TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DỊCH VỤ NGÂN HÀNG
NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH HÀ
TÂY TRONG BỐI CẢNH MỞ CỬA THỊ TRƢỜNG NGÂN HÀNG
THEO LỘ TRÌNH GIA NHẬP WTO
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Lan Anh
Lớp : Nhật 5
Khoá : 44G
Giáo viên hƣớng dẫn : ThS. Ngô Quý Nhâm
2.3.3.Giá cả dịch vụ tài chính. 20
2.3.4.Môi trường pháp lý và hệ thống quản lý của cơ quan nhà nước
đối với hoạt động dịch vụ của ngân hàng. 21
2.3.5. Vấn đề hội nhập và mở cửa thị trường tài chính theo lộ trình
gia nhập WTO. 21
2.4. Vai trò của việc phát triển sản phẩm dịch vụ ngân hàng trong bối
cảnh mở cửa thị trường ngân hàng theo lộ trình gia nhập WTO. 22
2.4.1.Giúp ngân hàng phân tán rủi ro. 22
2.4.2. Tăng lợi nhuận cho ngân hàng. 23
2.4.3. Thúc đẩy các sản phẩm dịch vụ cùng phát triển. 24
2.4.4. Tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong bối cảnh mở
cửa. 24
II. Mở cửa thị trƣờng ngân hàng theo lộ trình gia nhập WTO. 25
1. Cam kết của Việt Nam trong vấn đề mở cửa thị trƣờng ngân hàng
theo lộ trình gia nhập WTO. 25
2. Tác động của vấn đề mở cửa thị trƣờng ngân hàng theo lộ trình gia
nhập WTO 27
CHƢƠNG II. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DỊCH VỤ
CỦA NHNo&PTNT CHI NHÁNH HÀ TÂY. 30
I. Khái quát về NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây. 30
1. Vài nét khái quát về NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây. 30
2. Các sản phẩm dịch vụ của NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây. 32
2.1. Dịch vụ cho khách hàng cá nhân 32
2.2. Dịch vụ cho khách hàng doanh nghiệp. 33
2.3. Dịch vụ ngân hàng điện tử. 34
II. Thực trạng hoạt động dịch vụ của NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây.
I. Định hƣớng phát triển của NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây. 63
1. Định hƣớng phát triển chung của ngân hàng. 63
2. Phƣơng hƣớng phát triển trong năm 2009. 64
II. Các giải pháp phát triển sản phẩm dịch vụ của NHNo&PTNT chi
nhánh Hà Tây. 66
1. Hoàn thiện sản phẩm hiện tại. 66
2. Phát triển sản phẩm dịch vụ mới. 70
3 . Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng và hệ thống thanh toán. 71 4. Xây dựng chiến lƣợc tiếp thị, quảng bá sản phẩm và mở rộng
mạng lƣới giao dịch. 72
5. Nâng cao năng lực quản trị, điều hành và phát triển nguồn nhân
lực. 74
6. Nâng cao năng lực tài chính. 76
7. Kiểm soát chặt chẽ chi phí và cải thiện cách thức định giá sản
phẩm dịch vụ. 77
III. Một số kiến nghị. 78
1. Kiến nghị với Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt
Nam. 78
2. Kiến nghị đối với Nhà nƣớc 81
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1. Cam kết về mở cửa thị trƣờng dịch vụ cho Dịch vụ ngân hàng 25
Bảng 2. Kết quả hoạt động huy động vốn giai đoạn 2007-2008. 35
Bảng 3: Tình hình cho vay qua các năm 2006-2008. 37
Bảng 4: Kết quả hoạt động huy động vốn và cho vay bằng ngoại tệ năm 2004
-2008. 39
Bảng 5: Kết quả hoạt động mua, bán ngoại tệ năm 2007-2008 43
Bảng 6: Kết quả tín dụng của NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây năm 2008.
