Chuyên đề môn dân số phát triển - Những yếu tố ảnh hưởng đến mức sinh - Pdf 13

NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC SINH
I. Khái niệm mức sinh
● Mức sinh: phản ánh khả năng sinh đẻ của người phụ nữ hay cặp vợ chồng.
Mức sinh đề cập đến số trẻ em sinh ra còn sống và thường được tính theo số
phụ nữ, vì nữ giới là người trực tiếp sinh con.
+ Khả năng sinh đẻ: là đề cập đến khả năng sinh lý của người phụ nữ, nam giới
hay cặp vợ chồng về sinh đẻ. Khả năng sinh đẻ muốn nói đến khả năng sinh lý,
sinh học mà người phụ nữ, đàn ông hay cặp vợ chồng có thể sinh ra được ít nhất
một người con còn sống. Đối lập với khả năng sinh đẻ là vô sinh (không có khả
năng sinh đẻ).
● Mức sinh đẻ tự nhiên, sinh học: phản ánh số con có thể sinh được tối đa
theo khả năng sinh lý, sinh học của người phụ nữ, đàn ông hay cặp vợ chồng
trong suốt thời kỳ sinh sản của mình nếu để cho họ quan hệ tình dục một
cách thoải mái mà không có một sự can thiệp hoặc tác động ý thức nào của
chủ thể và xã hội, dù sự can thiệp đó vì mục đích gì. Như vậy, mức sinh sinh
học đề cập đến số con tối đa lý thuyết có thể có được theo khả năng sinh lý,
sinh học của phụ nữ, nam giới hay cặp vợ chồng.
● Mức sinh thay thế: Đề cập đến số con mà một người phụ nữ hay một cặp vợ
chồng trong suốt cuộc đời sinh sản của mình cần có được đủ để thay thế cả
bố lẫn mẹ, tiếp tục tham gia vào quá trình tái sinh sản giản đơn trong những
thế hệ sau
II. Các nhóm nhân tố ảnh hưởng tới mức sinh
1. Nhóm 1: Các yếu tố thuộc về tự nhiên - sinh học, môi trường, nòi giống
1. Ảnh hưởng của tự nhiên sinh học tới mức sinh
● Sinh đẻ là hiện tượng mang tính chất sinh học tự nhiên. Nếu xã hội không ai
chấp nhận KHHGĐ và kiểm soát mức sinh thì sự sinh đẻ tự nhiên là yếu tố
duy nhất tác động trực tiếp đến mức sinh. Việc sinh đẻ ở đây bị chi phối bởi
bản năng sinh học tự nhiên của con người.
● Khả năng sinh lý-sinh học của con người quyết định sinh đẻ được hay
không, sinh nhiều hay ít, mức sinh cao hay thấp…
● Nhóm tuổi 20-35 là nhóm tuổi sức sinh đẻ rất lớn.

- Thứ hai: thu nhập tăng sẽ đảm bảo điều kiện vật chất giúp người dân có thể
nuôi thêm nhiều con hơn, khích thích sự gia tăng mức sinh.
1. Ảnh hưởng của phát triển kinh tế tới mức sinh
1. Tăng trưởng kinh tế
+ Tăng trưởng kinh tế, nâng cao thu nhập,tạo tiền đề vật chất cho việc giảm sinh
một cách bền vững. do mỗi gia đình, mỗi cặp vợ chồng đều mong ước có một số
lượng con nhất định. Tăng trưởng kinh tế, nâng cao thu nhập có điều kiện vật chất
để khống chế mức chết, tiền đề cho việc giảm mức sinh một cách vững chắc, nên
nếu mức chết đặc biệt là mức chết đối với trẻ em thấp, người dân không phải sinh
đẻ nhiều để dự phòng rủi ro. Do vậy khống chế mức chết tạo điều kiện thuận lợi
cho điều tiết mức sinh.
