Đề tài: Lạm phát ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, đặc biệt là sau khi nước ta gia nhập vào tổ chức
thương mại thế giới WTO, tình hình kinh tế có nhiều điểm khởi sắc, thu lại được nhiều
thành tựu to lớn.
Tuy nhiên, nền kinh tế vĩ mô còn ẩn chứa nhiều bất ổn. Trong những năm gần
đây tình hình lạm phát đang diễn ra và khó kiểm soát, và đề tài lạm phát trở thành đề
tài nóng trên khắp các diễn đàn. Vậy tại sao cần bình luận về lạm phát khi đã có nhiều
người nói về nó. Có ba lý do:
Lý do thứ nhất, cực kỳ quan trọng là ảnh hưởng của lạm phát tới sự ổn định và
công bằng xã hội.
Lý do thứ hai là cần làm sáng tỏ thêm nguyên nhân gây ra lạm phát. Từ những
nguyên nhận gây nên lạm phát làm mất cân bằng xã hội chúng ta có thể tìm hiểu và
hiểu rõ hơn những ảnh hưởng của lạm phát gây ra cho xã hội cho nền kinh tế nước ta.
Cuối cùng, vì đây thực sự là một vấn đề rất cần thiết cho các doanh nghiệp
hiện nay, nắm bắt kịp thời những thông tin về lạm phát giúp doanh nghiệp có thể điều
chỉnh chiến lược kinh doanh của mình phù hợp, hạn chế được những rủi ro về lãi suất,
tỷ giá… Chính vì vậy, em quyết định chọn đề tài này để tìm hiểu, nghiên cứu cho
chuyên đề của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu.
• Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về kinh tế vĩ mô nói chung và lạm
phát nói riêng.
• Phân tích tình hình lạm phát ở Việt Nam hiện nay.
• Căn cứ vào cơ sở lý luận và kết quả phân tích, đánh giá thực trạng lạm
phát, đề xuất giải pháp khắc phục
3. Đối tượng nghiên cứu.
Chuyên đề nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực tiễn về kinh tế vĩ mô trong đó
có vấn đề lạm phát.
4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về tình hình lạm phát ở Việt Nam hiện nay, số liệu nghiên
• Nghiên cứu nguyên nhân và hậu quả của biến động ngắn đối với thu nhập quốc
gia (còn gọi là chu kỳ kinh tế)
• Nghiên cứu những yếu tố quyết định cho tăng trưởng kinh tế bền vững.
Các chuyên gia kinh tế vĩ mô phát triển các mô hình để giải thích mối quan hệ
giữa các yếu tố như thu nhập quốc gia, sản lượng, tiêu dùng, thất nghiệp, lạm phát, tiết
kiệm, đầu tư, buôn bán đa quốc gia và tài chính đa quốc gia. Các mô hình này và các
dự báo do chúng đưa ra được cả chính phủ lẫn các tập đoàn lớn sử dụng để giúp họ
phát triển và đánh giá các chính sách kinh tế và các chiến lược quản trị.
1.2. Các khái niệm về lạm phát.
1.2.1. Khái niệm.
Lạm phát được đề cập đến rất nhiều trong các công trình nghiêm cứu của các
nhà kinh tế. Mỗi người đều đưa ra khái niệm về lạm phát theo quan điểm, phương
hướng nghiên cứu của mình . Và một định nghĩa về lạm phát do các nhà kinh tế học
hiện đại đưa ra và nó được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực nghiên cứu thị trường:
“Lạm phát là tình trạng mức giá chung của nền kinh tế tăng lên liên tục trong thời gian
nhất định”.
[*]
1.
[*]
Trích: TS. Nguyễn Minh Tuấn, Ths. Trần Nguyễn Minh Ái, Kinh tế vĩ mô, NXB Lao động
xã hội, 2006, trang 70
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Minh Tuấn 3 SVTH: Nguyễn Duy Kiên
Đề tài: Lạm phát ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
1.2.2. Đo lường lạm phát
Lạm phát được đo bằng chỉ số giá cả :
+ Chỉ số giá cả được sử dụng rộng rãi nhất là chỉ số giá cả hàng tiêu dùng CPI
(Consumer Price Index). CPI tính chi phí của một giỏ hàng tiêu dùng và dịch vụ trên
thị trường. Để tính CPI, ta dựa vào tỷ trọng của phần chi cho từng mặt hàng trong tổng
chi tiêu cho tiêu dùng của thời kì có lạm phát .
