cảm nhận sau chuyến đi thực tế bảo tàng hồ chí minh về cuộc đời của bác hồ - Pdf 13

CẢM NHẬN SAU CHUYẾN ĐI THỰC
TẾ BẢO TÀNG HỒ CHÍ MINH VỀ
CUỘC ĐỜI CỦA BÁC HỒ
Môn: Tư tưởng Hồ Chí Minh
Nội dung trình bày: Thời niên thiếu của Bác Hồ, giai đoạn tìm đường
cứu nước và chuẩn bị thành lập Đảng
Bảo tàng Hồ Chí Minh hay còn gọi là Bến Nhà Rồng là
một di tích lịch sử nổi tiếng của nước ta. Bến Nhà Rồng được
xây dựng từ năm 1864, trước kia là một thương cảng lớn của
Sài Gòn. Tại nơi đây, ngày 5/6/1911, người thanh niên Nguyễn
Tất Thành (sau này lấy tên là Hồ Chí Minh) đã lên tàu Amiral
Latouche Tréville với tên Nguyễn Văn Ba để ra đi tìm đường
cứu nước giải phóng cho dân tộc Việt Nam.
Bác Hồ lúc nhỏ có tên là Nguyễn Sinh Cung, sau đổi thành Nguyễn Tất Thành, sinh ngày
19/5/1890, quê ở làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Người cha của Bác, cụ Phó
bảng Nguyễn Sinh Sắc là một nhà nho cấp tiến, có lòng yêu nước, thương dân sâu sắc. Tấm
gương lao động cần cù, ý chí kiên cường vượt qua gian khổ để đạt được mục tiêu, đặc biệt là tư
tưởng thân dân, lấy dân làm hậu thuẫn cho các cải cách chính trị-xã hội của cụ Phó bảng đã có
ảnh hưởng sâu sắc đối với quá trình hình thành nhân cách của Nguyễn Tất Thành. Người mẹ của
Bác-bà Hoàng Thị Loan cũng ảnh hưởng đến tư tưởng, tình cảm của Nguyễn Sinh Cung về đức
tính nhân hậu, đảm đang, sống chan hòa với mọi người.
Sinh ra trong gia đình nhà nho yêu nước, lớn lên ở một địa phương có truyền thống yêu
nước, anh dũng chống giặc ngoại xâm. Lúc bấy giờ đất nước chìm dưới ách đô hộ của thực dân
Pháp, thời niên thiếu và thanh niên của Người đã chứng kiến nỗi khổ cực của đồng bào và những
phong trào đấu tranh chống thực dân, Người sớm có chí đánh đuổi thực dân, giành độc lập cho
đất nước, đem lại tự do, hạnh phúc cho đồng bào.
Người khâm phục tinh thần yêu nước của các chí sĩ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám,
Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, nhưng lại không tán thành con đường cứu nước của họ. Phong
trào Đông Du, cầu viện Nhật Bản của Phan Bội Châu chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo
cửa sau”. Còn chủ trương “ỷ Pháp cầu tiến bộ”, khai thông dân trí nâng cao dân khí của Phan
Chu Trinh chẳng qua chỉ là việc “cầu xin Pháp rủ lòng thương” Các phong trào Đông Du, Duy

của nước Mỹ, Cách mạng tư sản Mỹ năm 1776. Khi đứng dưới chân tượng Nữ thần tự do tại New
York, Người nhận thấy một điều mâu thuẫn là dưới chân tượng nữ thần tự do không hề có tự do,
vẫn có những người nô lệ da đen bị áp bức bóc lột tại nước Mỹ. Dừng chân ở Mỹ không lâu,
Nguyễn Tất Thành chẳng những không bị choáng ngợp bởi vẻ hào hoa tráng lệ của một nước Mỹ
đang trong thời kì phát triển mạnh mà ngược lại, anh đã nhận ra bộ mặt thật của bọn đế quốc Hoa
Kỳ. Đằng sau khẩu hiệu “cộng hòa dân chủ” của giai cấp tư sản Mỹ là những thủ đoạn bóc lột
nhân dân lao động rất tàn bạo và tinh vi. Anh cảm thông sâu sắc với đời sống của người dân lao
động da đen và rất căm giận bọn phân biệt chủng tộc, hành hình người da đen một cách man rợ,
mà sau này anh đã viết lại trong bài báo Hành hình kiểu Linsơ.