+ Tăng trưởng kinh tế dẫn đến quá trình độ thị hóa dẫn đến tỷ trọng dân cư nông
thôn giảm, dân cư thành thị tăng làm cuộc sống đô thị gặp nhiều khó khăn như: nhà
ở, giá cả đắt đỏ, chi phí học tập,y tế, chăm sóc, các dịch vụ khác. Môi trường, điều
kiện thành phố trở lên không thích hợp với gia đình đông con. quan điểm, nhận
thức, hành vi sinh đẻ của người dân thay đổi.
+ Tăng trưởng kinh tế cùng với kế hoạch hóa gia đình,kinh tế phát triển tạo điều
kiện cho nhà nước, địa phương đầu tư nhiều hơn về nhân, tài, vât lực cho chính
sách dân số và kế hoạch hóa gia đình( DS-KHHGD) triển khai sâu rộng, cung ứng
dịch vụ đầy đủ, kịp thời tạo điều kiện cho người dân đặc biệt là phụ nữ chủ động
sinh đẻ.
2. Vấn đề việc làm
+ Kinh tế phát triển ,quy mô mở rộng, chỗ làm việc được tạo ra nhiều việc làm cầu
tăng, tìm kiếm việc làm thuận lợi ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi của người
dân, mức sinh có xu hướng tăng và ngược lại.
+ Tạo nhiều việc làm thủ công, đơn giản yêu cầu mặt kĩ thuật thấp, có khả năng
và dễ dàng thu hút lao động trẻ em sẽ tạo động lực sinh nhiều con khuyến khích
việc gia tăng mức sinh. Ngược lại kinh tế cao đòi hỏi chuyên môn, nghiệp vụ đồng
nghĩa qua đào tạo. Tìm việc làm khó khăn thì đông con trở thành gắng nặng cho
gia đình nên gia đình không muốn, dám sinh con.

tượng có nhu cầu. Nếu chất lượng của các dịch vụ tốt thì số người sử dụng
BPTT sẽ tăng lên và ngược lại. Để tác động trực tiếp đến mức sinh có các
giải pháp về kinh tế, giáo dục, tuyên truyền, hành chính, pháp luật song nó
chỉ tác động vào ý thức con người chỉ khi họ sử dụng BPTT mới có thể chủ
động hạn chế số lần sinh, khoảng cách sinh giữa các lần thực hiện kế hoạch
hóa gia đình mới giảm được mức sinh.
● Công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em được tăng cường làm giảm mức
chết ở trẻ sơ sinh cũng gián tiếp góp phần làm giảm mức sinh. Như vậy
muốn giảm mức sinh phải phát triển hệ thống y tế nói chung và hệ thống
chuyên ngành dịch vụ kế hoạch hóa gia đình nói riêng.
3. Bình đẳng giới
Bình đẳng giới xác lập, nghĩa vụ chăm sóc bố mẹ là của cải con trai, con
gái. Cha mẹ không cần phải cố sinh con trai để trông cậy lúc về già, vấn
đề kéo dài dòng họ, thờ cúng tổ tiên sẽ do cả nam và nữ đảm nhận, thì
các bậc cha mẹ không có ý nguyện sinh nhiều hay ít con trai để nối dõi
tông đường.
+ Sự bất bình đẳng thể hiện phụ nữ có ít cơ hội học tập, cao trình độ dẫn đến
chỉ làm những công việc phổ thông, ảnh hưởng đến hành vi sinh đẻ. Trình độ
thấp,phụ nữ thường chỉ gánh vác công việc nội trợ, chăm sóc con cái, ít có cơ hội
hưởng phúc lợi xã hội. Không có trình độ hiểu biết nên họ không tự mình quyết
định tất cả các vấn đề liên quan đến cuộc sống của họ như: quyết định số con, thời
điểm sinh con, khoảng cách giữa các lần sinh
Nhận xét: quỹ đạo chung theo xu hướng: mức sống nâng cao, khả năng sinh đẻ tự
nhiên tăng lên,song mức sinh mong muốn đều có xu hướng giảm. Nhưng tăng
trưởng kinh tế và mức sống phải đạt đến một ngưỡng giới hạn nào đó thì biến đổi
mức sinh mới diễn ra và đúng với quỹ đạo của nó.
