Lời mở đầu
Thực tế chứng minh rằng, đầu t trực tiếp của nớc ngoài không phải là một giải
pháp tình thế khi trong nớc thiếu vốn mà chính là một trong những con đờng phát triển
kinh tế của một quốc gia. Đối với Việt Nam, là một nớc đang phát triển, hơn ai hết,
Việt Nam đang rất cần có đợc nguồn vốn này. Trong khi đó, Hoa Kỳ là cờng quốc kinh
tế lớn nhất thế giới với GDP hàng năm đạt gần 10 tỷ USD cùng với tốc độ tăng trởng đ-
ợc liên tục duy trì từ 3- 4%/năm. Do có tiềm lực to lớn về tài chính mà nhiều năm qua,
quốc gia này thờng xuyên đứng đầu các nớc về đầu t trực tiếp ra nớc ngoài.
Tuy nhiên, mặc dù những năm qua, khối lợng FDI trên thế giới không ngừng
tăng lên nhng so với nhu cầu về FDI thì vẫn còn thiếu hụt. Trong bối cảnh đó, mỗi nớc
đều tìm cách làm sao thu hút FDI vào nớc mình nhiều hơn trong một thị trờng cạnh
tranh nguồn vốn quốc tế cực kỳ sôi động. Bí quyết để thành công là phải xây dựng một
hệ thống chính sách và tổ chức thu hút FDI một cách năng động và hiệu quả.
Xuất phát từ nhận thức trên và qua quá trình tìm hiểu thực trạng, rồi rút ra
những thuận lợi, khó khăn của Việt Nam trong việc thu hút nguồn vốn đầu t trực tiếp từ
nớc Mỹ, từ đó với mong muốn tìm ra giải pháp và kiến nghị để tăng cờng hơn nữa khả
năng thu hút nguồn vốn quan trọng này, em mạnh dạn chọn đề tài cho đề án môn học
của em là: Đầu t trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam từ khi hai nớc bình thờng hoá
quan hệ: Thực trạng và triển vọng
Đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận bao gồm 3 nội dung chính sau:
Chơng I :Những vấn đề lý luận cơ bản về đầu t trực tiếp nớc ngoài.
Chơng II :Thực trạng đầu t trực tiếp của Hoa Kỳ ở Việt Nam giai đoạn
1995-2001.
Chơng III : Triển vọng và một số giải pháp ,kiến nghị nhằm tăng cờng thu hút
đầu t trực tiếp của Hoa Kỳ vào Việt Nam trong thời gian tới
Do giới hạn về thời gian và kiến thức, đề tài của em còn nhiều thiếu sót trong
việc tiếp cận và giải quyết vấn đề, em rất mong đợc các thầy, cô góp ý kiến để bài viết
đợc thêm hoàn thiện.
1
Chơng I
Những vấn đề lý luận cơ bản
tổng lợi nhuận thu đợc từ đầu t ra nớc ngoài tăng, lợi suất đối với yếu tố lao động
giảm và yếu tố t bản tăng. Nh vậy, thu nhập từ việc đầu t ở nớc ngoài có sự tái phân
phối thu nhập quốc nội từ lao động thành t bản.
Trong quá trình đầu t ra nớc ngoài, Đầu t trực tiếp nớc ngoài kích thích việc
xuất khẩu trực tiếp thiết bị máy móc. Đặc biệt là khi đầu t vào các nớc đang phát triển
có nền công nghiệp cơ khí lạc hậu hoặc khi các công ty mẹ cung cấp cho các công ty
con ở nớc ngoài máy móc thiết bị, linh kiện, phụ tùng và nguyên liệu. Nếu công ty của
nớc đầu t muốn chiếm lĩnh thị trờng thì Đầu t trực tiếp nớc ngoài tác động vào việc
xuất khẩu các linh kiện tơng quan, các sản phẩm tơng quan để tăng tổng kim ngạch
xuất khẩu.
Đối với nhập khẩu, nếu các nớc đầu t đầu t trực tiếp vào ngành khai thác của n-
ớc chủ nhà, họ có đợc nguyên liệu giá rẻ. Trong điều kiện nhập khẩu ngang nhau, họ
có thể giảm đợc giá so với trớc đây nhập từ nớc khác. Nếu sử dụng giá lao động rẻ của
nớc ngoài để sản xuất linh kiện rồi xuất về trong nớc để sản xuất thành phẩm, họ có thể
giảm đợc giá thành phẩm mà trớc đây họ phải nhập khẩu.
