Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ việt nam thực trạng và giải pháp phát triển - Pdf 39

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾVÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

-------***-------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp
vừa và nhỏ Việt Nam - Thực trạng và giải pháp phát triển

Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Thu Hồng
Lớp

: Anh 4

Khoá

: K 43

Giáo viên hướng dẫn :ThS Phan Thị Thu Hiền

Hà Nội, tháng 05/2008


Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
Thực trạng và giải pháp phát triển

LỜI NÓI ĐẦU
Doanh nghiệp vừa và nhỏ là một trong những khu vực doanh nghiệp có vị
trí quan trọng trong nền kinh tế của bất cứ một quốc gia nào, đặc biệt là đối

Do hạn chế về năng lực và kinh nghiệm nên bài viết của em sẽ không thể
tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, em mong nhận được sự góp ý, nhận xét
và chỉ bảo của các thầy cô giáo. Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô, đặc
biệt là cô giáo Phan Thị Thu Hiền đã hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành bài
khóa luận này.

Phạm Thị Thu Hồng

A4 - K43A - KT & KDQT 2


Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
Thực trạng và giải pháp phát triển

Chương 1: Tổng quan về các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt
Nam
1.1. Một số vấn đề lý luận về doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.1. Khái niệm
1.1.1.1. Trên thế giới
Không có một khái niệm chung nào thống nhất trên thị trường quốc tế về
các yếu tố cấu thành nên một doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng thông thường
khi nói đến doanh nghiệp vừa và nhỏ tức là nói đến cách phân loại doanh
nghiệp dựa trên độ lớn hay qui mô của các doanh nghiệp. Việc phân loại
doanh nghiệp vừa và nhỏ phụ thuộc vào loại tiêu thức sử dụng qui định giới
hạn các tiêu thức phân loại qui mô doanh nghiệp. Điểm khác biệt cơ bản trong
khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ giữa các nước chính là việc lựa chọn các
tiêu thức đánh giá qui mô doanh nghiệp và lượng hoá các tiêu thức ấy thông
qua những tiêu chuẩn cụ thể.
Mặc dù có những khác biệt nhất định giữa các nước về qui định các tiêu
thức phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ, song khái niệm chung nhất về doanh

số tài sản trị giá không quá 100.000 USD và tổng doanh thu hàng năm không
quá 100.000 USD.
- Doanh nghiệp nhỏ (Small enterprise): Có không quá 50 lao động,
tổng tài sản trị giá không quá 3 triệu USD và tổng doanh thu hàng năm không
quá 3 triệu USD.
- Doanh nghiệp vừa (Medium enterprise): Có không quá 300 lao
động, tổng tài sản trị giá không quá 15 triệu USD và tổng doanh thu hàng năm
không quá 15 triệu USD.
1.1.1.2. Tại Việt Nam
Dựa trên khái niệm chung về doanh nghiệp vừa và nhỏ và xem xét các
tiêu thức và giới hạn tiêu chuẩn được sử dụng trong phân loại doanh nghiệp
vừa và nhỏ trên thế giới kết hợp với điều kiện cụ thể, những đặc điểm riêng

Phạm Thị Thu Hồng

A4 - K43A - KT & KDQT 4


Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
Thực trạng và giải pháp phát triển
biệt về quan điểm phát triển kinh tế nhiều thành phần và các chính sách, qui
định phát triển kinh tế của nước ta, chúng ta có thể nêu ra khái niệm như sau:
Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam là những cơ sở sản xuất - kinh
doanh có tư cách pháp nhân, không phân biệt thành phần kinh tế, có quy mô
về vốn hoặc lao động thoả mãn các qui định của chính phủ đối với từng
ngành nghề tương ứng với từng thời kỳ phát triển của nền kinh tế.
Theo nghị định số 90/2001/ND-CP ngày 23/11/2001 thì doanh nghiệp vừa
và nhỏ được định nghĩa như sau: "Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản
xuất, kinh doanh theo pháp luật hiện hành có vốn đăng ký không quá 10 tỷ
đồng hoặc số lao động trung bình không quá 300 người".

200

Lĩnh vực thương mại và dịch

5 tỷ

250

500 triệu

50

nghiệp và xây dựng

nghiệp và hải sản

vụ
Trong đó doanh nghiệp nhỏ:

Nguồn: Những nội dung cơ bản về quản trị doanh nghiệp vừa và nhỏ, tháng
1/2002

Phạm Thị Thu Hồng

A4 - K43A - KT & KDQT 5


Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
Thực trạng và giải pháp phát triển
Theo cách chung nhất, phân loại doanh nghiệp phụ thuộc vào số người lao

