I.Ảnh hưởng của dân số tới y tế
1. Quy mô dân số ảnh hưởng đến mức y tế đầu tư kinh phí cho ngành y tế
- Dân số quá đông dẫn tới tình trạng thiếu việc làm, dư thừa lao động, nạn đói
kém, không đủ ăn, không có tiền khám chữa bệnh ở các cơ sở y tế , các khoản đầu
tư dành cho y tế hạn hẹp. Quy mô ngành y tế có tăng hay không phụ thuộc một
phần vào trình độ phát triển về kinh tế và xã hội, thu nhập quốc dân, chính sách
đầu tư cho y tế của chính phủ.
Theo thống kê về GDP( USD) của một số quốc gia:
2009 2010 2012
Xây-sen( Châu Phi) 847,4 973,4 1059,6
Mỹ 13898300 14419400 14991300
CHND Trung Hoa 4991256,4 5930629,5 7318459,3
Nhật Bản 5035141,6 5488416,5 5867154,5
Nhận thấy các nước châu phi có nền kinh tế kém phát triển, ngân khố hạn chế,liệt
vào danh sách nơi có nhiều nước nghèo nhất thế giới. Cho nên, các vấn đề phát
triển y tế như phương tiện phục vụ cho khám chữa bệnh, phòng bệnh và phục
hồi chức năng còn thiếu thốn.
Một số liệu đáng quan tâm so sánh các nước nghèo và nước giàu. Điển hình là
Sing-ga-po nước được mệnh danh là đất nước sạch nhất, có sự phát triển vượt
bậc về y tế cũng là nước thuộc nhóm nước giàu. Được biểu thị thông qua tỉ giá hối
đoái:
2005 2009 2010 2011
Ấn Độ Piu-Pi/USD 44,1 48,4 45,7 46,7
Cán cân
thương mại
USD -2039,9 -5182,1 -5408,2 -644,6
Sing-ga-po Đôla sing-ga-
po/ USD
1,7 1,5 1,4 1,3
Cán cân
thương mại
trên 7% trường hợp không xác định được rõ yếu tố chủ định hay
không. Tử vong do các nguyên nhân TNTT chiếm 12.8% trong tổng
số nguyên nhân tử vong trên quần thể và trong tổng số 20 nguyên
nhân tử vong hàng đầu thì TNTT chiếm 5 nguyên nhân. TNGT là
nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 2 trong toàn bộ các nguyên nhân
gây tử vong ở Việt nam và có ảnh hưởng rất lớn tới nhóm tuổi trong
độ tuổi lao động. Với các nhóm tuổi khác nhau thì TNTT là nguyên
nhân gây tỷ lệ tử vong chiếm một phần đáng kể.
2. Quy mô dân số ảnh hưởng đến hệ thống y tế
• Nhiệm vụ của hệ thống y tế là khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho
nhân dân. Vì vậy qui mô dân số quyết định số lượng y bác sỹ và số lượng cơ sở y
tế. Nếu ta gọi H là số lần khám và chữa bệnh của một người dân trong một năm
(cầu về dịch vụ y tế của một người dân). D là tổng số lượt người khám và chữa
bệnh trong năm đó (tổng cầu về dịch vụ y tế của một nước trong một năm). Ta có
D = P.H.
Rõ ràng,nếu H không đổi thì tổng cầu D tỷ lệ thuận với số dân (P) và gia
tăng theo tỷ lệ gia tăng của quy mô dân số. Mặt khác, dân số tăng quá nhanh sẽ
dẫn đến số lần khám và chữa bệnh của một người (H) tăng lên và do đó làm cho
tổng cầu (D) tăng lên.