Trong dài hạn, việc đầu t ra nớc ngoài sẽ đem lại ảnh hởng tích cực cho cán
cân thanh toán quốc tế của nớc đầu t. Đó là do việc xuất khẩu thiết bị máy móc,
nguyên vật liệu... cộng với một phần lợi nhuận đợc chuyển về nớc đã đem ngoại tệ trở
lại cho nớc đầu t. Các chuyên gia ớc tính thời gian hoàn vốn cho một dòng t bản trung
bình là từ 5 đến 10 năm.
2.1.2.Các tác động tiêu cực
Nh trên đã phân tích thì Đầu t trực tiếp ra nớc ngoài giúp cải thiện cán cân
thanh toán quốc tế của nớc đi đầu t nhng đó là tác động tích cực trong dài hạn. Trớc
mắt, do sự lu động vốn ra nớc ngoài mà việc dầu t trực này lại gây ra ảnh hởng tiêu cực
tạm thời cho cán cân thanh toán quốc tế. Nguyên nhân là do trong năm có đầu t ra nớc
ngoài, chi tiêu bên ngoài của nớc đầu t tăng lên và gây ra sự thâm hụt tạm thời trong
cán cân thanh toán ngân sách. Vì vậy, nó khiến một số ngành trong nớc sẽ không đợc
đầu t đầy đủ.
Một yếu tố ảnh hởng tiêu cực khác nữa là việc xuất khẩu t bản có nguy cơ tạo
ra thất nghiệp ở nớc đầu t. Hãy xem xét một trong những nguyên nhân mà các nhà t
hiệu quả hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên, thay đổi kết cấu sản phẩm, phát triển các
ngành nghề mới, đặc biệt là các ngành có hàm lợng công nghệ cao. Nó có tác động lớn
lao đối với quá trình công nghiệp hoá và tăng trởng kinh tế ở các nớc đang phát triển.
2.2.2. Tác động tiêu cực
4
Nh chúng ta đã phân tích thì không thể phủ nhận đợc ảnh hởng tích cực đối
với thu chi quốc tề của nớc sở tại mà Đầu t trực tiếp nớc ngoài đã đem lại, nhng xét về
lâu dài, việc các công ty xuyên quốc gia (TNCs) đem vốn đến đầu t và hàng năm lại
chuyển lợi nhuận về nớc sẽ tạo ra gánh nặng ngoại tệ đối với các nớc này, đặc biệt là
sau khi TNCs thu hồi vốn.
Bên cạnh đó, vấn đề việc làm cũng phải lúc nào cũng đi theo chiều hớng mong
đợi của chúng ta, những nớc tiếp nhận vốn đầu t. Những năm gần đây, do sự phát triển
của khoa học công nghệ, lao động không lành nghề trở nên có hiệu suất thấp. Thực tế
cho thấy, các công ty có vốn FDI nhìn chung ít sử dụng lao động tại chỗ (trừ những
doanh nghiệp gia công xuất khẩu hoặc doanh nghiệp chỉ sử dụng công nhân với lao
động giản đơn, dễ đào tạo) và để hạ giá thành sản phẩm, họ đã sử dụng phơng thức sản
xuất tập trung t bản nhiều hơn. Nó có tác động làm giảm việc làm, đi ngợc với chiến l-
ợc việc làm của các nớc đang phát triển.
Mặt khác nữa, trong việc thu hút Đầu t trực tiếp nớc ngoài, các nớc sở tại còn
phải chịu nhiều thiệt thòi. Các ngành công nghiệp mới mẻ, hiện đại của các nớc công
nghiệp phát triển đã có điều kiện xuất hiện ở những quốc gia này song chủ yếu lại bị
các nớc đầu t kiểm soát, kết cấu kinh tế thì bị phụ thuộc vào đối tợng ngành hàng sản
xuất mà nớc đầu t quyết định kinh doanh.
Không chỉ có vậy, sự dịch chuyển những kỹ thuật công nghệ kém tiên tiến,
tiêu hao nhiều năng lợng từ các nớc đầu t đã gây ra ô nhiễm môi trờng nghiêm trọng,
tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức...
Tóm lại, trong việc thu hút Đầu t trực tiếp nớc ngoài, nớc sở tại vừa đợc lợi lại
vừa bị thiệt hại. Giải quyết vấn đề này hài hoà nh thế nào hoàn toàn phụ thuộc vào
chính sách, sách lợc và chiến lợc thu hút Đầu t trực tiếp nớc ngoài. Nếu nớc sở tại xây
dựng đợc một kế hoạch đầu t cụ thể và khoa học thì việc thu hút cũng nh sử dụng
tuân theo.
