Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam - Thực trạng và giải pháp phát triển - Pdf 13

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾVÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
*** KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:
Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp
vừa và nhỏ Việt Nam - Thực trạng và giải pháp phát triển Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Thu Hồng
Lớp : Anh 4
Khoá : K 43
Giáo viên hướng dẫn :ThS Phan Thị Thu Hiền Hà Nội, tháng 05/2008
Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
Thực trạng và giải pháp phát triển
Phạm Thị Thu Hồng A4 - K43A - KT & KDQT
1
LỜI NÓI ĐẦU
Doanh nghiệp vừa và nhỏ là một trong những khu vực doanh nghiệp có vị
trí quan trọng trong nền kinh tế của bất cứ một quốc gia nào, đặc biệt là đối
với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Đây là bộ phận chiếm đa số

Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
Thực trạng và giải pháp phát triển
Phạm Thị Thu Hồng A4 - K43A - KT & KDQT
3
Chương 1: Tổng quan về các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt
Nam
1.1. Một số vấn đề lý luận về doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.1. Khái niệm
1.1.1.1. Trên thế giới
Không có một khái niệm chung nào thống nhất trên thị trường quốc tế về
các yếu tố cấu thành nên một doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng thông thường
khi nói đến doanh nghiệp vừa và nhỏ tức là nói đến cách phân loại doanh
nghiệp dựa trên độ lớn hay qui mô của các doanh nghiệp. Việc phân loại
doanh nghiệp vừa và nhỏ phụ thuộc vào loại tiêu thức sử dụng qui định giới
hạn các tiêu thức phân loại qui mô doanh nghiệp. Điểm khác biệt cơ bản trong
khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ giữa các nước chính là việc lựa chọn các
tiêu thức đánh giá qui mô doanh nghiệp và lượng hoá các tiêu thức ấy thông
qua những tiêu chuẩn cụ thể.
Mặc dù có những khác biệt nhất định giữa các nước về qui định các tiêu
thức phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ, song khái niệm chung nhất về doanh
nghiệp vừa và nhỏ có nội dung như sau:
Doanh nghiệp vừa và nhỏ là những cơ sở sản xuất - kinh doanh có tư
cách pháp nhân kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, có qui mô doanh nghiệp
trong những giới hạn nhất định tính theo các tiêu thức vốn, lao động, doanh
thu, giá trị gia tăng thu được trong từng thời kỳ theo qui định của từng quốc
gia.
Qua nghiên cứu tiêu thức phân loại ở các nước có thể nhận thấy một số
tiêu thức chung, phổ biến nhất thường được sử dụng trên thế giới là:
- Số lao động thường xuyên
Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam

Phạm Thị Thu Hồng A4 - K43A - KT & KDQT
5
biệt về quan điểm phát triển kinh tế nhiều thành phần và các chính sách, qui
định phát triển kinh tế của nước ta, chúng ta có thể nêu ra khái niệm như sau:
Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam là những cơ sở sản xuất - kinh
doanh có tư cách pháp nhân, không phân biệt thành phần kinh tế, có quy mô
về vốn hoặc lao động thoả mãn các qui định của chính phủ đối với từng
ngành nghề tương ứng với từng thời kỳ phát triển của nền kinh tế.
Theo nghị định số 90/2001/ND-CP ngày 23/11/2001 thì doanh nghiệp vừa
và nhỏ được định nghĩa như sau: "Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản
xuất, kinh doanh theo pháp luật hiện hành có vốn đăng ký không quá 10 tỷ
đồng hoặc số lao động trung bình không quá 300 người".
Đối với một số lĩnh vực có quy định cụ thể như sau:
Bảng 1.1: Tiêu thức vốn và lao động
Quy mô doanh nghiệp
Vốn tối đa (đồng)
Số người lao động tối đa
Lĩnh vực sản xuất công
nghiệp và xây dựng
Trong đó doanh nghiệp nhỏ:
10 tỷ

1 tỷ
500

100
Lĩnh vực sản xuất nông lâm
nghiệp và hải sản
Trong đó doanh nghiệp nhỏ:
10 tỷ

dụng để kể đến các loại hình và quy mô doanh nghiệp sử dụng một số lượng
lao động lớn hơn, không điều hành hoạt động từ gia đình. Loại doanh nghiệp
này phải chịu chi phối bởi pháp luật và có khả năng tiếp cận dễ dàng đến các
thể chế tài chính và dự án phát triển. Khái niệm thường được sử dụng cho
doanh nghiệp chính quy là: “doanh nghiệp vừa và nhỏ là đơn vị tổ chức kinh
doanh có tư cách pháp nhân nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất kinh
doanh, cung ứng, trao đổi hàng hoá và dịch vụ trên thị trường để tối đa hoá lợi
ích của người tiêu dùng, thông qua đó để tối đa hóa lợi nhuận của chủ sở hữu
tài sản của doanh nghiệp”
1
.
1.1.2. Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp vừa và
nhỏ
Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ được
đánh giá dựa trên các chỉ tiêu cơ bản:

1
PGS.TS. Đặng Xuân Ninh, Những vấn đề quản trị doanh nghiệp vừa và nhỏ trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế
Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
Thực trạng và giải pháp phát triển
Phạm Thị Thu Hồng A4 - K43A - KT & KDQT
7
1.1.2.1. Năng lực cạnh tranh
a. Lợi thế cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nói chung và của doanh nghiệp
vừa và nhỏ nói riêng là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với
đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để
thu lợi ngày càng cao hơn. Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp. Đây là các yếu tố nội

 Nguồn nhân lực
b. Khả năng hợp tác, liên kết với các đối tác
Trong bối cảnh của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh
nghiệp vừa và nhỏ phải đối mặt với các đối thủ mới, các công ty xuyên quốc
gia, đa quốc gia có tiềm lực tài chính, công nghệ, kinh nghiệm và năng lực
cạnh tranh cao, phải cạnh tranh quyết liệt trong điều kiện thị trường toàn cầu
với những nguyên tắc nghiêm ngặt của định chế thương mại và luật pháp
quốc tế. Chính vì vậy mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam muốn tồn
tại và phát triển được thì không chỉ dựa vào nội lực của chính bản thân doanh
nghiệp mà phải tiến hành hợp tác, liên kết để mở rộng qui mô và tiềm lực tài
chính của mình ví dụ như tiến hành liên doanh với các công ty khác, thu hút
vốn đầu tư từ các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài, thực hiện đầu
tư ra nước ngoài,…
c. Hướng ra thị trường nước ngoài thông qua hoạt động xuất khẩu
Hiện nay, hội nhập đã trở thành một xu hướng tất yếu của tất cả các quốc
gia trên thế giới, vì vậy các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng không thể đứng
ngoài xu thế này. Các doanh nghiệp không chỉ bó hẹp phạm vi thị trường ở
Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
Thực trạng và giải pháp phát triển
Phạm Thị Thu Hồng A4 - K43A - KT & KDQT
9
khu vực nội địa mà phải vươn ra thị trường nước ngoài, đưa hàng hoá dịch vụ
của mình đến với người tiêu dùng trên khắp thế giới. Hoạt động này xét một
cách cụ thể hơn chính là hoạt động xuất khẩu. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ
có thể tồn tại, phát triển lớn mạnh và đứng vững được trên thị trường hay
không chính là nhờ vào hoạt động này. Vì vậy mà đánh giá năng lực xuất
khẩu cũng chính là góp phần giúp các doanh nghiệp nhận biết được năng lực
cạnh tranh của mình đang ở mức độ nào và có thể theo kịp tiến trình hội nhập
của thế giới hay không.
Cả ba yếu tố nêu trên đều vô cùng quan trọng, tuy nhiên việc đánh giá

lực hội nhập của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
1.1.2.4. Khả năng tham gia vào các chuỗi giá trị sản phẩm toàn cầu
Trong quá trình phát triển của nền kinh tế thế giới đặc biệt là trong một
vài năm trở lại đây, xu hướng tham gia vào các “chuỗi giá trị toàn cầu” đang
trở nên rất phổ biến và chiếm ưu thế trong hoạt động kinh doanh quốc tế. Sở
dĩ như vậy là vì từ khi thực hiện nghiên cứu thị trường, mua nguyên vật liệu
đến khi phân phối sản phẩm hoàn chỉnh đến tay người tiêu dùng là cả một quá
trình lâu dài và phức tạp, bao gồm rất nhiều công đoạn. Do đó, hầu như không
có một doanh nghiệp nào kể cả các tập đoàn lớn đủ tiềm lực và khả năng đảm
nhiệm tất cả các công đoạn. Hơn nữa, việc phân chia quá trình này cho các
doanh nghiệp ở nhiều quốc gia thực hiện, mỗi doanh nghiệp chuyên về một
khâu nhất định sẽ tận dụng được lợi thế chuyên môn của các doanh nghiệp và
lợi thế của quốc gia, giảm những lãng phí về nguồn lực, tăng năng suất, hiệu
quả sản xuất. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ muốn hội nhập được thì cũng
Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
Thực trạng và giải pháp phát triển
Phạm Thị Thu Hồng A4 - K43A - KT & KDQT
11
không thể đứng ngoài quá trình này. Đó là một yêu cầu tất yếu đối với tất cả
các doanh nghiệp chứ không chỉ riêng các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