Năm 1913, Nguyễn Tất Thành rời Mỹ sang Anh. Thời gian đầu tại Anh rất khó khăn với
Nguyễn Tất Thành, anh phải chấp nhận làm đủ mọi công việc nặng nhọc để kiếm sống như cào
tuyết, thợ đốt lò. Không lâu sau, Nguyễn Tất Thành được thuê làm phụ bếp ở khách sạn Carlton
tại Haymarket. Ban đầu, anh làm công việc rửa bát, đĩa, nồi, chảo, Khi thấy những người giàu
bỏ những thức ăn thừa khá nhiều, anh gói lại những phần ngon còn sót lại chia cho những người
nghèo. Việc làm này khiến vua đầu bếp Escophier khá cảm kích nên đã chuyển Nguyễn Tất
Thành sang công việc làm bánh. Tại Anh, Nguyễn Tất Thành không chỉ lo làm việc kiếm sống,
anh còn hăng hái tham dự những cuộc diễn thuyết ngoài trời của nhiều nhà chính trị và triết học,
tham gia Hội những người lao động hải ngoại, ủng hộ cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân.
Cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành nghỉ việc và sang Pháp. Do chưa có giấy tờ hợp pháp,
anh phải sống ẩn náu, hạn chế đi lại để tránh sự kiểm tra của cảnh sát. Cuộc sống khi đó của
Nguyễn Tất Thành gặp rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên, anh vẫn kiên trì, hăng say học tập, lao
động và hoạt động. Anh vẫn thường xuyên gặp gỡ với những người Việt Nam có tư tưởng và
khuynh hướng tiến bộ tại Pháp như Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, từng bước tham gia vào
cuộc đấu tranh của phong trào công nhân và lao động Pháp. Năm 1919, Nguyễn Tất Thành gia
nhập Đảng xã hội Pháp. Khi được hỏi vì sao vào Đảng, anh trả lời: Vì đây là tổ chức duy nhất
theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại cách mạng Pháp: “Tự do, Bình
đẳng, Bác ái”. Cũng trong năm 1919, Nguyễn Tất Thành đã khiến
cho thế giới và nhân dân Pháp phải chú ý tới Việt Nam bằng việc
gửi Bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới Hội Nghị Vecxai đòi
chính phủ Pháp thừa nhận quyền tự do, dân chủ và bình đẳng của

Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: ‘Hỡi
đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng
chúng ta!’”
Kể từ đó, Nguyễn Ái Quốc đã hoàn toàn đi theo Quốc tế 3, đi theo con đường cách mạng
triệt để của chủ nghĩa Mác-Lênin. Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XVIII Đảng Xã hội
Pháp, Nguyễn Ái Quốc được mời phát biểu. Trong bài phát biểu, Người lên án chủ nghĩa đế quốc
Pháp, vì lợi ích của nó, đã dùng lưỡi lê chinh phục Đông Dương và trong suốt nửa thế kỷ, nhân
dân Đông Dương không những bị áp bức và bóc lột một cách nhục nhã mà còn bị hành hạ và đầu
độc một cách thê thảm. Bằng những sự thật, Nguyễn Ái Quốc tố cáo những sự tàn bạo mà bọn
thực dân Pháp đã gây ra ở Đông Dương. Cũng tại Đại hội này, Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán
thành tham gia Quốc tế III Quốc tế Cộng sản, trở thành một trong những người sáng lập Đảng
Cộng sản Pháp, và Người cũng trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Việc Người tham
gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp năm 1920 đánh dấu một bước nhảy vọt trong tư tưởng và lập
trường chính trị của Người. Từ một người yêu nước trở thành một người cộng sản, Người khẳng
định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách
mạng vô sản”. Tại thời điểm này, sự lựa chọn của Nguyễn Ái Quốc là phù hợp với trào lưu tiến
hóa của lịch sử, chuyển từ chủ nghĩa yêu nước sang chủ nghĩa cộng sản, đồng thời kéo theo cả
một lớp người Việt Nam yêu nước chân chính đi theo chủ nghĩa Mác-Lênin. Từ đó chủ nghĩa
Mác – Lênin bắt đầu thâm nhập vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam,
cách mạng Việt Nam từ đây có một phương hướng mới.
