Nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm hoá chất bảo vệ thực vật của các đơn vị trong tập đoàn hoá chất việt nam - Pdf 13


1
BỘ CÔNG THƯƠNG
TẬP ĐOÀN HOÁ CHẤT VIỆT NAM
o0o

BÁO CÁO TỔNG KẾT Đề tài:

Nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản
phẩm hoá chất bảo vệ thực vật của các đơn vị
trong Tập đoàn Hoá chất Việt Nam Chủ nhiệm đề tài: TS. Chử Văn Nguyên

Nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản
phẩm hoá chất bảo vệ thực vật của các đơn vị
trong Tập đoàn Hoá chất Việt Nam

(Thực hiện theo hợp đồng số 222.11.RD/HĐ-KHCN ngày 23 tháng 5 năm 2011 giữa Bộ Công
Thương và Tập đoàn Hoá chất Việt Nam)

Người thực hiện: TS. Chử Văn Nguyên, chủ nhiệm đề tài
KS. Nguyễn Hoàng Mai
KS. Trần Tiến Dũng
TS. Phùng Ngọc Bộ

Hà Nội, 12/2011


III.2.3 nh hng trong lnh vc gia cụng thuc BVTV thõn thin vi mụi trng 44
CHNG IV Thực trạng công nghệ sản xuất gia công thuốc bảo vệ
thực vật ở việt nam 55
IV.1 Năng lực Và CÔNG NGHệ sản xuất. 55
IV.1.1 Đánh giá khái quát. 55
IV.1.2. Sản lợng và giá trị sản xuất 55
IV.1.3. Máy móc thiết bị và trình độ công nghệ ngành thuốc bảo vệ thực vật: 59
IV.2 Công tác quản lý tiêu chuẩn chất lợng sản phẩm và bVMT68
IV.2.1 Công tác quản lý tiêu chuẩn, chất lợng sản phẩm 68
IV.2.2 Công tác quản lý môi trờng 68
CHNG V XUT CC GII PHP PHT TRIN NGNH BVTV VIT NAM N
NM 2020 70
KT LUN 79
TI LIU THAM KHO 80
PH LC 82 4
LỜI NÓI ĐẦU

Một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự tăng trưởng và hiệu quả hoạt
động SXKD của doanh nghiệp là coi trọng công tác khoa học công nghệ và coi khoa học
công nghệ là động lực của quá trình phát triển của doanh nghiệp.
Tập đoàn Hóa chất Việt Nam ngày càng tăng cường áp dụng các công nghệ và
thiết bị hiện đại, bước vào cạnh tranh bình đẳng khi đất nước hội nhậ
p vào thị trường khu
vực và thế giới. Nhiều công nghệ tiên tiến đã được tiếp nhận và khai thác có hiệu quả.
Trình độ đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và tay nghệ của công nhân ngày được
nâng cao.
Tuy nhiên, ngày nay dưới sự tác động đồng thời của những tiến bộ khoa học và

5
chế phẩm hạt phân tán trong nước - WG, v.v ) cũng đang được nghiên cứu và phát triển
mạnh mẽ.
Đối với các nhà sản xuất thuốc BVTV, việc áp dụng một công nghệ sản xuất có
hiệu quả liên quan đến nhiều yếu tố. Trong đó phải đáp ứng được đúng yêu cầu bảo vệ
cây trồng và mùa màng, yêu cầu về tập quán sử dụng, giá bán sản phẩm, cùng nhiều đòi
hỏi khác v
ề môi trường và một số quy định khác. Tuy nhiên chất lượng và sự phù hợp
của sản phẩm trên thị trường luôn luôn là yếu tố quyết định nhất đối với khả năng cạnh
tranh của sản phẩm.
Đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm hoá chất bảo vệ thực vật
của các đơn vị trong Tập đoàn Hoá chất Việt Nam ” được đặ
t ra nhằm mục đích nâng
cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm hóa chất BVTV cho các doanh nghiệp trong
Tập đoàn Công nghiệp Hóa chất Việt Nam, trên cơ sở định hướng phát triển sản phẩm và
định hướng phát triển công nghệ cho ngành.
Để đạt được mục tiêu đó, đề tài tiến hành thực hiện các nội dung sau:
- Khảo sát thực trạng và xu hướng sử dụng thuốc BVTV trong nước và thế giới.
-
Tổng quan hiện trạng công nghệ sản xuất thuốc BVTV và xu hướng phát triển
trên thế giới.
- Thực trạng công nghệ, gia công các sản phẩm thuốc BVTV ở Việt Nam.
- Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển các sản phẩm BVTV ở Việt Nam đến năm
2020.
Kết quả đề tài có thể làm cơ sở cho các doanh nghiệp sản xuất gia công thuốc
BVTV trong Tập đoàn Công nghiệp Hoá chất Việt Nam
định hướng trong việc xây dựng
kế hoạch dài hạn sản xuất, gia công các sản phẩm mới và đầu tư các công nghệ hiện đại,
thân thiện môi trường, nhằm nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm góp phần cải thiện và
ổn định thị trường thuốc BVTV trong nước thời gian tới.