Thống kê số cán bộ theo năm ( Đơn vị: nghìn người)
Năm 2009 2010 2011 2012
Bác sĩ 60,8 61,4 62,8 73,7
Y sĩ 51,8 52,2 54,2 58,7
Điều dưỡng 71,5 82,3 81,1 100,3
Hộ sinh 25 26,8 27,9 30,1
Một thông số đáng quan tâm : số bác sĩ tính trên 1 vạn dân
Năm 2005: 6,2
Năm 2009:7,1
Năm 2010:7,1
Năm 2011:7,1
Phi
CHDC
Công gô
0,71 142 0,651 144
Ni-giê 0,704 144 0,707 146
Tây Á Y-ê-
men
0,769 146 0,747 148
Châu
Âu
Thụy
Điển
0,049 1 0,055 2
Đan
Mạch
0,006 3 0,057 3
Hà Lan 0,052 2 0,045 1
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy sự chênh lệch về chỉ số giữa các quốc gia. Các
nước Châu Phi và Châu Á cao nhất có chỉ số gấp hơn 10 lần Châu Âu. Theo
quan điệm của người phương Đông cổ xưa, đều ưa chuộng sinh con trai để
lối dõi tông đường,làm trụ cột của gia đình. Họ sử dụng can thiệp của các
phương pháp y tế như: thuốc nam, thuốc tây, siêu âm, nạo phá thai. Mục
đích để sinh được con trai. Vì vậy tỷ lệ nam nhiều hơn nữ , dẫn tới tình
trạng bất bình đẳng giới. Cho nên top các nước đứng đầu về sự bất bình
đẳng này, có sự góp mặt của nước Châu Á . Tuy nhiên, với sự du nhập của
tư tưởng mới, lối sống hiện đại, chỉ số bất bình đẳng giới đang có xu hướng
giảm nhưng vẫn ở mức khá cao. Ngược lại, quan điểm lối sống thoáng, bình
đẳng nam nữ ở phương Tây, chỉ số rất thấp. Điển hình là Thụy Điển và Hà
Lan. Luôn giữ được ở vị trí số 1 và 2 về mức cân bằng giới tính.
• Phong tục tập quán lạc hậu ảnh hưởng rất lớn tới sự phân biệt giới tính
0,299 172 0,304 173
Châu Mỹ Mỹ 0,936 3 0,937 3
Đông Á Nhật Bản 0,91 11 0,912 10
Đông Nam Á Việt Nam 0,614 117 0,617 117
Châu Âu Nauy 0,953 1 0,955 1
Thụy Điển 0,915 8 0,916 8
Châu Đại
Dương
Ô-xtraylia 0,936 2 0,938 2
Niu-di-lan 0,918 6 0,919 6
Nhận Xét: Các nước châu phi có chỉ số phát triển con người thấp. Điều này cũng
một phần lý giải tại saao các nước châu phi có nhiều nước nghèo, tỷ lệ sinh và tỷ
lệ chết ở mức rất cao, y tế còn kém phát triển, khả năng chăm sóc bản thân, giữ
gìn vệ sinh còn kém, tạo điều kiện cho bệnh dịch tăng cao, ảnh hương tới sự suy
giảm dân số hay nguyên nhân gia tăng dân số do không biết áp dụng các biện
pháp kế hoạch hóa gia đình, các biện pháp ngăn ngừa sinh con ngoài ý muốn.
Điều này ngược lại hẳn với các nước phát triển. điển hình là các quốc gia Châu
Âu. Châu lục có số nhóm nước đạt chỉ số phát triển con người cao nhất thế giới
như: Nauy, Thụy Điển, Đức ( xếp thứ 5), Hà Lan( xếp thứ 4), Ai-len(xếp thứ 7) năm
2012
KL: Chỉ số phát triển con người cũng như trình độ học vấn ảnh hưởng đến việc
làm có thu nhập cao hay thấp, sẽ ảnh hưởng đến thói quen cũng như nhu cầu sử
dụng các dịch vụ y tế. Việc sử dụng đến đầu ra của tình trạng sức khỏe, đó là tỷ lệ
mắc bệnh, tỷ lệ tàn tật, tử vong và tuổi thọ
4. Tác động của phân bố dân cư đến hệ thống y tế
• Ở các khu vực địa lý khác nhau như đồng bằng, miền núi, thành thị, nông
thôn có sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, về kinh tế - xã hội nên có cơ cấu
bệnh tật khác nhau.
Ví dụ: ở vùng đồng bằng, vùng ven biển miền Bắc Việt Nam
T.P Hồ
Chí Minh
23893 22912 61 400 400
Bắc Cạn 1044 770 30 244
5. Mức độ sinh ,chết ảnh hưởng tới chăm sóc y tế
Mức sinh, chết là một chỉ báo tốt nhất phản ánh chất lượng y tế, chăm sóc
dân cư và sự quan tâm của chính phủ với người dân.