1.2. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
1.2.1. Các giai đoạn phát triển
1.2.1.1. Trước đổi mới kinh tế năm 1986
Từ sau khi giải phóng miền Bắc năm 1954 và giải phóng miền Nam năm
1975, Việt Nam đã chọn mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung xã hội chủ
nghĩa, giống như mô hình của các nước xã hội chủ nghĩa cũ ở Đông Âu và
Liên Xô. Trong thời kỳ này chỉ có hai khu vực: Kinh tế Nhà nước và hợp tác
xã được phép hoạt động nhưng bị hạn chế ở qui mô và mức độ không đáng
kể.

các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam thì tiêu thức xác định không phải là
sở hữu mà là giới hạn qui mô về vốn và lao động.
Hiện nay, có khoảng 6000 doanh nghiệp Nhà nước và hơn 80% trong số
đó là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (có vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng và lao
động thường xuyên dưới 300 người). Nhà nước Việt Nam có chủ trương tạo
một sân chơi bình đẳng cho tất cả các thành phần kinh tế, ví dụ luật doanh
nghiệp được thông qua tại kỳ họp thứ năm Quốc hội khoá X đã được áp dụng
cho một bộ phận đáng kể các doanh nghiệp Nhà nước.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam, đặc biệt là khu vực tư nhân,
gần đây mới nhận được sự hỗ trợ từ phía Nhà nước. Vấn đề phát triển khu
vực doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam từ năm 2001 trở về trước chưa
được quan tâm đúng mức. Cho đến Nghị định 90/2001/CP-NĐ ngày
Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
Thực trạng và giải pháp phát triển
Phạm Thị Thu Hồng A4 - K43A - KT & KDQT
13
23/11/2001 Chính phủ Việt Nam mới ban hành một chính sách khuyến khích
rõ ràng, dài hạn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ như sau:
a. Chương trình trợ giúp
Chương trình trợ giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhà nước là chương
trình mục tiêu dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, căn cứ vào định hướng ưu
tiên phát triển kinh tế - xã hội, phát triển các ngành và các địa bàn cần khuyến
khích. Chương trình trợ giúp này được bố trí trong kế hoạch hàng năm và kế
hoạch 5 năm do Thủ tướng Chính phủ hoặc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định.
Chương trình trợ giúp bao gồm: mục tiêu, đối tượng doanh nghiệp vừa và
nhỏ cụ thể theo ngành nghề, lĩnh vực và địa bàn hoạt động, nội dung trợ giúp,
nguồn lực, kế hoạch và biện pháp về cơ chế chính sách, tổ chức thực hiện.
Chú trọng ưu tiên chương trình trợ giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ do
doanh nhân nữ quản lý.

hàng theo hạn ngạch phân bổ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất hàng
hoá và dịch vụ bảo đảm chất lượng theo yêu cầu.
Chính phủ khuyến khích phát triển hình thức thầu phụ công nghiệp, tăng
cường sự liên kết giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ với doanh nghiệp khác
về hợp tác sản xuất, sản phẩm linh kiện, phụ kiện, phụ tùng, nhận thầu xây
dựng, nhằm thúc đẩy chuyển giao công nghệ, mở rộng thị trường tiêu thụ
sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Thông qua các chương trình trợ giúp, Chính phủ tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp vừa và nhỏ đổi mới công nghệ, trang thiết bị, máy móc, phát
Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
Thực trạng và giải pháp phát triển
Phạm Thị Thu Hồng A4 - K43A - KT & KDQT
15
triển sản phẩm mới, hiện đại hoá quản lý nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm
hàng hoá, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.
f. Về thị trường xuất khẩu
Nhà nước khuyến khích doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng cường xuất khẩu,
tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ liên kết hợp tác với
nước ngoài, mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ. Thông qua
chương trình trợ giúp xúc tiến xuất khẩu, trợ giúp một phần chi phí cho doanh
nghiệp vừa và nhỏ khảo sát, học tập, trao đổi hợp tác và tham dự hội chợ,
triển lãm giới thiệu sản phẩm, tìm hiểu thị trường ở nước ngoài. Chi phí trợ
giúp được bố trí trong Quỹ hỗ trợ xuất khẩu.
Các Bộ, ngành tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp vừa và nhỏ
tham gia các chương trình xuất khẩu của Nhà nước.
g. Về thông tin, tư vấn và đào tạo nguồn nhân lực
Chính phủ, các Bộ, ngành và uỷ ban nhân dân địa phương cung cấp các
thông tin cần thiết qua các ấn phẩm và qua mạng Internet cho các doanh
nghiệp vừa và nhỏ, thông qua Bộ kế hoạch và Đầu tư (Cục Phát triển doanh
nghiệp vừa và nhỏ) phối hợp với các cơ quan liên quan và các tổ chức xã hội