3. Nhóm 3: Các yếu tố thuộc về nhân khẩu học
1. Tử vong ảnh hưởng tới mức sinh
Sinh đẻ và tử vong có mối quan hệ khăng khít và gắn bó mật thiết với nhau.
Mức độ tử vong ảnh hưởng đến mức sinh qua một số cơ chế. Thứ nhất ảnh hưởng

cân đối về giới tính thì nơi đó mức sinh thường cao và ngược lại.
+Ở đâu người dân có điều kiện tiếp cận với giáo dục thuận lợi,trình đọ học vấn và
nhận thức về xã hội cao,ở đó thường có mức sinh thấp
4. Hình thức và chế độ hôn nhân gia đình.
Hình thức và chế độ hôn nhân gia đình cũng ảnh hưởng đến mức sinh, như:
tuổi kết hôn trung bình lân đầu cao hay thấp; tỉ lệ phụ nữ đang có chồng
trong độ tuổi sinh đẻ; mức độ kết hôn ở các độ tuổi trẻ, tảo hôn; tỉ lệ phụ nữ
ly hôn, ly thân, góa sống xa chồng, tái kết hôn; tỉ lệ phụ nữ sống độc thân
vĩnh viễn; độ dài thời gian sống trong hôn nhân hoặc có hoạt đông tình dục;
gia đình truyền thống,gia đình hiện đại; tập tục đa phu, đa thê… đều ảnh
hưởng không nhỏ đến mức sinh.
4. Nhóm 4: Các yếu tố thuộc về văn hóa truyền thống, tâm sinh lý, phong tục
tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng…
● Trình độ văn hóa biểu hiện qua cách cư xử của con người với nhau, với xã
hội, hay thông qua sự hiểu biết, học hỏi, giáo dục, nhận thức từ các quá trình
nhận thức như quá trình tri giác, quá trình học tập, giao tiếp. Vì vậy, nó tác
ảnh hưởng rất lớn đến mức sinh đẻ
Vd: Được học tập, giáo dục tốt làm trình độ học vấn cao nhận
thức được độ tuổi kết hôn nào là hợp lý cho gia đình, công việc của mình, học biết
sử dụng các biện pháp tránh thai có hiệu quả, họ biết chăm sóc bản thân mình và
con một cách an toàn khỏe mạnh.
Hay trình độ văn hóa giúp cách ứng xử của mỗi thành viên trong gia đình một
cách công bằng, văn minh hơn. Người chồng có thể không những là trụ cột trong
gia đình với những công việc quan trọng mà còn chia sẻ những công việc gia đình,
họ thông cảm với người phụ nữ khi đi ra ngoài xã hội.
● Phong tục tập quán tâm lý xã hội cũ ảnh hưởng đến mức sinh như tâm lý
muốn sinh nhiều con, gia đình đông con, tư tưởng trọng nam khinh nữ, tâm
lý thích con trai để nối dõi tông đường, truyền dòng tiếp giống, thờ phụng
cha mẹ, nương tựa tuổi già, phong tục kiêng kỵ, quan niệm hôn nhân kết hôn
sớm. Nó xuất hiện tồn tại ở các nước phát triển kinh tế thấp văn hóa lạc hậu.

tế phát triển, nâng cao đơif sống cho người dân. Ở nước ta biện pháp kinh tế
chỉ quan tâm đến thưởng phạt để khuyến khích hoặc giảm mức sinh.Tuy
biện pháp này không phải chủ yếu, lâu dài nhưng có tác động nhất định cho
việc điều tiết mức sinh.