• Thống kê năm 2012:
Quốc Gia Tỷ lệ
sinh(%)
Tỷ lệ
Chết(%)
Tăng dân số
tự nhiên
Tuổi
thọ
Nam Nữ
Tây Phi Xê-nê-gan 39 16 2,5 47 47 48
CHDC
Công gô
45 17 2,8 48 47 50
Châu Á Sing-ga-
po
10 4 0,5 82 79 84
Nhật Bản 9 10 -0,2 83 80 86
I-xra-en 21 5 1,6 82 80 83
Châu Thụy Điển 12 10 0,2 82 80 84
Ai-xlen 14 6 0,8 82 80 84
Việt Nam 17 7 1 73 70 76
Nx:
Quốc, đã nhận định, nếu không giảm nhanh mức sinh, thì “chúng ta sẽ không thể
phát triển kinh tế và nâng cao mức sống của nhân dân”. Và khi quốc gia đông dân
nhất này bắt đầu áp dụng chính sách 1 con độc nhất vô nhị trên thế giới. Trên
thực tế, Trung Quốc đã vươn mình mạnh mẽ để trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế
giới. Chính sách 1 con, giúpTrung Quốc giảm áp lực trên các phương diện xã hội,
kinh tế và môi trường do dân số quá lớn và cho phép các gia đình tiết kiệm một
lượng đáng kể tiền bạc. Theo Nhân dân Nhật báo , nước này đã giảm được tới 400
triệu ca sinh mới trong khoảng thời gian từ năm 1979 cho đến 2011, và làm “trì
hoãn NgàyThế giới đạt 7 tỷ người tới 5 năm”. Nếu không có chính sách 1con, tờ
báo viết, dân số Trung Quốcđã đạt 1,7 tỷ người thay vì 1,3 tỷ người. Ấn bản Nhân
dân Nhật báo điện tử ngày28/10/2011 khẳng định Trung Quốc vẫn coi chính sách 1
con là chính sách quốc gia cơ bản và vẫn sẽ giữ chính sách này trong một thời gian
dài. Một panô tuyên truyền về chính sách kế hoạch gia đình ở Trung Quốc (ảnh:
io9)
Bên cạnh những mặt lợi, Trung Quốc đang và sẽ đối mặt với nhiều hệ lụy từ chính
sách này. Tác giả Dvorsky cũng cho rằng, chính sách 1 con của
Trung Quốc đã làm nảy sinh nhiều vấn đề không lường trước được. Trung Quốc
phải đối mặt với nhiều thách thức trong thời gian tới. Nhiều bé gái không có cơ hội
ra đời hoặc sống sót. Tư tưởng trọng nam khinh nữ đã khiếnTrung Quốc bị mất
cân bằng giới tính nghiêm trọng như hiện nay. Tâm lý người Trung Quốc thể hiện
ở việc 1 tỷ lệ lớn gia đình mong muốn sinh con trai. Chính nét tâm lý này là
nguyên nhân quan trọng khiến chính sách 1 con, vốn không liên quan gì đến phân
biệt giới tính, trở thành tác nhân gây mất cân bằng giới tính trầm trọng cho
Trung Quốc.
• Nạn phá thai nhi nữ và giết hại, bỏ rơi các bé gái sơ sinh (trong trường
hợp trót sinh do không xác đinh được giới tính từ trước) nhằm đạt được mục
đích có được con trai mà vẫn chỉ có 1 con.
Một số hình ảnh thương tâm:
hiện tượng đã được giới quan sát ghi nhận là vấn đề “4-2-1”.
Không có anh chị em, những đứa trẻ con 1 của Trung Quốc trong tương lai sẽ phải
chăm sóc cho 2 bố mẹ (2), và có thể cả 2 ông bà bên đằng nội cộng với 2 ông bà
bên đằng ngoại (4).Theo BBC, vào năm 2050, hơn một phần tư dân số Trung Quốc
sẽ là trên 65 tuổi, đồng nghĩa với việc thế hệ trẻ sẽ đối diện với gánh nặng chăm
sóc lớnchưa từng thấy.
Ngoài “4-2-1”, trẻ em Trung Quốc còn gặp phảimột thực trạng nữa mà một số nhà
tâm lý học gọilà hội chứng “tiểu hoàng đế”. Do là con một nên các em có xu
hướng được cưng chiều. Vì không có anh/chị/em nên có thể sẽ gặp khó khăn trong
việc hòa nhập với xã hội. Thực tế đã có không ít ý kiến cho rằng những đứa trẻ như
thế này dễ vô kỷ luật
và kém thích ứng. Mặc dù chưa có nghiên cứu khoa học về vấn đề
này, nhưng Dvorsky cho rằng bản thân ý tưởng tạora 1 đất nước gồm toàn những
người không có anh chị em ruột đã có 1 cái gì đó không ổn lắm và có thể sẽ làm
giảm sự đa dạng các kiểu loại nhân cách./.
7. Hôn nhân ảnh hưởng tới y tế
• Độ tuổi kết hôn, hình thaí hôn nhân, tuổi kết hôn trung bình lần đầu ảnh
hưởng tới SKSS và SKTD. Các Dịch vụ chăm sóc SKSS và SKTD là cần thiết,
để đảm bảo làm mẹ an toàn và nâng cao cuộc sống.
• Thống kê năm 2009,tuổi kết hôn trung bình của người việt nam: 22,8 tuổi
với nữ và 26,2 tuổi với Nam.