A4 - K43A - KT & KDQT 6


Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
Thực trạng và giải pháp phát triển
1.1.2.1. Năng lực cạnh tranh
a. Lợi thế cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nói chung và của doanh nghiệp
vừa và nhỏ nói riêng là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với
đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để
thu lợi ngày càng cao hơn. Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp. Đây là các yếu tố nội
hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công
nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp… một cách riêng biệt
mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng
một lĩnh vực, cùng một thị trường. Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên
năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập được "lợi thế cạnh
tranh" với đối tác của mình. Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thoả mãn
tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách
hàng của đối tác cạnh tranh. Như vậy yếu tố đầu tiên để đánh giá năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp chính là "lợi thế cạnh tranh"
Thực tế cho thấy, không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy
đủ tất cả những yêu cầu của khách hàng. Thường thì doanh nghiệp có lợi thế
về mặt này và có hạn chế về mặt khác. Vần đề cơ bản là, doanh nghiệp phải
nhận biết được điều này và cố gắng phát huy tốt những điểm mạnh mà mình
đang có để đáp ứng tốt nhất những đòi hỏi của khách hàng. Những điểm mạnh
và điểm yếu bên trong một doanh nghiệp được biểu hiện thông qua các lĩnh
vực hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp như marketing, tài chính, sản xuất,
nhân sự, quản trị, hệ thống thông tin…Tuy nhiên, để đánh giá lợi thế cạnh
tranh của một doanh nghiệp, cần phải xác định được các yếu tố phản ánh lợi

Trong bối cảnh của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh
nghiệp vừa và nhỏ phải đối mặt với các đối thủ mới, các công ty xuyên quốc
gia, đa quốc gia có tiềm lực tài chính, công nghệ, kinh nghiệm và năng lực
cạnh tranh cao, phải cạnh tranh quyết liệt trong điều kiện thị trường toàn cầu
với những nguyên tắc nghiêm ngặt của định chế thương mại và luật pháp
quốc tế. Chính vì vậy mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam muốn tồn
tại và phát triển được thì không chỉ dựa vào nội lực của chính bản thân doanh
nghiệp mà phải tiến hành hợp tác, liên kết để mở rộng qui mô và tiềm lực tài
chính của mình ví dụ như tiến hành liên doanh với các công ty khác, thu hút
vốn đầu tư từ các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài, thực hiện đầu
tư ra nước ngoài,…
c. Hướng ra thị trường nước ngoài thông qua hoạt động xuất khẩu
Hiện nay, hội nhập đã trở thành một xu hướng tất yếu của tất cả các quốc
gia trên thế giới, vì vậy các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng không thể đứng
ngoài xu thế này. Các doanh nghiệp không chỉ bó hẹp phạm vi thị trường ở

Phạm Thị Thu Hồng

A4 - K43A - KT & KDQT 8


Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
Thực trạng và giải pháp phát triển
khu vực nội địa mà phải vươn ra thị trường nước ngoài, đưa hàng hoá dịch vụ
của mình đến với người tiêu dùng trên khắp thế giới. Hoạt động này xét một
cách cụ thể hơn chính là hoạt động xuất khẩu. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ
có thể tồn tại, phát triển lớn mạnh và đứng vững được trên thị trường hay
không chính là nhờ vào hoạt động này. Vì vậy mà đánh giá năng lực xuất
khẩu cũng chính là góp phần giúp các doanh nghiệp nhận biết được năng lực
cạnh tranh của mình đang ở mức độ nào và có thể theo kịp tiến trình hội nhập

vệ được thương hiệu còn khó hơn rất nhiều. Nếu doanh nghiệp không có
những biện pháp khẳng định thương hiệu của mình một cách hợp pháp như
đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, quyền sở hữu trí tuệ,… thì sớm muộn gì thương
hiệu đó cũng bị lạm dụng vào các mục đích xấu như sản xuất hàng giả, hàng
nhái, thậm chí khi thương hiệu bị đánh cắp thì hậu quả với doanh nghiệp còn
nặng nề hơn rất nhiều. Chính vì vậy, thương hiệu ảnh hưởng rất lớn đến năng
lực hội nhập của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
1.1.2.4. Khả năng tham gia vào các chuỗi giá trị sản phẩm toàn cầu
Trong quá trình phát triển của nền kinh tế thế giới đặc biệt là trong một
vài năm trở lại đây, xu hướng tham gia vào các “chuỗi giá trị toàn cầu” đang
trở nên rất phổ biến và chiếm ưu thế trong hoạt động kinh doanh quốc tế. Sở
dĩ như vậy là vì từ khi thực hiện nghiên cứu thị trường, mua nguyên vật liệu
đến khi phân phối sản phẩm hoàn chỉnh đến tay người tiêu dùng là cả một quá
trình lâu dài và phức tạp, bao gồm rất nhiều công đoạn. Do đó, hầu như không
có một doanh nghiệp nào kể cả các tập đoàn lớn đủ tiềm lực và khả năng đảm
nhiệm tất cả các công đoạn. Hơn nữa, việc phân chia quá trình này cho các
doanh nghiệp ở nhiều quốc gia thực hiện, mỗi doanh nghiệp chuyên về một
khâu nhất định sẽ tận dụng được lợi thế chuyên môn của các doanh nghiệp và
lợi thế của quốc gia, giảm những lãng phí về nguồn lực, tăng năng suất, hiệu
quả sản xuất. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ muốn hội nhập được thì cũng