7. Tình hình ngoại thơng và các định chế có liên quan nh tình hình xuất nhập
khẩu, thuế xuất nhập khẩu; chính sách tỷ giá hối đoái, các luật lệ đầu t cho ngời nớc
6
ngoài, cán cân thơng mại, cán cân thanh toán quốc tế... Những vấn đề này đặc biệt
quan trọng đối với các dự án sản xuất hàng xuất khẩu, nhập khẩu nguyên liệu máy
móc. Chẳng hạn chính sách tỷ giá hối đoái không thích hợp (tỷ giá đồng tiền nội địa so
với ngoại tệ thấp) sẽ gây ra tình trạng càng xuất khẩu càng lỗ, thuế xuất khẩu quá cao
sẽ gây khó khăn trong cạnh tranh với hàng hoá của các nớc khác trên thị trờng ở nớc
ngoài, các luật lệ đầu t nớc ngoài có tác dụng khuyến khích và thu hút đầu t nớc
ngoài...
III. Các hình thức Đầu t trực tiếp nớc ngoài (Theo quy định pháp
lý ở Việt Nam)
Xuất phát từ chính sách đổi mới nền kinh tế, mở cửa và hội nhập với nớc ngoài
(1986), ngày 19/12/1987, lần đầu tiên Quốc hội nớc ta đã thông qua Luật đầu t nớc
ngoài, cho phép các tổ chức, cá nhân là ngời nớc ngoài đợc đầu t vào Việt Nam. Qua
bốn lần sửa đổi bổ sung vào các năm 1990, 1992, 1996 và gần đây nhất là vào tháng
4/2000 Luật đầu t nớc ngoài đã cho phép các nhà đầu t nớc ngoài đợc đầu t ở Việt Nam
theo các hình thức đầu t phổ biến trong khu vực và quốc tế sau đây:
- Doanh nghiệp liên doanh là dạng Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) đợc
thành lập với sự tham gia của một bên là một hay nhiều pháp nhân trong nớc và bên kia
là một hay nhiều thành viên nớc ngoài. Vốn hoạt động do hai bên đóng góp và có thời
gian hoạt động từ 30 đến 50 năm.
- Doanh nghiệp 100% vốn đầu t nớc ngoài là dạng Công ty TNHH do tổ chức
hoặc cá nhân nớc ngoài thành lập, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Vốn hoạt
động do 100% nớc ngoài góp và thời gian hoạt động từ 50 đến 70 năm.
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh là dạng hợp đồng giữa hai hay nhiều bên cam
kết cùng nhau tiến hành hoạt động kinh doanh trên cơ sở phân định trách nhiệm, quyền
lợi, nghĩa vụ rõ ràng và không thành lập một pháp nhân mới.
- Xây dựng, khai thác, chuyển giao (BOT) là hình thức hợp đồng đợc ký kết
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
176
115
111
141
148
216
213
285,2
464,5
657,9
35
41
55
79
105
111,8
145
178,8
179,5
207,6
211
158
chúng ta có thể tạo ra đợc một môi trờng đầu t hấp dẫn khiến cho dòng vốn sẽ tiếp tục
chảy vào Việt Nam.
10
Chơng II
Thực trạng Đầu t trực tiếp
của Hoa Kỳ ở Việt Nam giai đoạn 1995-2001
I. Khái quát quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn
1995-2001
Quan hệ đầu t của Hoa Kỳ tại Việt Nam là một bộ phận trong tổng thể những
mối quan hệ kinh tế nhiều mặt đang rất phát triển giữa hai quốc gia có thể đợc khái
quát một cách khá đầy đủ qua những mốc thời gian quan trọng trong quá trình quan hệ
Việt Nam - Hoa Kỳ sau đây:
3/2/1994: Chính phủ Mỹ tuyên bố bỏ cấm vận buôn bán với Việt Nam.
11/7/1995: Tổng thống Mỹ tuyên bố công nhận ngoại giao và bình thờng hoá
quan hệ với Việt Nam.
5/8/1995: Bộ trởng Ngoại giao Mỹ thăm Việt Nam.
10/1995: Chủ tịch nớc CHXHCN Việt Nam dự lễ kỷ niệm 50 năm thành lập
Liên hợp quốc và lần đầu tiên thăm Mỹ, tiếp xúc với nhiều quan chức cấp cao của
chính quyền Mỹ. Hội đồng Thơng mại Mỹ tổ chức "Hội nghị về bình thờng hoá quan
hệ, bớc tiếp theo trong quan hệ Mỹ - Việt".
