớn trong việc cung cấp, trao đổi thông tin và những
kinh nghiệm tốt trong các hoạt động kinh doanh, nghiên cứu, triển khai kết
quả nghiên cứu vào thực tiễn giữa các doanh nghiệp thành viên.
 Với các nước phát triển, sự thống nhất trong tập đoàn sẽ góp phần
thúc đẩy chuyển giao công nghệ ra nước ngoài một cách có hiệu quả nhất.
Với các nước đang phát triển, các TĐTC là cầu nối để tiếp thu nhanh chóng
các thành tựu khoa học công nghệ trên thế giới, làm thu hẹp khoảng cách
về trình độ với các nước phát triển, thúc đẩy công nghiệp hoá- hiện đại hoá
nền kinh tế, đồng thời TĐTC là công cụ hữu hiệu để chống sự thâm nhập
một cách ồ ạt của các công ty khổng lồ trên thế giới, giúp cho sản xuất
trong nước có thể đứng vững và từng bước vươn ra thị trường các nước.
 Hiệu quả hoạt động từ các TĐTC góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế-
xã hội của đất nước.
Việc hình thành TĐTC làm thay đổi bộ mặt xã hội cho từng địa
phương hay trong một quốc gia, giải quyết việc làm cho một phần các dân
cư tại các khu vực, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyên môn hoá các
ngành nghề

lập, hoạt động tự chủ và tự chịu trách nhiệm. Hình thức pháp lý của công ty
con khá đa dạng, có thể là công ty cổ phần do công ty mẹ nắm giữ cổ phần
chi phối; công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên, trong đó công ty
mẹ giữ tỷ lệ vốn góp chi phối; công ty liên doanh với nước ngoài do công
ty mẹ nắm giữ tỷ lệ vốn góp chi phối; công ty trách nhiệm hữu hạn một
thành viên do công ty mẹ là chủ sở hữu.
Căn cứ vào tính chất phạm vi hoạt động, TĐTC kinh doanh theo mô
hình công ty mẹ- công ty con có 2 loại: Mô hình công ty mẹ nắm vốn thuần
tuý và mô hình công ty mẹ vừa nắm vốn vừa trực tiếp kinh doanh. Trên
thực tế không có sự tách bạch rõ ràng, nhiều TĐTC kinh doanh theo mô
hình công ty mẹ- công ty con là hỗn hợp của 2 loại hình thức trên, tức là
công ty mẹ vừa nắm vốn vừa trực tiếp kinh doanh một số công ty con, đồng
thời chỉ nắm vốn thuần tuý công ty khác.
Khoá luận tốt nghiệp
Lƣu Thị Bích Ngọc – Nhật 3 K43G
20
2. Tổ chức hoạt động tập đoàn tài chính
Điều kiện để một TĐTC hoạt động hiệu quả và không ngừng phát
triển là phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội, phát triển thị trường vốn,
tăng cường tự do hoá thương mại và toàn cầu hoá, xây dựng và hoàn thiện
môi trường pháp luật, phát triển nguồn nhân lực, hệ thống thông tin toàn cầu.
Tất cả các bộ phận được quản trị và hoạt động thống nhất, tập trung
theo ngành dọc. Đã là một tập đoàn thì nhất thiết phải có cơ chế quản trị
chung như: hội đồng chiến lược, ban kiếm soát, hội đồng quản trị, uỷ ban
bầu cử. Các thành viên trong hội đồng hay uỷ ban hoạt động theo tôn chỉ và
mục đích chung đã được các bên thống nhất từ trước và đa số theo cơ chế
kiêm nhiệm. Trong đó chủ tịch tập đoàn thường là người có ảnh hưởng và
uy tín lớn nhất thuộc công ty chính của tập đoàn. Sau chủ tịch tập đoàn sẽ
có các giám đốc phụ trách từng mảng hoạt động, ví dụ giám đốc phụ trách
tài chính, giám đốc phụ trách hàng