Phạm Thị Thu Hồng

A4 - K43A - KT & KDQT 10


Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
Thực trạng và giải pháp phát triển
không thể đứng ngoài quá trình này. Đó là một yêu cầu tất yếu đối với tất cả
các doanh nghiệp chứ không chỉ riêng các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

là đổi mới về kinh tế. Cùng với việc xoá bỏ chế độ bao cấp, các doanh nghiệp
nhà nước và hợp tác xã đã ngày càng trở thành các pháp nhân kinh tế thực sự.
Kinh tế tư nhân được thừa nhận và khuyến khích phát triển thông qua hàng
loạt văn bản pháp lý do Quốc hội và Chính phủ ban hành đã tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần cũng
như các hộ kinh doanh cá thể ra đời và phát triển ngày càng mạnh mẽ. Cho
đến đầu những năm 90, các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam đã trở thành
một khu vực kinh tế có tầm quan trọng đặc biệt trong nền kinh tế Việt Nam.
Bên cạnh các doanh nghiệp tư nhân, các doanh nghiệp Nhà nước cũng là
một bộ phận quan trọng của khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đây là một
nét đặc thù riêng của khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam. Đối với
nhiều nước khi nói đến doanh nghiệp vừa và nhỏ, người ta thường quan niệm
đó là các doanh nghiệp khu vực tư nhân, còn đối với Việt Nam khi nói đến
các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam thì tiêu thức xác định không phải là
sở hữu mà là giới hạn qui mô về vốn và lao động.
Hiện nay, có khoảng 6000 doanh nghiệp Nhà nước và hơn 80% trong số
đó là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (có vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng và lao
động thường xuyên dưới 300 người). Nhà nước Việt Nam có chủ trương tạo
một sân chơi bình đẳng cho tất cả các thành phần kinh tế, ví dụ luật doanh
nghiệp được thông qua tại kỳ họp thứ năm Quốc hội khoá X đã được áp dụng
cho một bộ phận đáng kể các doanh nghiệp Nhà nước.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam, đặc biệt là khu vực tư nhân,
gần đây mới nhận được sự hỗ trợ từ phía Nhà nước. Vấn đề phát triển khu
vực doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam từ năm 2001 trở về trước chưa
được quan tâm đúng mức. Cho đến Nghị định 90/2001/CP-NĐ ngày

Phạm Thị Thu Hồng

A4 - K43A - KT & KDQT 12



A4 - K43A - KT & KDQT 13


Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
Thực trạng và giải pháp phát triển
d. Mặt bằng sản xuất
Doanh nghiệp vừa và nhỏ được hưởng các chinh sách ưu đãi trong việc
thuê đất, chuyển nhượng, thế chấp và các quyền khác về sử dụng đất đai theo
quy định của pháp luật.
e. Thị trường và tăng khả năng cạnh tranh
Các Bộ, ngành, uỷ ban nhân dân, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ
đạo, tạo điều kiện để doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận các thông tin về thị
trường, giá cả hàng hoá, trợ giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ mở rộng thị
trường, tiêu thụ sản phẩm.
Các địa phương trợ giúp việc trình bày, giới thiệu, quảng cáo, tiếp thị các
sản phẩm có tiềm năng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, để tạo điều kiện mở
rộng thị trường.
Chính phủ tạo điều kiện để các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia cung
ứng hàng hoá và dịch vụ theo kế hoạch mua sắm bằng nguồn ngân sách Nhà
nước; các Bộ, ngành địa phương có kế hoạch ưu tiên đặt hàng và các đơn
hàng theo hạn ngạch phân bổ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất hàng
hoá và dịch vụ bảo đảm chất lượng theo yêu cầu.
Chính phủ khuyến khích phát triển hình thức thầu phụ công nghiệp, tăng
cường sự liên kết giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ với doanh nghiệp khác
về hợp tác sản xuất, sản phẩm linh kiện, phụ kiện, phụ tùng, nhận thầu xây
dựng,... nhằm thúc đẩy chuyển giao công nghệ, mở rộng thị trường tiêu thụ
sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Thông qua các chương trình trợ giúp, Chính phủ tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp vừa và nhỏ đổi mới công nghệ, trang thiết bị, máy móc, phát

Chính phủ khuyến khích các tổ chức trong và ngoài nước trợ giúp các
doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc cung cấp thông tin, tư vấn, đào tạo nguồn
nhân lực.