Từ khi tìm được hướng đi đúng đắn cho con đường giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc
nhận thức được trách nhiệm to lớn của mình là phải mang toàn bộ khả năng và sức lực góp phần
cùng Đảng Cộng sản Pháp quan tâm hơn nữa đến các dân tộc thuộc địa, bằng một kế hoạch hoạt
động chính xác, một chính sách có hiệu quả và thiết thực. Thời kì từ năm 1920-1930 là thời kì
hoạt động sôi nổi của Người trên các lĩnh vực, các đại hội quốc tế và trên báo chí, nhằm lên án tội
ác của chủ nghĩa thực dân đối với nhân dân các nước thuộc địa, thức tỉnh nhân dân các nước
thuộc địa, hướng họ vào cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do. Ngày 12/12/1921, Nguyễn Ái Quốc
dự Đại hội Đảng bộ quận Xen (Seine), nơi Người cư trú và được bầu là đại biểu chính thức dự
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Đảng Cộng sản Pháp, họp từ ngày 25 đến 30/12/1921 tại
Mácxây. Đại hội đã bầu Nguyễn Ái Quốc làm phụ tá của Chủ tịch Đại hội. Người khẳng định:

và chính quốc.
Năm 1923, Nguyễn Ái Quốc rời Pháp sang Liên Xô, Người tham dự Đại hội Quốc tế Cộng
sản, đồng thời tham gia lớp học ngắn hạn của Trường đại học Phương Đông. Ngày 21-1-1924,
Lênin qua đời. Vô cùng thương tiếc Lênin, ngày 23-1-1924, Nguyễn Ái Quốc đã có mặt trong
dòng người vào vĩnh biệt Lênin. Sau đó, Người viết bài: Lênin và các dân tộc thuộc địa, đăng báo
Sự thật, ngày 27-1-1924, và khẳng định: “Lênin bất diệt sẽ sống mãi trong sự nghiệp của chúng
ta”. Đây là lời thề của người chiến sĩ cộng sản Nguyễn Ái Quốc, Người sẽ phấn đấu hiện thực
hoá tư tưởng của Lênin vĩ đại ở các thuộc địa. Người sẽ gắn bó cuộc cách mạng giải phóng dân
tộc với con đường đi tới cuộc cách mạng xã hội xã hội chủ nghĩa sau đó.
Nguyễn Ái Quốc dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản họp từ ngày 17-6 đến 8-7-1924 tại
Mátxcơva. Tại đại hội, Nguyễn Ái Quốc đặc biệt lưu tâm đến vấn đề dân tộc và và vấn đề thuộc
địa. Người khẳng định: “Cách mạng ở phương Tây muốn thắng lợi thì nó phải liên hệ chặt chẽ
với phong trào giải phóng chống chủ nghĩa đế quốc ở các nước thuộc địa và các nước bị nô dịch”.