50
Bảng 7: Kết quả hoạt động cho vay hộ sản xuất và cá nhân theo đối tƣợng
năm 2008 51
Bảng 8: Kết quả cho vay doanh nghiệp theo thành phần kinh tế tính đến hết
31/12/2008. 52
Bảng 9: Doanh thu của NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây thành phố Hà Nội
năm 2008 59
Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức của NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây. 31
Đồ thị 1: Tốc độ tăng trƣởng nguồn vốn và dƣ nợ giai đoạn 2004-2008 40
Đồ thị 2: Doanh số thanh toán hàng xuất nhập khẩu 42
Đồ thị 3: Doanh số mua bán ngoại tệ năm 2004-2008 43
Đồ thị 4: Doanh số chi trả kiều hối năm 2004-2008 45
Đồ thị 5: Số lƣợng thẻ ATM đã phát hành qua các năm. 46
1
LỜI MỞ ĐẦU
2
thức đƣợc tầm quan trọng, tác giả chọn đề tài “Giải pháp phát triển sản
phẩm dịch vụ của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi
nhánh Hà Tây trong bối cảnh mở cửa thị trƣờng ngân hàng theo lộ trình
gia nhập WTO”.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu.
Trên cơ sở làm rõ cơ sở lý luận và nội dung dịch vụ ngân hàng, đề tài
phân tích thực trạng dịch vụ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
chi nhánh Hà Tây trong thời gian qua, từ đó đề xuất phƣơng hƣớng và giải
pháp phát triển sản phẩm dịch vụ của NHNo&PTNT chi nhánh Hà Tây trong
bối cảnh mở cửa thị trƣờng ngân hàng theo lộ trình gia nhập WTO.
Nhƣ vậy, để thực hiện mục đích nghiên cứu, luận văn có những nhiệm
vụ cụ thể sau:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về dịch vụ ngân hàng và
cam kết mở cửa thị trƣờng dịch vụ ngân hàng theo lộ trình gia nhập WTO.
- Đánh giá thực trạng dịch vụ ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn chi nhánh Hà Tây.
- Đƣa ra những giải pháp nhằm phát triển sản phẩm dịch vụ Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hà Tây.
3. Phạm vi nghiên cứu.
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề liên quan đến dịch
vụ ngân hàng.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tập trung đánh giá các dịch vụ Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hà Tây trong những
năm gần đây, chủ yếu là giai đoạn 2007-2008. Phần giải pháp đề cập ở
chƣơng 3 đƣợc giới hạn nghiên cứu đến năm 2011 là năm hoàn toàn mở cửa
thị trƣờng ngân hàng theo lộ trình gia nhập WTO.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu.
4
CHƢƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SẢN PHẨM DỊCH VỤ
CỦA NHTM VÀ VẤN ĐỀ MỞ CỬA THỊ TRƢỜNG NGÂN
HÀNG THEO LỘ TRÌNH GIA NHẬP WTO
I. Tổng quan về dịch vụ của ngân hàng thƣơng mại.
1.Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại.
1.1.Khái niệm và đặc điểm về ngân hàng thương mại.
Theo luật Các tổ chức tín dụng do Quốc hội khoá X thông qua vào
ngày 12 tháng 12 năm 1997 định nghĩa:
“ Ngân hàng thƣơng mại là một loại hình tổ chức tín dụng đƣợc thực
hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan”.
Và luật này còn định nghĩa:
“Tổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp đƣợc thành lập theo quy
định của Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh
doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng
tiền gửi để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
Nhƣ vậy, ngân hàng thƣơng mại là một loại hình tổ chức tín dụng
nhƣng so với các tổ chức tín dụng phi ngân hàng nhƣ quỹ tiết kiệm thì có
những điểm khác biệt:
Thứ nhất, Ngân hàng thƣơng mại đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động của
ngân hàng, trong khi các tổ chức tín dụng phi ngân hàng chỉ đƣợc thực hiện
một số hoạt động ngân hàng.
Thứ hai, ngân hàng thƣơng mại là một tổ chức đƣợc phép nhận tiền gửi
trong khi tổ chức tín dụng phi ngân hàng không đƣợc nhận tiền gửi.