nghiệp. Biện pháp phòng trừ tổng hợp bắt đầu hình thành.
Mặc dù vậy, thời gian này, nhiều loại thuốc BVTV mới có nhiều ưu điểm, an toàn
hơn đối với môi sinh môi trường, vẫn liên tục xuất hiện. Lượng thuốc BVTV được dùng
trên thế giới không những không giảm mà còn t
ăng lên không ngừng.
Từ 1990 đến nay: Vấn đề bảo vệ môi trường được quan tâm hơn bao giờ hết.
Chính phủ nhiều nước đòi hỏi các thuốc BVTV mới phải có hiệu quả cao với dịch hại,
nhưng an toàn với môi trường. Nhiều loại thuốc BVTV mới, trong đó có nhiều thuốc trừ
sâu bệnh sinh học, có hiệu quả cao với dịch hại, nhưng an toàn với môi trường ra đời.
Do hi
ểu biết kỹ hơn về bản chất của các chất hoạt động bề mặt, cộng với sự xuất
hiện nhiều chất phụ gia có nguồn gốc sinh học, và các kỹ thuật mới, đã cho phép nhiều
dạng thuốc BVTV mới rất an toàn, dễ sử dụng ra đời. Biện pháp hoá học đã được thừa

7
nhận. Tư tưởng sợ thuốc bvtv cũng bớt dần. Quan điểm phòng trừ tổng hợp dần hoàn
chỉnh và được phổ biến rộng rãi. Song biện pháp dùng thuốc BVTV vẫn chiếm ưu thế.
Hiện trạng sử dụng thuốc BVTV trên thế giới:
*Mặc dù sự phát triển của biện pháp hoá học BVTV có nhiều thăng trầm, song
tổng giá trị tiêu thụ thuốc BVTV trên thế giới tăng lên không ng
ừng, chủng loại ngày
càng phong phú. Hàng năm, trên thế giới có khoảng 1450 - 1500 hoạt chất thuốc BVTV.
Nhưng được dùng phổ biến và thường xuyên khoảng 350-400 hoạt chất.

Bảng 1- Giá trị sản lượng thuốc BVTV trong những năm gần đây
(Số liệu của FAO-2011)
Năm Tổng giá trị ( tỷ USD)
1992 22.00
1997 31.25
2003 33.00

( tỷ USD) 6,00 7,97 7,48 9,82 11,12
Tỷ lệ (%) 27,0 25,5 23,4 24.2 24,6
Châu Phi và Trung cận đông
( tỷ USD) 1,30 1,87 2,88 3,05 3,43
Tỷ lệ (%) 7,0 6,0 7,5 7,3 7,6

* Mức đầu tư về thuốc BVTV và cơ cấu tiêu thụ các nhóm thuốc tuỳ thuộc trình
độ phát triển và đặc điểm canh tác của từng nước. Trước những năm 1980, thuốc BVTV
được tiêu thụ chủ yếu ở các nước phát triển. Ngày nay, bên cạnh các nước phát triển, thì
các nước đang phát triển cũng tăng cường sử dụng thuốc BVTV.

Bảng 3 – Tình hình sử dụng thuốc BVTV tại một số
quốc giá năm 2007
(theo ADB- 2008)
Quốc gia Giá trị bình quân
USA/ha
Quốc gia Giá trị bình quân
USA/ha
Nhật 695,00 Thái lan 30,28
Pháp 108,00 Philippin 31,56
Mỹ 28,00 Indonesia 15,47
Brazil 16,86 Malaysia 25,08
Đài loan 83,80
Ấn độ 14,35
Trung
quốc