Phạm Thị Thu Hồng

A4 - K43A - KT & KDQT 15


Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
Thực trạng và giải pháp phát triển
Chính phủ khuyến khích việc thành lập các “vườn ươm doanh nghiệp vừa
và nhỏ” để hướng dẫn, đào tạo doanh nhân trong bước đầu thành lập doanh
nghiệp.
1.2.2. Đặc trưng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
- Hình thức sở hữu: Có đủ các hình thức sở hữu: Nhà nước, tập thể, tư
nhân và hỗn hợp. Cả nước hiện có khoảng hơn 120000 doanh nghiệp vừa và
nhỏ, chiếm khoảng 96% tổng số doanh nghiệp. Nếu chỉ căn cứ vào tiêu chí
vốn thì doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm trên 80% doanh nghiệp nhà nước,
khoảng 95% tổng số doanh nghiệp ngoài quốc doanh (trong đó 99,19% doanh
nghiệp tư nhân; 95,79% hợp tác xã; 89,93% công ty trách nhiệm hữu hạn;
74,54% công ty cổ phần).
- Về hình thức pháp lý: Các doanh nghiệp vừa và nhỏ được hình thành
theo Luật doanh nghiệp và những văn bản dưới luật. Đây là những những
công cụ pháp lý xác định tư cách pháp nhân rất quan trọng để điều chỉnh hành
vi của các doanh nghiệp nói chung trong đó có doanh nghiệp vừa và nhỏ,
đồng thời xác định rõ vai trò của Nhà nước đối với các doanh nghiệp trong
nền kinh tế.
- Lĩnh vực và địa bàn hoạt động:
Đa số các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta hiện nay hoạt động trong

cạnh tranh yếu. Tuy nhiên có một số doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động
trong lĩnh vực chế biến nông lâm, hải sản có sản phẩm xuất khẩu với giá trị
kinh tế cao.
- Trình độ tổ chức quản lý và tay nghề của người lao động còn thấp
Lao động chủ yếu trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu là lao động
phổ thông, ít được đào tạo, thiếu kỹ năng, trình độ văn hoá thấp, đặc biệt là số
lao động trong các cơ sở kinh doanh nhỏ. Nhìn chung tỷ lệ lao động trong khu
vực ngoài quốc doanh có trình độ đại học rất thấp, trong đó chủ yếu tập trung

Phạm Thị Thu Hồng

A4 - K43A - KT & KDQT 17


Năng lực hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
Thực trạng và giải pháp phát triển
vào các công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần (hơn 80%). Ngoài ra,
phần lớn các chủ doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các doanh nghiệp mới thành
lập trong những năm gần đây chưa được đào tạo về quản trị kinh doanh, kỹ
năng quản lý kinh doanh còn non kém và thiếu kinh nghiệm.
- Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động độc lập, việc liên
doanh, liên kết còn hạn chế và gặp nhiều khó khăn.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam chưa thực sự nhận thức được
tầm quan trọng của việc liên kết với nhau để nâng cao tiềm lực tài chính cũng
như khả năng cạnh tranh của mình. Các hình thức liên doanh liên kết với các
công ty nước ngoài còn hạn chế, chủ yếu là dưới hình thức công ty Mẹ - công
ty Con. Tuy các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã tích cực tham gia vào các Hiệp
hội doanh nghiệp nhưng mức độ cũng như ý thức tham gia đóng góp của các
doanh nghiệp này đối với cộng đồng doanh nghiệp chưa cao. Đây là một hạn
ché rất lớn đối với quá trình tham gia hội nhập của các doanh nghiệp vừa và

chiếm một tỷ lệ đáng kể.
- Sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần quan trọng
trong việc giải quyết những mục tiêu kinh tế xã hội như tạo ra một số lượng
lớn việc làm cho dân cư, làm tăng thu nhập cho người lao động, góp phần
xoá đói giảm nghèo.
Xét theo luận điểm tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động,
thì khu vực này vươn xa hơn hẳn các khu vực khác, góp phần giải quyết nhiều
vấn đề xã hội bức xúc. Ở hầu hết các nước, doanh nghiệp vừa và nhỏ lại thu
hút nhiều lao động hoặc có tốc độ thu hút lao động mới cao hơn khu vực
doanh nghiệp lớn. Ở Việt Nam, cũng theo đánh giá của Viện nghiên cứu và
quản lý trung ương, số lượng lao động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong
các lĩnh vực phi nông nghiệp có khoảng 7,8 triệu người, chiếm khoảng 79,2%
tổng số lao động phi nông nghiệp và chiếm khoảng 22,5% lực lượng lao động
của cả nước.

Phạm Thị Thu Hồng

A4 - K43A - KT & KDQT 19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status