Thứ ba, ngân hàng thƣơng mại đƣợc phép cung cấp dịch vụ thanh toán,
còn các tổ chức tín dụng phi ngân hàng thì không đƣợc phép. 6
- Cũng nhƣ doanh nghiệp, ngân hàng thƣơng mại muốn tồn tại và phát
triển thì phải tiêu thụ đƣợc sản phẩm của mình, do vậy cần chú ý đến tiếp thị,
bán hàng, khuyến mãi, và thậm chí đến cả dịch vụ hậu mãi.
- Ngân hàng thƣơng mại phải chú ý đến nghiên cứu phát triển sản phẩm
mới và thiết kế sản phẩm sao cho thoả mãn tối đa nhu cầu và thị hiếu của
khách hàng.
- Ngân hàng thƣơng mại phải không ngừng quan tâm đến phát triển và
đổi mới công nghệ ngân hàng, đặc biệt trong thời đại công nghệ thông tin nhƣ
hiện nay công nghệ ngân hàng thay đổi rất nhanh chóng. Một sự chậm chạp
hoặc thiếu đầu tƣ công nghệ có thể dẫn đến tai hoạ cho ngân hàng thƣơng mại
trong thời đại cạnh tranh gay gắt.
2.Tổng quan về dịch vụ ngân hàng thƣơng mại.
2.1.Khái niệm về dịch vụ ngân hàng.
Đi từ khái niệm thế nào là dịch vụ thì đến nay vẫn chƣa có một định
nghĩa thống nhất do bản thân dịch vụ mang tính đa dạng, phức tạp và vô hình.
Theo quan điểm của Philip Kotler “ Dịch vụ là mọi biện pháp hay lợi ích mà
một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là không sờ thấy đƣợc và
không dẫn đến sự chiếm đoạt một cái gì đó”.
Theo Hiệp định chung về thƣơng mại dịch vụ (GATS) của tổ chức
thƣơng mại thế giới WTO không đƣa ra định nghĩa về dịch vụ mà chỉ phân
loại dịch vụ thành 12 ngành lớn, mỗi ngành lại chia ra các phân ngành.
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam năm 1995 giải thích: “Dịch vụ là các
hoạt động phục vụ, nhằm thoả mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và
sinh hoạt”.
Có thể có nhiều cách tiếp cận nhƣng ta có thể thấy đƣợc hai đặc trƣng
cơ bản của dịch vụ là: Thứ nhất, dịch vụ là một “sản phẩm” là kết quả của quá
trình lao động và sản xuất nhằm thoả mãn một nhu cầu nào đó của con ngƣời;
8
chứng khoán có thể chuyển nhƣợng; các công cụ có thể chuyển nhƣợng khác
và tài sản tài chính, kể cả kim khí quý.
7) Tham gia vào việc phát hành mọi loại chứng khoán, kể cả bảo lãnh
phát hành và chào bán nhƣ đại lý (dù công khai hay theo thoả thuận riêng) và
cung cấp dịch vụ liên quan tới việc phát hành đó.
8) Môi giới tiền tệ.
9) Quản lý tài sản nhƣ tiền mặt hoặc quản lý danh mục đầu tƣ, mọi hình
thức quản lý đầu tƣ tập thể, quản lý quỹ hƣu trí, dịch vụ bảo quản, lƣu trữ và
tín thác.
10) Các dịch vụ thanh toán và quyết toán tài sản tài chính, bao gồm
chứng khoán, các sản phẩm tài chính phái sinh và các công cụ thanh toán
khác.
11) Cung cấp và chuyển thông tin về tài chính, xử lý dữ liệu tài chính
và phần mềm liên quan của các nhà cung cấp dịch vụ tài chính khác.
12) Các dịch vụ về tƣ vấn, trung gian môi giới và các dịch vụ tài chính
phụ trợ khác liên quan đến các hoạt động nêu trên đây, kể cả tham khảo và
phân tích tín dụng, nghiên cứu, tƣ vấn đầu tƣ và danh mục đầu tƣ, tƣ vấn mua
sắm và về cơ cấu lại chiến lƣợc doanh nghiệp.