15,85

I.2 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC BVTV Ở VIỆT NAM

Nhưng tình trạng trên, đã gây khó cho công tác quản lý; cho người sử dụng và
việc hướng dẫn kỹ thuật dùng thuốc cũng bị trở ngại. Tình trạng lạm dụng thuốc, tư
tưởng ỷ lại vào thuốc BVTV đã để lại những hậu quả xấu cho sản xuất và sức khoẻ con
ng
ười. Nhiều người còn “bài xích” thuốc BVTV, tìm cách hạn chế, thậm chí đòi loại bỏ
thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp để thay thế bằng các biện pháp khác.
Tuy vậy, vai trò của biện pháp hoá học trong sản xuất nông nghiệp vẫn được thừa
nhận. Để phát huy hiệu quả của thuốc BVTV phải phối hợp hài hoà các biện pháp trong
hệ thống phòng trừ tổng hợp; sử dụng thuốc BVTV là giải pháp cuối cùng, khi các biệ
n
pháp phòng trừ khác sử dụng không hiệu quả.
Để quản lý được tốt thuốc BVTV, công tác đăng ký thuốc, một rào cản kỹ thuật
ngăn thuốc xấu vào Việt nam, được thực hiện từ năm 1992. Từ đó số chủng loại thuốc
được đăng ký ở Việt nam ngày càng nhiều (Bảng 4).
Năm 1992, khi mới thực hiên công tác đăng ký, chúng ta mới có 77 hoạt chất.
Nhưng đế
n năm 2010 con số này lên đến 1012 hoạt chất.
Bảng 4 – Số thuốc BVTV được đăng ký tại Việt Nam qua các năm
( Số liệu Cục Bảo vệ thực vật-2011)
Năm Số hoạt chất Số tên thương phẩm
Trước 1992 77 96
1992 96 159
1995 213 590
1997 246 784
2001 304 903
2003 366 1020
2008 744 2240
2009 986 2537
2010 1012 2762


Số tên thương phẩm

221
654

264
756

304
828
Thuốc trừ cỏ
Số tên hoạt chất
Số tên thương phẩm

130
400

151
449

160
474
Thuốc khác
Số tên hoạt chất
Số tên thương phẩm

96
220

201

8,10
2001 30 304
9,80

11
2003 51 366
13,93
2008 95 744
12,76
2009 98 986
9,90
2010 103 1012
10,70

Trong bảng 6, chúng ta thấy, số hoạt chất sinh học tăng lên nhanh lúc ban đầu;
nhưng về sau, tốc độ tăng chậm dần.
Trong những năm vừa qua, các thuốc BVTV sinh học đã có nhiều ý nghĩa trong
phòng trừ dịch hại ở Việt nam. Bởi các chế phẩm sinh học thế hệ mới có nhiều ưu điểm
hơn các thuốc thế hệ cũ, nhưng không làm mất đi ư
u điểm của các thuốc thế hệ cũ.
Một thành tựu nữa của công tác quản lý thuốc BVTV ở Việt nam là loại bỏ các
thuốc độc hại trong danh mục thuốc BVTV ở Việt Nam. Nhiều thuốc BVTV quá độc với
động vật máu nóng, tồn tại lâu trong môi trường, gây hại đến môi sinh, đã được loại bỏ
và thay vào đó là các thuốc an toàn và hiệu quả hơn. Cho đến nay, trong danh mục thuốc
cấm s
ử dụng gồm 21 thuốc và nhóm thuốc trừ sâu (trong đó có toàn bộ thuốc trừ sâu
thuộc nhóm chlor hữu cơ), 6 thuốc và nhóm thuốc trừ bệnh (chủ yếu các thuốc có thành
phần là kim loại nặng như As, Hg, các thuốc chứa selenium Se), 1 thuốc trừ chuột chứa
talium và 1 thuốc trừ cỏ.
Chúng ta cũng đã thành công trong việc quản lý thuốc hạn chế sử dụng. Từ 22

Song, trong công tác quản lý và thanh tra cũng còn có mặt yếu như: Thuốc giả,
thuốc chất lượng kém, thuốc ngoài danh mục, còn trôi nổi trên thị trường, đã gây thiệt hại
cho sản xuất, làm tổn thương đến lợi ích của người nông dân và làm mất lòng tin của
người tiêu dùng vào biện pháp này.
Mặc dù còn nhiều nhược điểm, song phải thừa nhận, công tác quản lý thuốc
BVTV trong thời gian qua, có hiệu quả. Có thể nói, cho đến nay, danh mục thuốc BVTV
ở Việt nam, thuộc vào danh sách của các nước tiên tiến trên thế giới.
Tình hình sử dụng thuốc BVTV ở Việt nam:
Thuốc BVTV là vật tư không thể thiếu được trong sản xuất nông nghiệp nói chung
và Việt nam nói riêng.Lượng thuốc BVTV được sử dụng tăng đều đặn qua các năm, cả về
số lượng và giá trị. Chi phí trên 1 ha canh tác cũng ngày càng tăng cao.Kết quả được thể
hiện qua các bảng 8 và 9.
Bảng 8 – Giá trị
thuốc BVTV nhập vào Việt Nam
( Số liệu Cục BVTV và báo Nông nghiệp Việt nam số 157 (3787))
Thời điểm Giá trị ( triệu USD)
Trước 1990 8,5
1990 9,0
1991 22,5
1992 24,5
1995 100,4
1997 126,0
1998 196,7
2000 158,0
2002 150,0
2003 166,0
2006 291,0
2007 352,0
2008 472,0
2009 488,0