Với danh nghĩa đại biểu Đông Dương, Nguyễn Ái Quốc được mời tham dự Đại hội lần thứ III
Quốc tế Công hội đỏ, họp từ ngày 7 đến ngày 22-7-1924. Trong bài tham luận tại hội nghị, Người
đề nghị “Các tổ chức công nhân cách mạng Pháp phải tích cực giúp đỡ chúng tôi trong cuộc đấu
tranh giải phóng của chúng tôi”. Với các hoạt động tích cực tại các đại hội trên, Nguyễn Ái Quốc
đã giúp giai cấp công nhân thế giới và nhân dân Xô viết hiểu rõ hơn về tình cảnh của giai cấp
công nhân và nhân dân lao động Việt Nam nói riêng và nhân dân Đông Dương nói chung, đồng
thời đặt nền móng cho sự liên minh, tình đoàn kết vô sản quốc tế giữa nhân dân Việt Nam và
những người lao động thế giới. Người nói: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám
vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa. Nếu
muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì
cái vòi còn lại kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị
cắt đứt lại sẽ mọc ra”. Từ đó, Nguyễn Ái Quốc khẳng định muốn thủ tiêu tận gốc chủ nghĩa tư
bản thì phải xây dựng tình đoàn kết giữa giai cấp vô sản ở các nước chính quốc và vô sản cùng
với đội tiên phong của nó ở các nước thuộc địa, đoàn kết các dân tộc lại thành một mặt trận thống
nhất chống chủ nghĩa đế quốc. Khi sống và hoạt động tại Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy
rằng, Quốc tế Cộng sản và các đảng ở châu Âu hiểu biết rất ít về tình hình ở các thuộc địa. Đặc
biệt, Người nhận thức rõ rằng, không thể áp dụng một cách máy móc, rập khuôn những nguyên lý

(4/1927), Nguyễn Ái Quốc trở lại Mátxcơva vào tháng 5/1927. Từ tháng 7/1928 đến tháng
11/1929, Nguyễn Ái Quốc hoạt động ở Xiêm (nay gọi là Thái Lan), xây dựng lực lượng cách
mạng trong Việt kiều yêu nước. Trong thời gian ở Xiêm, Người tiếp tục các hình thức hoạt động
như ở Quảng Châu. Người hoà mình với đông đảo quần chúng, sống đời sống của quần chúng,
làm những việc cùng với quần chúng, phát hành báo chí, mở lớp đào tạo ngắn hạn cho hội viên
của chi hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, nắm tình hình trong nước và Quốc tế Cộng sản,
Trong những năm 1928-1929, phong trào đấu tranh cách
mạng của nhân dân ta tiếp tục phát triển mạnh về số lượng và
chất lượng. Trong bối cảnh đó, những phần tử tiên phong trong
phong trào cách mạng đã nhận thức được tình hình, và đứng ra
thành lập những tổ chức cộng sản đầu tiên vào nửa cuối năm
1929 đầu năm 1930. Cuối năm 1929, đã có 3 tổ chức cộng sản
ra đời là An nam Cộng sản Đảng, Đông Dương cộng sản Đảng
và Đông Dương cộng sản liên đoàn. Sự tồn tại ba tổ chức cộng
sản biệt lập, tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau trong một đất nước, đã dẫn đến nguy cơ chia rẽ,
phân liệt của phong trào đấu tranh cách mạng. Yêu cầu cấp bách của cách mạng Việt Nam lúc
này là phải chấm dứt tình trạng chia rẽ giữa các tổ chức cộng sản, thống nhất các tổ chức đó
thành một đảng cộng sản duy nhất trong cả nước. Tại Cửu Long, Hồng Kông, từ ngày 6-1-1930,
Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản đã được tiến hành dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc.
Tham dự hội nghị có các đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng là Trịnh Đình Cửu và
Nguyễn Đức Cảnh; An Nam Cộng sản Đảng là Nguyễn Thiệu và Châu Văn Liêm. Hội nghị hợp
nhất đã diễn ra thuận lợi và đạt được sự nhất trí hoàn toàn, trên cơ sở bỏ mọi thành kiến xung đột
cũ, đặt tên đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt,
Điều lệ vắn tắt, chương trình tóm tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Các văn kiện này
trở thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Trong hội nghị hợp nhất 3 tổ chức cộng sản,
Nguyễn Ái Quốc đã có vai trò hết sức quan trọng. Người đã thể hiện sự sáng tạo của mình trong
cả hoạt động thực tiễn và lý luận. Nguyễn Ái Quốc đã nhận định: “Việc thành lập Đảng là một
bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp
vô sản nước ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”
Tài liệu tham khảo:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status