Nhƣng ở Việt Nam, theo Luật các tổ chức tín dụng, các dịch vụ ngân
hàng gồm:
o Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ.
o Dịch vụ bảo hiểm.
o Dịch vụ tƣ vấn.
o Các dịch vụ khác có liên quan đến hoạt động ngân hàng.
Nhƣ vậy, theo Luật các tổ chức tín dụng thì dịch vụ ngân hàng mang
nghĩa hẹp hơn GATS, tức chỉ bao gồm những hoạt động ngoài chức năng của
định chế tài chính trung gian huy động vốn và cho vay.
nhu cầu thực hiện thanh toán qua ngân hàng. 10
Thanh toán qua ngân hàng là một loại dịch vụ thanh toán, theo đó ngân
hàng thực hiện việc trích chuyển tiền từ tài khoản của đơn vị phải trả bằng
cách ghi Nợ vào tài khoản, sang tài khoản của đơn vị thụ hƣởng bằng cách ghi
Có vào tài khoản.
Số dƣ trên tài khoản có thể hình thành từ việc khách hàng nộp tiền mặt
vào hoặc do khách hàng nhận tiền chuyển khoản từ các đơn vị khác. Số dƣ
này nhằm duy trì khả năng thanh toán và chi trả của khách hàng tại bất cứ thời
điểm nào. Tuy nhiên số dƣ này không phải lúc nào khách hàng cũng sử dụng,
do vậy đôi khi số dƣ này nhàn rỗi tạm thời cho đến khi đƣợc sử dụng để thanh
toán. Những lúc nhàn rỗi số dƣ này trở thành nguồn vốn của ngân hàng, ngân
hàng có thể sử dụng cho hoạt động của mình. Tuy nhiên đây là loại tài khoản
không có kỳ hạn nên khách hàng có thể rút bất cứ lúc nào không cần báo
trƣớc và ngân hàng khó lên kế hoạch sử dụng loại tiền gửi này. Vì vậy lãi suất
của loại tiền gửi này rất thấp thậm chí không trả lãi. Cũng vì vậy khách hàng
thƣờng duy trì số dƣ thấp chỉ đủ đáp ứng nhu cầu chi trả hàng ngày.
- Nhóm 2. Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi cá nhân.
Tiền gửi cá nhân đƣợc mở cho khách hàng cá nhân có nhu cầu sử dụng.
Loại tài khoản này thích hợp cho cá nhân có nhu cầu nhận chuyển tiền vào tài
khoản, chẳng hạn nhận tiền lƣơng hàng tháng, nhận chuyển tiền từ nƣớc ngoài
hoặc các cá nhân khác trong nƣớc. Khi nhận tiền khách hàng đƣợc ghi Có vào
tài khoản và khi rút tiền đƣợc ghi Nợ. Số dƣ Có phản ánh số tiền khách hàng
còn gửi ở ngân hàng và ngân hàng có thể sử dụng cho mục đích của mình.
Nhƣng số dƣ này tăng lên khi khách hàng nhận lƣơng vào thời điểm trả lƣơng
và giảm dần khi khách hàng rút về chi tiêu nên số dƣ thƣờng không lớn.
Tuy vậy trong những năm gần đây, số lƣợng tài khoản này ở các ngân
hàng thƣơng mại không ngừng tăng lên do có sự phối hợp tốt giữa các ngân
sản phẩm tiền gửi này và lãi suất tiết kiệm định kỳ thực tế cao hơn lãi luất tiền
gửi không kỳ hạn. Mức lãi suất còn thay đổi tuỳ thuộc vào loại kỳ hạn gửi, 12
loại đồng tiền gửi ( VND, USD, EURO hay vàng…) và tuỳ theo uy tín và độ
rủi ro của ngân hàng nhận tiền gửi.
Ngoài ra còn có các loại tiền gửi tiết kiệm khác nhƣ tiết kiệm tiện ích,
tiết kiệm có thƣởng, tiết kiệm an khang với những nét đặc trƣng riêng nhằm
làm cho sản phẩm luôn đƣợc đổi mới theo nhu cầu của khách hàng và tạo ra
điểm khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh.
Dịch vụ cho vay.