1991 20,7 22,5 48,1 35,1 14,3
1992 24,4 24,1 43,8 37,0 17,1
1994 23,2 58,9 54,5 24,4 17,5
1996 32,8 124,2 42,9 29,8 23,2
1998 33,0 196,0 36,7 29,6 21,9
2000 33,6 201,3 39,1 30,0 23,0
2005 50,0 420,0 44,1 31,9 24,0
2009 77,7 720,5 41,2 32,3 23,5
(Nguồn: Cục BVTV – Bộ NN & PT nông thôn)
Thuốc BVTV sử dụng ở Việt Nam chủ yếu được nhập khẩu từ nước ngoài dưới
dạng thành phẩm. Phần lớn các doanh nghiệp trong nước chỉ gia công đóng gói nhỏ và
tiêu thụ. Theo số liệu thống kê của Vinanet.com.vn, kim ngạch nhập khẩu các sản phẩm
này trong 5 tháng đầu năm 2011 đạt trên 267,4 triệu USD, tăng 13,1 % so với cùng kỳ
năm 2010.
Tỉ lệ của các nhóm thu
ốc BVTV sử dụng tại Việt Nam cũng thay đổi đáng kể:
thuốc trừ sâu giảm dần từ 83,3% năm 1991 xuống còn 44.2 % năm 2009, trong khi đó
tỉ lệ thuốc trừ các loại bệnh, trừ cỏ gia tăng cả về chủng loại và khối lượng.
Nhu cầu về thuốc trừ cỏ ngày càng tăng, không chỉ ở đồng bằng, có điều kiện kinh
tế cao, mà cả
vùng sâu, miền núi . Nguyên nhân chính là do thiếu nhân lực, nên giá trị
ngày công ở nông thôn hiện nay khá cao so với thu nhập của nông dân.

14
10
20
30
40
50
60

Hà nam 6.11 3.86 9.96 3.50 1.00 4.50
Hà tây 7.68 4.13 11.81 3.25 1.51 4.76
Hải phòng 8.48 3.45 11.93 4.47 0.85 5.32
Hải dương 7.22 5.15 12.37 3.82 1.24 5.06
Trung bình 6.57 4.59 11.16 3.6 1.47 4.94

Trên rau và lúa, được nông dân đầu tư nhiều thuốc BVTV, đặc biệt là các thuốc
sinh học. Đây là chuyển biến về nhận thức rất tốt của nông dân. Họ thấy rằng, chỉ có

15
thuốc sinh học, mới cho phép họ thực hiện được thời gian cách ly, một biện pháp chủ
yếu, cho phép sản xuất rau an toàn và lương thực, thực phẩm sạch. Vì thế , thuốc sinh học
tuy có giá thành hơi cao, nhưng vẫn được nhân dân ưa chuộng. Tỷ lệ nông dân dùng
thuốc sinh học ngày càng tăng.
Theo số liệu của Viện Môi trường Nông nghiệp, trong năm 2007, để bảo vệ cho rau, số
lần phun thuốc bình quân / vụ củ
a người nông dân lên đến > 11 lần ( trong đó có 4,59 lần
dùng thuốc sinh học); tiền đầu tư cho thuốc BVTV lên đến > 2 triệu đồng/vụ ( bảng 11).
Bảng 11- Chi phí bình quân thuốc BVTV trên 1 ha rau/vụ năm 2007
(Viện Môi trường Nông nghiệp)
Loại thuốc đông/lần phun Số lần
phun/vụ
Thành tiền(đ)Tổng chi
Hóa học 123.000 6,57 808 110
Sinh học 260.000 4,59 1 193 450