Tuy nhiên tình trạng số bà mẹ trẻ trong độ tuổi vị thành niên đang có xu hướng
tăng cao. Đây là hậu quả do kinh tế kém phát triển, ý thức giáo dục, , các tệ nạn
xã hội như hiếp dâm Điển hình là Trung Quốc, số bà mẹ nhí đang có xu hướng
tăng, dẫn tới tình trạng kém hiểu biết về kiến thức y tế chăm sóc cho bản thân và
trẻ.
II. TÁC ĐỘNG CỦA Y TẾ ĐẾN CÁC QUÁ TRÌNH DÂN SỐ
1. Y tế tác động tới mức sinh
• Những thành tựu của ngành y tế có thể làm đảo lộn quá trình sinh sản
truyền thống của loài người. Việc chữa bệnh vô sinh cho ra đời những đứa trẻ
đang có xu hướng giảm do sự giúp sức của y tế. Trẻ em được têm phòng
các bệnh như: sởi, lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván
Các bà mẹ được chăm sóc tốt hơn, sử dụng các sản phẩm bồi bổ sức khỏe.
Một ví dụ điển hình 50000 vỏ sữa được các sinh viên Tây ban Nha xây
dựng thành một tòa lâu đài độc nhất vô nhị thể hiện việc cần quan tâm tới
dinh dưỡng của các bà mẹ.
Y tế giúp giảm thiểu số người chết thông qua việc hiến tặng, ghép
nhân tạo.
Vd: về sự tốt bụng của 1 em bé trước khi chết muốn hiến tặng các bộ
phậ n của cho các bệnh nhân xấu số khác.
Tuy nhiên điều này cũng làm gia tăng các tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật
như chợ đen, các vụ cướp nội tạng người đang nhức nhối trên các thông tin
đại chúng hiện nay.
• Tuổi thọ của Nhật cao nhất thế giới và thuộc cơ cấu dân số già, có tỷ lệ gia
tăng dân số ở mức âm. Điều này phản ánh chính sách phúc lợi xã hội , y tế
tiên tiến , là minh chứng cho những thức ăn bổ dưỡng, văn hóa ẩm thực
tinh tế của người nhật
Vậy điều gì khiến Nhật có tuổi thọ cao như vậy.Chúng ta cùng nghiên cứu về các
giaó dục trẻ ở trương mầm non của nhật bản:
-Cần nhiều túi để tới trường
-Xác túi mà không được sự giúp đỡ từ người lớn
-Thay quần áo lien tục( Đồng phục tới trường, đồng phục để vui chơi, tới sân thể
dục phải thay giày, thay quần áo sau giấc ngủ vào buổi chiều
- Học thói quen ngăn nắp chỉ sau 2,3 tuổi
-Mặc quần sóc vào mùa đông
→kết quả là trẻ có sức khỏe vô cùng tốt. Chưa đầy 1 tuổi chúng có thể thi đấu thể
thao, có thể đi bộ suốt 4,5 cây số mà không mệt, chạy bộ rất nhanh.
3.Y tế ảnh hưởng tới chất lượng dân số
• Sức khoẻ là vốn quý của con người. Giữ gìn sức khoẻ, bảo vệ và chăm sóc
sức khoẻ là nhiệm vụ của mỗi người và toàn xã hội. Sức khoẻ của mỗi người
dài của trẻ em trong quá khứ. Ở Việt Nam, theo kết quả điều tra mức sống dân cư
1997- 1998 (ĐTMS 1998) trong số trẻ em từ 0-5 tuổi, có 41,5% có chiều cao thấp
so với tuổi, 40,1% có cân nặng theo tuổi thấp hơn chuẩn. Tỷ lệ này đã giảm xuống
còn 29,2% và 17,5% vào năm 2010 (Thống kê y tế, 2010). Chỉ số khối lượng cơ thể
(BMI) = cân nặng/ chiều cao2 và tỷ lệ người béo/ gầy là một vấn đề liên quan tới
sức khoẻ và bệnh tật đang được nhiều người quan tâm hiện nay. Chỉ có 48,2% có
chỉ số BMI bình thường. Nước ta chỉ có 5,2% người béo, 18,4% người gầy và 3,5%
quá gầy, chưa kể đến 24,1% số người hơi gầy. Tỷ lệ trẻ sơ sinh thấp cân là 5,5% và
9,6% trẻ em từ 0-10 tuổi không được tiêm bất cứ loại văc-xin nào. Chi tiêu thực tế
bình quân một đầu người cho chăm sóc y tế là 714,6 nghìn đồng/ năm, chiếm
5,4% tổng chi tiêu (ĐTMS 2010)