- Lĩnh vực và địa bàn hoạt động:
Đa số các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta hiện nay hoạt động trong
lĩnh vực thương mại - dịch vụ (chiếm hơn 50%), do đây là ngành có vòng
quay vốn nhanh, lợi nhuận cao, không cần số vốn đầu tư lớn, sử dụng ít lao
động. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh chiếm đến 78% tổng
mức bán lẻ, 64% tổng lượng vận chuyển hàng hóa. Riêng trong lĩnh vực công
nghiệp, có 37,3% số doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc ngành công nghiệp chế
Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
Thực trạng và giải pháp phát triển
Phạm Thị Thu Hồng A4 - K43A - KT & KDQT
17
biến thực phẩm, 11% doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong các ngành dệt
may, da. Ngành cơ khí, sản xuất thiết bị, máy móc, dụng cụ, lắp ráp xe máy
và các phương tiện giao thông chiếm 12,3% tổng số lượng doanh nghiệp vừa
và nhỏ của toàn ngành công nghiệp. Trong lĩnh vực công nghiệp và tiểu thủ
công nghiệp, doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 17% tổng số doanh nghiệp, tập
trung chủ yếu vào những lĩnh vực thực phẩm, chế biến gỗ, chế biến thủy sản
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn, nơi
có kết cấu hạ tầng phát triển, điều kiện giao thông thuận lợi, người tiêu dùng
có thu nhập cao, sức cầu lớn. Trên địa bàn nông thôn, doanh nghiệp vừa và
nhỏ chiếm 14%, với số lượng trên 40.500 doanh nghiệp, tập trung hầu hết ở
các làng nghề. Hiện nay, 100% sản lượng của một số sản phẩm truyền thống
như cói, đan lát, thủ công mỹ nghệ do các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông
thôn sản xuất.
- Sản phẩm, dịch vụ: Các doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu có năng lực
tài chính rất thấp, có công nghệ, thiết bị lạc hậu, chủ yếu sử dụng lao động thủ
công. Sản phẩm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu tiêu thụ ở thị
trường nội địa, chất lượng sản phẩm kém; mẫu mã bao bì còn đơn giản, sức
cạnh tranh yếu. Tuy nhiên có một số doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động
trong lĩnh vực chế biến nông lâm, hải sản có sản phẩm xuất khẩu với giá trị

Doanh nghiệp vừa và nhỏ có mặt trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực và tồn
tại như một bộ phận không thể thiếu được của nền kinh tế mỗi nước. Đây là
một bộ phận hữu cơ gắn bó chặt chẽ với các doanh nghiệp lớn, có tác dụng hỗ
trợ, bổ sung, thúc đẩy các doanh nghiệp lớn phát triển. Ở hầu hết các nước, số
lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm khoảng 90% tổng số các doanh nghiệp.
Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
Thực trạng và giải pháp phát triển
Phạm Thị Thu Hồng A4 - K43A - KT & KDQT
19
Tốc độ gia tăng số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ lớn hơn tốc độ ra tăng
số lượng các doanh nghiệp lớn.
- Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò quan trọng trong sự tăng
trưởng của nền kinh tế
Khu vực doanh nghiệp này góp phần quan trọng vào sự gia tăng thu nhập
quốc dân của các nước trên thế giới, bình quân chiếm khoảng trên dưới 50%
GDP mỗi nước. Ở Việt Nam, theo đánh giá của Viện Nghiên cứu và Quản lý
Kinh tế Trung ương, doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng góp 24- 25% GDP của cả
nước, 31% giá trị sản xuất công nghiệp; chiếm 78% mức bán lẻ của ngành
thương nghiệp, 64% khối lượng vận chuyển hành khách và hàng hoá. Trong
nhiều ngành sản xuất và dịch vụ khác các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng
chiếm một tỷ lệ đáng kể.
- Sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần quan trọng
trong việc giải quyết những mục tiêu kinh tế xã hội như tạo ra một số lượng
lớn việc làm cho dân cư, làm tăng thu nhập cho người lao động, góp phần
xoá đói giảm nghèo.
Xét theo luận điểm tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động,
thì khu vực này vươn xa hơn hẳn các khu vực khác, góp phần giải quyết nhiều
vấn đề xã hội bức xúc. Ở hầu hết các nước, doanh nghiệp vừa và nhỏ lại thu
hút nhiều lao động hoặc có tốc độ thu hút lao động mới cao hơn khu vực
doanh nghiệp lớn. Ở Việt Nam, cũng theo đánh giá của Viện nghiên cứu và