2 001 560
Chú ý: Chưa kể công phun 15000 - 20000 đ/bình ( giá năm 2007)
Bên cạnh những thành công, biện pháp sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất nông
nghiệp, đã để lại nhiều hậu quả xấu cho môi trường: làm giảm tính đa dạng của sinh

hoại mùa màng là biện pháp quan
trọng, hiệu quả và không thể thiếu
được trong giai đ
oạn hiện nay vì tổn
thất hàng năm trên thế giới về các sản
phẩm nông nghiệp

do sâu bệnh và cỏ dại gây ra là đáng kể (15-50% do nấm bệnh và 20-35% do sâu hại, 15-
25% do cỏ dại).
2. Thị trường thuốc BVTV thay đổi theo nhu cầu sử dụng.
Thị trường các sản phẩm hóa chất phục vụ nông nghiệp toàn thế giới chủ yếu do 25
hãng sản xuất lớn nhất kiểm soát (chiếm
đến 90% doanh thu). Qua số liệu thống kê ở các
nước phát triển trong thời gian gần đây, thuốc BVTV chủ yếu đáp ứng cho các loại cây
lấy hạt như ngô, lúa, đậu tương…trong đó thị phần các loại thuốc diệt cỏ là lớn nhất
(48%), thị phần thuốc trừ sâu nhỏ hơn (28%) và thuốc nấm bệnh còn nhỏ hơn nữa (19%).
Điều này trái ngược với tình hình tiêu thụ thuốc BVTV trước
đây (thuốc từ sâu được sử
dụng nhiều nhất, thuốc trừ cỏ dại còn ít).
Trong số các sản phẩm liệt kê gần đây trong Pesticide Manual, có 881 hợp chất
BVTV khác nhau với 449 thuốc diệt cỏ, 191 thuốc trừ sâu và 114 thuốc diệt nấm. Trong
30 hoạt chất mới, có 20 chất tổng hợp hóa học [5]. Đối với thuốc diệt cỏ, ngoài
glyphosate với doanh thu ổn định hàng năm, các chất tác động theo phươ
ng thức ức
chế men acetolactate synthase (sulfonylurea,
imidazolinones, triazolopyrimidines, pyrimidinyl carboxylates…); ức chế hệ quang
hợp (các hợp chất 1,3,5-triazine, phenylurea, triazinones, pyridazinone,
phenylcarbamate, uracil và nitrile); các axit phenoxyalkanoic và chất ức chế men
acetylcarboxylase như aryloxyphenoxypropionate, cyclohexanedione,
phenylpyrazolines) vẫn giữ được thị phần đáng kể. Gần đây trên thị trường đã xuất hiện

động mới là kích hoạt tác nhân
thụ cảm acetylcholine nicotinic, nhưng khác với nicotin và neonicotinoids.
Ngoài ra, một số sản phẩm hết thời hạn đăng ký bảo hành cũng đã được các nhà sản
xuất khác khai thác mạnh nhằm cạnh tranh với công ty sở hữu bản quyền, tạo nên một thị
trường thuốc BVTV rất sôi động và đa dạng trong thời gian gần đây.
Theo dự báo của các chuyên gia, thị trường thế giới về thu
ốc phòng trừ dịch hại
năm 2011 tiếp tục tăng trưởng so với năm 2010, thể hiện qua Bảng 1 dưới đây: [1]
Bảng 12. Dự báo tăng trưởng thị trường thuốc phòng trừ dịch hại năm 2011 so với
2010 (%)

Khu vực
Thuốc
trừ cỏ
Thuốc
trừ sâu
Thuốc
trừ bệnh
Các loại
khác
Tổng
số
Sản
phẩm
sinh học
NAFTA
0,1 0,6 1,8 0,3 0,4 1,1
Mỹ La tinh
-0,7 0,4 4,2 1,6 0,9 3,2


năm. Theo s
ố liệu của Công ty Nghiên cứu thị trường Landell Mills của Anh năm
1995 ở Việt Nam, lượng thuốc BVTV sử dụng trên cây lúa chiếm 80,3 %, các cây
trồng khác chỉ chiếm 5 - 11% [6].
Tuy nhiên, cũng như các nước trên thế giới, hiện nay Việt Nam cũng đang gặp
phải những vấn đề nghiêm trọng về ô nhiễm môi trường, sức khỏe của người và cộng
đồng bị ảnh hưởng và sự thay đổi dầ
n hệ sinh thái theo hướng tiêu cực do sản xuất và
sử dụng một cách bừa bãi các hóa chất BVTV trong thời gian qua.
3. Vấn đề ô nhiễm môi trường và mất cân bằng sinh thái do thuốc BVTV gây ra:
Do các loại thuốc BVTV thường là các chất hoá có độc tính lớn nên mặt trái của
chúng là rất độc hại với sức khoẻ người và động vật máu nóng, đồng thời là đối tượng có
nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường sinh thái nếu không được quản lý chặt chẽ và sử

dụng đúng cách.
- Ô nhiễm môi trường và ảnh hướng tới sức khỏe cộng đồng:

19
+ Thực trạng tại Việt Nam: Trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam, các loại thuốc
BVTV đã được sử dụng từ nhiều năm trước đây. Tuy nhiên thời kỳ đó, do tình hình phát
sinh, phát triển của sâu hại, dịch bệnh diễn biến chưa phức tạp nên số lượng và chủng loại
thuốc BVTV chưa nhiều. Ngày đó do thiếu thông tin và do chủng loại thuốc BVTV còn
nghèo nàn nên người nông dân đã sử
dụng nhiều loại thuốc BVTV có độc tính cao, tồn
lưu lâu trong môi trường.
Những năm gần đây, do thâm canh tăng vụ và thay đổi cơ cấu giống cây trồng nên
tình hình sâu bệnh diễn biến phức tạp hơn. Vì vậy, số lượng và chủng loại thuốc BVTV
sử dụng cũng tăng lên. Việc tăng nồng độ thuốc, tăng số lần phun thuốc, dùng thuốc
BVTV không theo hướng dẫn, lạ
m dụng thuốc BVTV đã gây nên hiện tượng kháng


20
hệ thống xử lý chất thải (bao gồm khí thải, nước thải, chất thải rắn và bụi) chưa đạt các
tiêu chuẩn trước khi thải ra môi trường.
+ Hậu quả: Từ thực trạng nhập khẩu, sản xuất, gia công và sử dụng thuốc BVTV
của Việt Nam nêu trên trong những năm qua đã gây ra hậu quả tiêu cực tới sức khỏe con
người và cộng đồng. Theo ước tính của UNICEF, t
ỷ lệ tử vong qua việc tiếp nhiễm hóa
chất BVTV ở các quốc gia đang phát triển là rất cao (chiếm khoảng 1/2 tổng số trường
hợp tử vong trên thế giới, trong khi ở những nước công nghiệp phát triển chỉ chiếm 10
%). Các hoá chất độc hại tồn dư trong môi trường xâm nhập vào cơ thể trong một thời
gian dài qua hiện tượng tích lũy sinh học (bio-accumulation) sẽ ảnh hưởng và tạo nên
những b
ệnh mãn tính phức tạp ở người như ảnh hưởng tới hệ thần kinh, hệ nội tiết, hệ
sinh sản, hệ miễn dịch và có thể làm biến đổi gen, sinh ra quái thai và một số bệnh ung
thư như ung thư màng óc, ung thư máu, ung thư hạch bạch huyết
Tại Việt Nam, theo thống kê mới nhất của WHO, hàng năm có đến hơn 8 triệu
người bị nhiễm độc thực phẩ
m do hiện tượng tồn đọng dư lượng hoá chất độc hại, trong
đó có thuốc BVTV. Cụ thể, theo báo cáo của Cục Y tế dự phòng và Môi trường - Bộ Y
tế, năm 2007 Việt Nam có 4.670 vụ nhiễm độc thuốc BVTV với 5.207 ca, trong đó có
101 ca tử vong, một con số không nhỏ.
- Mất cân bằng sinh thái:
Ô nhiễm từ thuốc BVTV, sẽ “góp phần” làm thay đổi cân bằng sinh học (giảm số
lượng của nhóm sinh vật này và t
ăng số lượng nhóm sinh vật khác), hay nói cách khác,
gây mất cân bằng sinh học tự nhiên. Các thuốc trừ bệnh là chất độc đối với nấm và xạ
khuẩn trong đất. Một số thuốc khác lại ảnh hưởng lên hệ vi khuẩn. Thuốc BVTV tác
động nghiêm trọng và tiêu diệt hàng loạt vi sinh vật và động vật nhỏ nhạy cảm với thuốc.
Từ đó sẽ gây mất cân bằng sinh học trong đất một cách nghiêm trọng và kéo theo s