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao
cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất
định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Dựa vào đối tƣợng ta có thể chia làm 2 nhóm cơ bản là cho vay cá nhân và
cho vay doanh nghiệp:
- Nhóm 1. Cho vay doanh nghiệp thƣờng dựa vào thời hạn cho vay để
chia thành cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Trong đó, thời hạn cho
vay là khoảng thời gian đƣợc tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay
cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã đƣợc thoả thuận trong hợp
đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng.
Cho vay ngắn hạn là loại cho vay có thời hạn dƣới một năm. Mục đích
của loại cho vay này thƣờng là nhằm tài trợ cho việc đầu tƣ vào tài sản lƣu
động.
Cho vay trung hạn là loại cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm. Mục đích
của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tƣ vào tài sản cố định.
Cho vay dài hạn là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm. Mục đích của
loại cho vay này thƣờng là nhằm tài trợ đầu tƣ vào các dự án đầu tƣ.
- Nhóm 2. Cho vay khách hàng cá nhân. Trong lĩnh vực tín dụng hiện
nông dân còn có ý nghĩa đặc biệt thay đổi tập quán làm ăn, chuyển từ sản xuất
nhỏ phục vụ thị trƣờng địa phƣơng sang sản xuất quy mô lớn hơn hƣớng đến
thị trƣờng xuất khẩu rộng lớn. Có đƣợc nhƣ vậy mới thực sự đổi mới bộ mặt
của nông thôn Việt Nam. 14
Dịch vụ thanh toán.
Hầu hết các giao dịch thanh toán giữa các khách hàng trong nƣớc và
nƣớc ngoài đều đƣợc thực hiện qua ngân hàng. Nhờ việc nắm giữ tài khoản
của khách hàng, đồng thời thông qua việc kiểm soát chứng từ thanh toán mà
các ngân hàng hoàn toàn có khả năng thực hiện các dịch vụ thanh toán theo
yêu cầu của khách hàng. Hiện nay, các ngân hàng thƣơng mại ở Việt Nam sử
dụng các dịch vụ thanh toán nhƣ: thanh toán séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi,
thƣ tín dụng, hối phiếu, lệnh phiếu, thẻ thanh toán…
Dịch vụ chiết khấu thƣơng phiếu và chứng từ có giá.
Chiết khấu là một hình thức cấp tín dụng theo đó các tổ chức tín dụng
nhận các chứng từ có giá và trao cho khách hàng một số tiền bằng mệnh giá
của chứng từ nhận chiết khấu trừ đi phần lợi nhuận và chi phí mà ngân hàng
đƣợc hƣởng. So với cho vay hình thức này có điểm khác biệt là không cần tài
sản thế chấp mà sử dụng ngay chứng từ nhận chiết khấu làm đảm bảo tín
dụng, ngân hàng thu lãi trƣớc khi phát tiền vay bằng cách khấu trừ vào mệnh
giá và quy trình xem xét cấp tín dụng đơn giản và nhanh chóng hơn so với
cho vay.
Các ngân hàng thƣơng mại hiện nay thƣờng nhận chiết khấu hai loại
chứng từ cơ bản là thƣơng phiếu và chứng từ có giá khác nhƣ trái phiếu, tín
phiếu Kho bạc Nhà nƣớc, kỳ phiếu, sổ tiết kiệm…
Dịch vụ trao đổi ngoại tệ.
Dịch vụ này rất phát triển trong giai đoạn hiện nay nhằm đáp ứng nhu
cầu trao đổi mua bán trong hoạt động ngoại thƣơng. Ngân hàng đứng ra mua,
thanh toán miễn truy đòi.
Bao thanh toán truy đòi là loại nghiệp vụ bao thanh toán theo đó nếu
ngƣời mua hàng không trả đƣợc nợ hoặc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì
ngƣời bán hàng có nghĩa vụ hoàn trả khoản tiền đƣợc ứng trƣớc cho đơn vị
bao thanh toán. 16
Bao thanh toán miễn truy đòi là loại nghiệp vụ thanh toán mà đơn vị
bao thanh toán phải chịu mọi rủi ro về tín dụng và không đƣợc đòi lại khoản
tiền đã ứng trƣớc cho ngƣời bán hàng, trong trƣờng hợp ngƣời mua hàng
không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. So với bao thanh toán truy đòi thì bao thanh
toán miễn truy đòi bao gồm luôn cả bảo hiểm rủi ro trả nợ.