● Biện pháp hành chính: Dùng biện pháp hành chính đối với những người
không chấp nhận hoặc các mục tiêu của chương trình. Đây là biện pháp nhất
thời khi ý thức của người dân chưa cao.Người ta phản đối đây là biện pháp
cưỡng chế, nhưng nhờ chính sách này mà mức sinh giảm
● Biện pháp kỹ thuật: phụ thuộc vào từng trường hợp mà sử dụng các biện
pháp kỹ thuật khác nhau như để có thai hoặc tránh thai, tránh sinh. Nhờ biện
pháp này mà giảm mức sinh đáng kể.
III. Liên hệ thực tế và các yếu tố ảnh hưởng tới mức sinh của Việt Nam
1. Xu hướng mức sinh ở Việt Nam:
Xu hướng dân số Việt Nam trong các năm gần đây:
Theo kết quả Tổng điều tra dân số 2009 có nhận xét các xu hướng chung của Việt
Nam từ 1999-2009 như sau:
1.1 Mức sinh của nước ta liên tục giảm, tổng tỷ suất sinh đạt mức thấp nhất trong 2
thập kỷ qua
-Có sự khác biệt mức sinh theo nơi cư trú ( thành thị/nông thôn),giữa các tỉnh ( Tây
Nguyên có tổng tỷ suất sinh cao nhất, tiếp là Trung du…)
=> Vùng với mức phát triển cao hơn, phụ nữ có trình độ học vấn cao sẽ có tổng tỷ
suất sinh thấp hơn.( do kinh tế nước ta những năm gần đây có những thay đổi…)
1.2 Mô hình sinh của phụ nữ chuyển từ “sớm” (1999) sang “muộn”(2009) => phụ
nữ nước ta có xu hướng sinh con muộn hơn so với 10 năm trước đây.( do kinh tế,
đời sống tốt hơn, tư tưởng kết hôn sớm dần dc từ bỏ, )
1.3 Phụ nữ sinh con thứ 3 tiếp tục giảm từ 2005-2009 nhưng vẫn ở mức tương đối
cao
-Có sự khác biệt rõ tỷ lệ sinh con thứ 3 theo 6 vùng kinh tế xã hội:Tây Nguyên cao
nhất, tiếp là Bắc Trung Bộ,
- Tỷ lệ phụ nữ có trình độ học vấn cao thì tỷ lệ sinh con thứ 3 càng thấp.

2.3 Các yếu tố thuộc về nhân khẩu học
● Rủi ro tử vong đối với trẻ em giảm xuống, khả năng sống sót của trẻ em,
nhất là những đứa con đầu lòng tăng lên, thì tâm lý và ý tưởng sinh đẻ
nhiều con hơn đê sự phòng sẽ dần được thủ tiêu, mức sinh thực tế sẽ
giảm xuống.
● Chính phủ đưa ra các chính sách khuyến khích và phổ cập giáo dục là
cho điều kiện giáo dục ngày càng thuận lợi, trình độ học vấn và nhận
thức về xã hội cao, dẫn tới mức sinh giảm.
2.4 Các yếu tố về văn hóa truyền thống, tâm sinh lý, phong tục tập quán, tôn
giáo, tín ngưỡng…
● Sự bình đẳng giới ngày càng được coi trọng, tỷ lệ lạo phá thai để chọn
giới tính cho con giảm dần.
● Trình độ văn hóa và giáo dục của con người cũng dần được nâng cao.
Phụ nữ tham gia và quá trình lao động, sản xuất và làm việc với cường độ
cao; nhu cầu học tập, du lịch vui chơi giải trí tăng lên. Tất cả những điều
đó là cho ý muốn đẻ nhiều con không còn phổ biến như trước nữa. Điều
này đã làm cho mức sinh giảm sút.
3. Dự báo mức sinh của Việt Nam
Do các biến phát triển ngày càng tăng, hội nhập quốc tế ngày càng sâu sắc, truyền
thông phát triển mạnh mẽ, chính sách KHHGĐ của Việt Nam đã trải qua hơn nửa
thế kỷ, mức sinh sẽ tiếp tục giảm sâu dưới ngưỡng mức sinh thay thế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status