đều ảnh hưởng tới sức khỏe con người, gây ô nhiễm môi trường, làm mất cân bằng sinh
thái.
Vì vậy, việc sử dụng thuốc BVTV phục vụ nền nông nghiệp bền vững phải đi đôi
với bảo vệ sức khỏe cộng đồng và môi trường. Phòng chống ô nhiễm và suy thoái môi
trường do sản xuất, sử dụng thuốc BVTV phải được coi là mục tiêu của công tác
nghiên cứu, quản lư và sản xuất trong lĩnh vực đầy nhạy cảm này.
4. Nhu cầu áp dụng khoa học công nghệ
trong sản xuất các hóa chất BVTV
Thời gian gần đây, việc nghiên cứu tạo ra các hợp chất mới có hoạt tính sinh học
trong lĩnh vực BVTV bị thu hẹp đáng kể. Nếu như trước năm 1980 có hơn 60 công
ty triển khai công tác nghiên cứu và phát triển (R&D) thì đến năm 2004, số lượng này đã
giảm thông qua việc sáp nhập hoặc đơn giản là không tiếp tục. Ngày nay, chỉ có một số
công ty quan trọng triển khai trong lĩnh vự
c này là Monsanto, FMC, DuPont (Mỹ);
Bayer CropScience, BASF, Syngenta (các nước EU); Sumitomo, Nihon Nohyaku (Nhật
Bản)…
Có nhiều lý do liên quan đến việc giảm số lượng các công ty hóa chất quan tâm
đến nghiên cứu phát triển. Đó là thời gian, chi phí cho nghiên cứu, đăng ký và triển khai
sản phẩm ra thị trường hiện nay lớn hơn nhiều so với hai mươi năm trước đây (chi phí
khoảng 200 triệu USD và phải cần khoảng 10 năm từ khi phát minh ra chất mới đến khi
có sản phẩm đầu tiên đưa ra thị tr
ường). Quá trình này cũng đòi hỏi sự liên kết của nhiều
cơ sở nghiên cứu và các đơn vị sản xuất. Hơn nữa ngày nay vấn đề vệ sinh an toàn thực
phẩm đặt ra sự kiểm tra chặt chẽ các sản phẩm mới trong nông phẩm. Ngoài ra, ngày
càng có sự cạnh tranh gay gắt của các sản phẩm đang lưu hành…

22
Tuy nhiên, cần ý thực được tầm quan trọng của công tác phòng trừ dịch hại nhằm
tăng năng suất cây trồng. Ở đây, vấn đề là cần giải thích và chứng minh sự an toàn trong
việc sử dụng thuốc BVTV bằng những sản phẩm mới thân thiện với môi trường. Điều

Sumitomo
17 4*
DuPont
10 1
Monsanto
2 0
Các công ty Nhật Bản khác
45 20
Các công ty còn lại
19 9
Tổng số
196 58**
* Hợp tác với các công ty khác
** Một số sản phẩm được cấp phép lần 2 ở nước khác
Trong tương lai, chúng ta vẫn có thể tin tưởng rằng đầu tư cho nghiên cứu và phát
triển các hóa chất BVTV vẫn rất cần cho nông nghiệp và cuộc sống của người dân, ít nhất
trong vòng vài chục năm nữa.

23
CHƯƠNG II
CÁC DẠNG GIA CÔNG THÔNG DỤNG THUỐC BVTV TRÊN THẾ GIỚI

Khoảng 20 năm trở lại đây trong ngành nông hóa đã có nhiều thay đổi về công
nghệ: phát minh ra các hoạt chất mới, thay đổi phương pháp gia công, đóng gói và thay
đổi cách sử dụng. Đồng thời với những sự tiến bộ về công nghệ, người ta cũng thay đổi
cả những quy định trong quản lý sản xuất và sử dụng các loại thuốc bả
o vệ thực vật
(BVTV).
Trên thực tế, công nghiệp nông hóa đã đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế ở
nhiều nước. Hiện nay trên thế giới sự tăng dân số và sự đô thị hóa, công nghiệp hóa đang