Ngoài ra còn có các sản phẩm dịch vụ truyền thống khác nhƣ dịch vụ
chuyển tiền, dịch vụ cung cấp các tài khoản giao dịch…
2.2.2.Dịch vụ ngân hàng hiện đại.
Dịch vụ ngân hàng hiện đại là hình thức dịch vụ ngân hàng mới đƣợc
đƣa vào hoạt động của tổ chức tín dụng, đƣợc ra đời trên nền các công nghệ
mới, đem lại các tiện ích mới cho khách hàng.
Dịch vụ thẻ ngân hàng.
Thẻ đƣợc xem là sản phẩm ngân hàng hiện đại dành cho khách hàng cá
nhân bên cạnh những sản phẩm và dịch vụ ngân hàng truyền thống. Ngân
hàng cấp thẻ cho khách hàng có tài khoản dùng để thanh toán tiền mua hàng,
chi trả tiền dịch vụ, hay rút tiền mặt tự động thông qua các máy đọc thẻ hay
các máy rút tiền tự động ATM.
Thẻ có thể chia làm hai loại chính:
Thẻ tín dụng (Credit card): đây là loại thẻ sử dụng phổ biến nhất, theo
đó chủ thẻ đƣợc cấp một hạn mức tín dụng nhất định không phải trả lãi (nếu
chủ thẻ hoàn trả đúng kì hạn số tiền đã sử dụng) để mua hàng hoá, dịch vụ tại
những cơ sở kinh doanh, cửa hàng, khách sạn…chấp nhận loại thẻ này.
Là hình thức thanh toán trực tuyến qua mạng điện thoại di động song
hành với hình thức thanh toán qua mạng Internet. Hình thức này đƣợc ra đời
nhằm giải quyết nhu cầu thanh toán các giao dịch có giá trị nhỏ hoặc những
dịch vụ tự động không có ngƣời phục vụ.
Home banking.
Với ngân hàng tại nhà, khách hàng giao dịch với ngân hàng qua mạng
nhƣng là mạng nội bộ (Intranet) do ngân hàng xây dựng riêng. Các giao dịch 18
tiến hành tại nhà thông qua hệ thống máy tính nối với hệ thống máy tính của
Ngân hàng. Khách hàng có thể thực hiện các giao dịch về chuyển tiền, liệt kê
giao dịch, tỷ giá, lãi suất, báo Nợ, báo Có…Để sử dụng khách hàng chỉ cần có
máy tính kết nối với hệ thống máy tính của ngân hàng thông qua modem -
đƣờng điện thoại quay số, đồng thời khách hàng đăng ký số điện thoại và chỉ
những số điện thoại này mới đƣợc kết nối với hệ thống Home Banking của
ngân hàng.
Internet banking.
Dịch vụ Internet banking giúp khách hàng chuyển tiền trên mạng thông
qua các tài khoản cũng nhƣ kiểm soát hoạt động của tài khoản này. Để tham
gia khách hàng truy cập vào website của ngân hàng và thực hiện giao dịch tài
chính, truy cập thông tin cần thiết. Đồng thời khách hàng có thể truy cập vào
các Website khác để mua hàng và thực hiện thanh toán với ngân hàng. Tuy
nhiên, khi kết nối internet thì ngân hàng phải có hệ thống bảo mật đủ mạnh để
đối phó với các rủi ro.
Dịch vụ bảo quản và ký gửi:
Ngân hàng nhận bảo quản các cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tƣ, các hợp
đồng bảo hiểm, các chứng thƣ tài sản, di chúc và các tài sản có giá khác.
Những thứ này có thể đƣợc bảo quản theo phƣơng thức “mở” trong đó biên
lai sẽ ghi chi tiết những gì đƣợc lƣu giữ, hoặc theo phƣơng thức “kín” đƣợc