Hai là: Hình thành do sự liên kết, sáp nhập tự nhiên dựa trên mối
quan hệ về đầu tư hoặc sản phẩm
Toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đã tạo ra làn sóng phát triển mạnh
mẽ của các tập đoàn đa quốc gia khổng lồ. Một số tập đoàn có vai trò và
ảnh hưởng chi phối nền kinh tế không chỉ của một quốc gia mà của toàn thế
giới. Tất cả các nhà kinh tế, các chính trị gia nhận thấy những tác động tiêu
cực của các tập đoàn nhưng không thể không thừa nhận sự tồn tại và vai trò
của chúng. Và người ta đã có lúc dùng sự phát triển của một vài tập đoàn
để đo sức mạnh kinh tế của mỗi quốc gia. Về lĩnh vực kinh doanh của tập
đoàn, có thể theo các xu hướng sau:
+ Tập đoàn kinh doanh tổng hợp bao gồm các dịch vụ ngân hàng - tài
chính và sản xuất kinh doanh như: Tại Nhật Bản có tập đoàn Normura nổi
tiếng kinh doanh chứng khoán, sản xuất, đầu tư khu công nghiệp và hạ tầng
khu công nghiệp…; tập đoàn Sumitomo nổi tiếng về ngân hàng và kinh doanh
thương mại. Tại Đài Loan có tập đoàn Chinfon vừa có hoạt động ngân hàng,
Khoá luận tốt nghiệp
Lƣu Thị Bích Ngọc – Nhật 3 K43G
22
bảo hiểm lại vừa nổi tiếng trong lĩnh vực sản xuất xi-măng. Tại Singapore có
tập đoàn Keppel Bank kinh doanh lĩnh vực ngân hàng, thương mại, dịch vụ,…
+ Tập đoàn tài chính chuyên về ngân hàng, chứng khoán, các dịch
vụ tài chính như tập đoàn Citi Group (Mỹ); tập đoàn HSBC; tập đoàn ING
( Hà Lan); AIG ( Mỹ)
Xin giới thiệu một số tập đoàn tài chính lớn:
- Tháng 5/2001, Tập đoàn tài chính Citigroup của Mỹ đã tuyên bố
mua Tập đoàn Ngân hàng lớn nhất Mêcico Banacci với giá khổng lồ: 12,5
tỷ USD. Đây là cuộc mua bán lớn nhất trong lịch sử tại thị trường các nước
mới nổi như Mêxico. Citigroup là Tập đoàn tài chính lớn của Mỹ – Trong
đó, Ngân hàng thương mại khổng lồ Citibank là Ngân hàng đóng vai trò
sáng lập ra Tập đoàn. Việc sáp nhập Ngân hàng Banamex thuộc Tập đoàn

kinh doanh chủ yếu trên 4 nhóm sản phẩm gồm: Dịch vụ doanh nghiệp, đầu
tư, quản lý tài sản và dịch vụ bán lẻ. Các ngân hàng con cũng như các chi
nhánh của các ngân hàng thành viên đều quản trị kinh doanh theo các nhóm
sản phẩm nói trên theo mô hình dọc. Lãnh đạo tập đoàn này là đại diện các
quan chức cao cấp của các ngân hàng thành viên và hoạt động theo cơ chế
các Hội đồng thực quyền, đưa ra các qui chế, các chuẩn mực hoạt động và
phương thức quản trị thống nhất cho toàn bộ các ngân hàng thành viên.
- Tập đoàn HSBC Holdings: Là một trong những tập đoàn cung cấp
các dịch vụ tài chính – ngân hàng hàng đầu thế giới với tổng tài sản là
1.861 tỷ USD tính đến thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2007 và là tập đoàn
lớn thứ 4 thế giới về tài sản. Ngân hàng này báo cáo tài chính bằng dollar
Mỹ vì 80% doanh thu từ bên ngoài Anh quốc. Gần 22% doanh thu của
ngân hàng này là tại Hồng Kông, nơi nó có trụ sở cho đến năm 1993. Ngoài
ra HSBC đã tham gia với các hãng toàn cầu như New York Life, Prudential
và Alluanz để thành lập một liên doanh bảo hiểm tại ấn Độ, thị trường 1,1
tỷ dân với tổng phí bảo hiểm hàng năm đã tăng gấp đôi lên hơn 20 tỷ USD
kể từ khi lĩnh vực này được mở cửa cho đầu tư nước ngoài vào năm 2000.
Khoá luận tốt nghiệp
Lƣu Thị Bích Ngọc – Nhật 3 K43G
24
Nhận xét chung về các TĐTC trên thế giới và trong khu vực:
Một điều dễ nhận thấy nhất ở các TĐTC trên thế giới và khu vực là
mô hình kinh doanh phức tạp, cung cấp các sản phẩm đa năng và phạm vi
hoạt động rộng khắp ở các quốc gia. Với nền tảng là một ngân hàng hay
một công ty bảo hiểm, khi phát triển đến độ cần thiết, các tổ chức tài chính
đều vươn ra hoạt động đa năng và hướng ra toàn cầu theo nhiều hướng
khác nhau như thông qua hợp nhất, sát nhập một số NHTM, cổ phần hoá
những NHTM Nhà nước hay hợp nhất NHTM và công ty bảo hiểm. Các
TĐTC nổi tiếng đều rất chú trọng đến trách nhiệm xã hội như bảo đảm các
tiêu chuẩn an toàn, thân thiện với môi trường, hoạt động từ thiện, coi đó là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status