11/1995: Đoàn liên Bộ Mỹ thăm Việt Nam tìm hiểu hệ thống luật lệ thơng mại
đầu t của Việt Nam.
4/1996: Mỹ trao cho Việt Nam văn bản "Những yếu tố bình thờng hoá quan hệ
kinh tế thơng mại với Việt Nam".
7/1996: Việt Nam trao cho Mỹ văn bản "Năm nguyên tắc bình thờng hoá quan
hệ kinh tế thơng mại và đàm phán hiệp định thơng mại với Mỹ".
9/1996: Bắt đầu quá trình đàm phán hiệp định thơng mại song phơng.
7/5/1997: Đại sứ Việt Nam tại Mỹ, Đại sứ Mỹ tại Việt Nam nhậm chức tại thủ
đô mỗi nớc, hoàn tất quá trình bình thờng hoá quan hệ ngoại giao giữa hai nớc.
10/3/1998: Tổng thống Mỹ tuyên bố bãi bỏ việc áp dụng điều luật bổ sung
từ Ngân hàng xuất nhập khẩu (EXIMBANK) của Mỹ. Do đó, các nhà đầu t cha an tâm
đầu t vào Việt Nam còn các nhà xuất khẩu Mỹ lại gặp khó khăn trong việc cạnh tranh
với các nớc khác. Thực tế, các doanh nghiệp Mỹ muốn Chính phủ của họ huỷ bỏ việc
áp dụng điều luật bổ sung Jackson-Vanic, tạo điều kiện cho OPIC và EXIMBANK có
điều kiện hoạt động thuận lợi ở Việt Nam.
Tuy vậy, cũng đã có tới trên 400 công ty của Mỹ đang hoạt động tại Việt Nam
ở thời điểm này, trong đó có nhiều công ty lớn nh CocaCola, Mobil, Ford, IBM, IBS,
12
Chrysler và nhiều các công ty Mỹ khác có dự kiến gia tăng khối lợng đầu t vào Việt
Nam. Chrysler là đứng đầu về số dự án lớn với tổng vốn đầu t vào Việt Nam là 109,4
triệu USD. Ngoài ra, còn có nhiều dự án khác của Mỹ có vốn đầu t từ 30 triệu USD trở
lên.
Đến cuối năm 1997, tổng vốn đầu t nớc ngoài vào Việt Nam là 31,26 tỷ USD
với 1762 dự án. Trong đó, Mỹ có 58 dự án đầu t vào Việt Nam với số vốn trên 1 tỷ
USD. Song vẫn còn tồn tại nhiều lực cản bởi những nguyên nhân nh đã đề cập đến ở
trên. Để giải quyết lực cản này, ngày 10/3/1998, Tổng thống Mỹ B.Clinton đã tuyên bố
bãi bỏ điều luật Jackson-Vanic đối với Việt Nam. Đồng thời, phía Mỹ cũng bãi bỏ một
số điều luật liên quan đến hoạt động của cơ quan viện trợ phát triển quốc tế (USAID)
nhằm thúc đẩy quan hệ kinh tế với Việt Nam lên một bớc mới. Việc bãi bỏ này cũng là
điều kiện cần có để Việt Nam đợc hởng quy chế "Tối huệ quốc" của Mỹ. Nhng điều
kiện trớc hết mà doanh nghiệp hai nớc đều đang mong mỏi là một hiệp định thơng mại
đã qua các vòng đàm phán sẽ đợc ký kết trong tơng lai.
Đến tháng 10/1999, số dự án đầu t của Mỹ ở Việt Nam đã là 102 với vốn đăng
ký 1,2 tỷ USD. Ngoài công ty Chrysler đứng đầu về số dự án lớn với tổng vốn là 109,4
triệu USD còn có công ty IBS đầu t liên doanh xây dựng nhà máy gạch men với vốn
đầu t ban đầu là 16,5 triệu USD, và nhiều dự án khác có số vốn trên 30 triệu USD vào
Việt Nam.
Tháng 9/2000, số dự án đầu t của Mỹ vào Việt Nam đã tăng lên 121, trị giá 1,4
tỷ USD. Trừ các dự án bị giải thể hoặc hết hạn, ở thời điểm đó, Mỹ có khoảng 100 dự
án FDI ở Việt Nam còn hiệu lực với vốn đăng ký đạt 1 tỷ USD.