1996 và năm 2001 xuống còn 4,3%. Trong khi đó, tỷ lệ lao động làm việc
trong các cơ quan hành chính sự nghiệp đã giảm từ 5,2% năm 1988 xuống
còn 3,2% năm 1996 và năm 2001 còn hơn 2,1%. Do vậy, khu vực doanh
Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
Thực trạng và giải pháp phát triển
Phạm Thị Thu Hồng A4 - K43A - KT & KDQT
21
nghiệp vừa và nhỏ có vai trò hết sức quan trọng, có khả năng tạo ra việc làm
để đáp ứng nhu cầu lao động cho số người phải rời bỏ chỗ làm việc trong các
doanh nghiệp Nhà nước và cho số lượng lớn những người lao động mới tham
gia vào lực lượng lao động hàng năm.
- Các doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần hỗ trợ cho các doanh nghiệp
lớn và làm năng động nền kinh tế trong cơ chế thị trường.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ chính là nguồn cung cấp nguyên, nhiên liệu
và bán thành phẩm, hoặc các sản phẩm, dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp lớn. Hơn nữa, do lợi thế của quy mô nhỏ là
năng động, sáng tạo trong kinh doanh có sự kết hợp chuyên môn hoá và đa
dạng hoá mềm dẻo, hoà nhịp với đòi hỏi uyển chuyển của thị trường nên góp
phần làm cho nền kinh tế trở nên linh hoạt hơn.
- Khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò lớn trong việc huy động và
phát huy hiệu quả sử dụng của các nguồn lực
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể phát triển và sử dụng một cách có
hiệu quả các nguồn tài chính huy động trong nước và các nguồn viện trợ của
nước ngoài. Do tính chất nhỏ lẻ, dễ phân tán, yêu cầu vốn ban đầu không nhiều
cho nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò, tác dụng rất lớn trong việc thu
hút các nguồn vốn nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư đầu tư vào sản xuất kinh
doanh. Do đó, góp phần khai thác, phát huy các nguồn lực và tiềm năng tại chỗ
của các địa phương, các nguồn tài chính của dân cư trong vùng
- Góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển địch cơ cấu kinh tế, đặc biệt với
khu vực nông thôn

thuận lợi để phát triển, tuy nhiên khó khăn thách thức đặt ra cũng không phải
Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
Thực trạng và giải pháp phát triển
Phạm Thị Thu Hồng A4 - K43A - KT & KDQT
23
là ít. Xem xét, đánh giá năng lực hội nhập của khu vực doanh nghiệp vừa và
nhỏ sẽ giúp chúng ta thấy được phần nào năng lực hội nhập của toàn bộ nền
kinh tế đất nước, từ đó có thể đưa ra đường lối cũng như chính sách phát triển
phù hợp cho từng giai đoạn hội nhập của đất nước. Chính vì vậy tìm hiểu,
nghiên cứu và phân tích thực trạng năng lực hội nhập của khu vực doanh
nghiệp vừa và nhỏ có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
Thực trạng và giải pháp phát triển
Phạm Thị Thu Hồng A4 - K43A - KT & KDQT
24
Chương 2: Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh
nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam thời gian qua
2.1. Bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Ngày nay, toàn cầu hóa đang là một trong những xu thế phát triển tất yếu
của quan hệ quốc tế hiện đại, đại diện cho xu thế này chính là việc các quốc
gia tiến hành mở cửa nền kinh tế và thực hiện tự do hoá thương mại. Khác với
hầu hết các quốc gia trên thế giới, nước ta không tiếp cận ngay tự do hóa
thương mại trên cơ sở đa phương (trong khuôn khổ WTO) mà bắt đầu xúc
tiến hội nhập từ các thỏa thuận khu vực với mục tiêu từng bước mở rộng hội
nhập toàn diện với nền kinh tế thế giới. Nước ta sẽ được hưởng lợi nếu như
các ngành kinh tế trong nước thiết lập được những liên kết chặt chẽ với các
ngành công nghiệp của các nước khác trong khu vực trên cơ sở phân công lao
động, chuyên môn hoá và thúc đẩy xuất khẩu ngoài khối. Ngày nay, nền kinh
tế Việt Nam đã hội nhập sâu rộng và trở thành bộ phận không thể tách rời của
kinh tế thế giới, đồng thời đã thực sự trở thành một nền kinh tế thị trường theo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status