24
trong các loại phụ gia này là các chất hoạt động bề mặt (HĐBM). Đây là các chất đóng
vai trò quan trọng làm chất phân tán và huyền phù hóa. Các chất HĐBM được biết trước
đây thường đi từ các chế phẩm tự nhiên (xà phòng). Tuy nhiên hiện nay các chất HĐBM
tổng hợp lại đóng vai trò chính trong lĩnh vực này. Trước đây, các chất HĐBM sunfat và
sunfonat với mạch cacbon dài đã được phát triển mạnh, đến cuối thế kỷ
20 còn ra đời một
số chất HĐBM có một số tính chất riêng do người ta đã thêm vào phân tử của chúng một
số nhóm chức đặc biệt. Ngoài ra các chất HĐBM non - ionic, với nhóm ưa nước chứa
nhóm chức etylen oxit, cũng được sử dụng nhiều. Nhìn chung, các chất HĐBM được
dùng để cải thiện tính thấm nước, tính phân tán, tính tạo nhũ và ổn định dung dịch trong
quá trình gia công chế biến các loại thuốc BVTV.
Các cơ s
ở gia công các chế phẩm thuốc BVTV hiện nay cũng còn phải chú ý đến
vấn đề bao gói, sao cho chế phẩm làm ra phải thực sự an toàn đối với người dùng. Liên
quan đến vấn đề này, các vấn đề như tráng rửa và thải bỏ các loại chai lọ, bao bì đựng chế
phẩm thuốc BVTV cũng là những vấn đề rất quan trọng. Các công trình nghiên cứu cho
thấy khi phun các chế phẩm thuốc BVTV vào cây cối cần bảo vệ, thì chỉ
có 10 - 20%
lượng chế phẩm phun ra bám vào mục tiêu. Phần chế phẩm còn lại sẽ trộn lẫn vào đất,
hoặc chuyển vào môi trường. Như vậy phải thấy ngoài các hoạt chất thì các phụ gia của
chế phẩm cũng tham gia vào quá trình gây ô nhiễm. Vấn đề thải bỏ các chất thải của các
nhà máy sản xuất, gia công thuốc BVTV cũng như của các nông trại có dùng chế phẩm
BVTV, hiện đang là những vấn
đề nhạy cảm được xã hội hết sức lưu ý. Giảm thiểu chất
thải và nước thải bằng cách tái sinh hoặc quay vòng, đang là vấn đề được khuyến khích
và là tiêu điểm trong thiết kế, đầu tư các cơ sở gia công, sản xuất các chế phẩm thuốc
BVTV.
Trong nội dung đề tài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số khả năng công nghệ đang
được áp dụng nhiều trên thế

thường là các chất khá độc và ngày nay người ta có xu hướng thay thế chúng bằng các
loại khác ít độc hơn. Cơ chế trừ nấm của các chế phẩm chứa muối kim loại là tác động
lên hệ enzym của nấm bệnh. Ngoài ra người ta còn dùng các chế phẩm chứa các hoạt chất
hữu cơ họ ditiocacbamat (maneb, mancozeb ) và dimetylditiocacbamat (thiram, v.v )
hoặc các chấ
t chứa hyđrocacbon thơm như quitozene, N-trihalometyltio, v.v để phòng
trừ nấm bệnh cho cây. Một số hoạt chất khác lại gây ảnh hưởng đến sự phân chia tế bào
cùng nhiều cơ chế sinh hóa khác của nấm.
- Các chất điều hòa sinh trưởng cây trồng.
Các chất điều hòa sinh trưởng cây trồng thường chiếm vị trí thứ yếu trong số các
chế phẩm nông hóa do những vấn đề có liên quan đến lượng dư
của các chất này trong
thực phẩm.

II.2 MỘT SỐ DẠNG GIA CÔNG THÔNG DỤNG CHẾ PHẨM THUỐC BVTV
Vào những năm 1980 - 1990, chính phủ các nước và người tiêu dùng đều nhấn
mạnh đến các yêu cầu cao về sản phẩm thuốc BVTV cũng như các vấn đề liên quan đến
gia công các sản phẩm này để đạt được các tính năng thuận tiện nhất cho người sử dụng,
đồng thời sử dụng hiệu qu
ả hơn, dùng liều lượng ít hơn, không độc hại đối với các loài
sinh vật khác và thân thiện với môi trường.
Trước đây, phương pháp hay sử dụng các loại chế phẩm thuốc BVTV là phun
sương, thường với nước, hoặc đôi khi với dầu. Các chế phẩm cũng có thể ở dạng sử dụng
trực tiếp rắc vào đất trồng trọt (xử lý đất) để xử lý hạ
t giống trước khi gieo, hoặc để bảo
quản nông sản trong kho khỏi các tác nhân phá hoại (nấm, côn trùng, chuột ), vì ở một
số nước và khu vực, chính các tác nhân này đã có thể làm thiệt hại đến 30 - 40% mùa
màng.
Các hoạt chất BVTV thường bao gồm hàng loạt hóa chất, mỗi chất có tính chất
hóa, lý và kiểu tác động riêng. Danh mục các chất BVTV gồm các thuốc trừ cỏ, trừ côn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status