+ Một chỉ số nữa thường được sử dụng là chỉ số giá cả sản xuất (PPI: Producer
mã, nó như một căn bệnh chết người, tốc độ lưu thông tiền tệ tăng kinh khủng, giá cả
tăng nhanh và không ổn định, tiền luơng thực tế của người lao động bị giảm mạnh,
tiền tệ mất giá nhanh chóng, thông tin không còn chính xác, các yếu tố thị trường biến
dạng và hoạt động sản xuất khin doanh lâm vào tình trạng rối loạn, mất phương
hướng. Tóm lại, siêu lạm phát làm cho đời sống và nền kinh tế suy sụp một cách
nhanh chóng.Tuy nhiên siêu lạm phát rất ít xảy ra .
1.2.3.2. Căn cứ vào định tính
- Lạm phát cân bằng và lạm phát không cân bằng:
* Lạm phát cân bằng: Tăng tương ứng với thu nhập thực tế của người lao
động, tăng phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Do đó không gây ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của người lao động và dến
nền kinh tế nói chung.
* Lạm phát không cân bằng: Tăng không tương ứng với thu nhập của
người lao động. Trên thực tế loại lạm phát này cũng thường hay xảy ra .
-Lạm phát dự đoán trước được và lạm phát bất thường
* Lạm phát dự đoán trước: là loại lạm phát xảy ra hàng năm trong một
thời kì tương đối dài và tỷ lệ lạm phát ổn định đều đặn. Loại lạm phát này có
thể dự đoán trước được tỷ lệ của nó trong các năm tiếp theo. Về mặt tâm lý,
người dân đã quen với tình trạng lạm phát đó và đã có sự chuẩn bị trước. Do đó
không gây ảnh hưởng đến đời sống, đến kinh tế .
* Lạm phát bất thường: xảy ra đột biến mà có thể từ trước chưa xuất
hiện. Loại lạm phát này ảnh hưởng đến tâm lý, đời sống người dân vì họ chưa
kịp thích nghi. Từ đó mà loại lạm phát này sẽ gây ra biến động đối với nền kinh
tế và niềm tin của nhân dân vào chính quyền có phần giảm sút.
Trong thực tế lịch sử của lạm phát cho thấy lạm phát ở nước ta đang phát triển
thường diễn ra trong thời gian dài, vì vậy hậu quả của nó phức tạp và trầm trọng hơn.
Và các nhà kinh tế đã chia lạm phát thành 3 loại với tỷ lệ khác nhau: lạm phát kinh
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Minh Tuấn 5 SVTH: Nguyễn Duy Kiên
Đề tài: Lạm phát ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
niên kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát dưới 50% một năm, lạm phát nghiêm trọng
Đề tài: Lạm phát ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
Lạm phát làm cho quan hệ tín dụng, thương mại và ngân hàng bị thu hẹp. Số
tiền người gửi tiền vào ngân hàng giảm đi rất nhiều do giá trị đồng tiền bị giảm xuống.
Về phía hệ thống ngân hàng, do lượng tiền gửi vào ngân hàng giảm mạnh nên không
đáp ứng được nhu cầu của người đi vay, cộng với việc sụt giá quá nhanh của đồng
tiền, sự điều chỉnh lãi suất tiền gưỉ không làm an tâm những cá nhân, doanh nghiệp
hiện đang có lượng tiền mặt nhàn rỗi trong tay. Như vậy ngân hàng gặp khó khăn
trong việc huy động vốn ,hệ thống ngân hàng phải luôn cố gắng duy trì mức lãi suất
ổn định. Mà lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát, khi tỷ lệ lạm phát tăng
cao,muốn lãi suất thực ổn định thì lãi suất danh nghĩa phải tăng lên cùng với tỷ lệ lạm
phát .
Trong khi đó người đi vay là những người có lợi lớn nhờ sự mất giá đồng tiền
nhanh chóng. Do vậy hoạt động của hệ thống Ngân hàng không còn bình thường nữa.
Chức năng kinh doanh tiền tệ bị hạn chế, không còn nguyên vẹn bởi khi có lạm phát
thì chẳng có ai tích trữ tiền mặt dưới hình thức tiền mặt.
1.2.4.4. Tác động đến cán cân ngân sách – chính sách tài chính của
nhà nước
Lạm phát gây ra sự biến động lớn trong giá cả và sản lượng hàng hoá, khi lạm
phát xảy ra thì những thông tin trong xã hội bị phá huỷ do biến động của giá cả và làm
cho thị trường bị rối loạn. Khi đó người ta khó phân biệt được những doanh nghiệp
làm ăn tốt và kém. Đồng thời làm cho nhà nước thiếu vốn, các khoản thu cho ngân
sách nhà nước không tăng. Do đó, nhà nước không còn đủ sức cung cấp tiền cho các
khoản dành cho phúc lợi xã hội, các nghành, các lĩnh vực dự định được chính phủ đầu
tư hỗ trợ vốn bị thu hẹp lại hoặc không có gì. Một khi ngân sách nhà nước bị thâm hụt
thì các mục tiêu cải thiện và nâng cao đời sống kinh tế xã hội sẽ không có điều kiện để
thực hiện.
1.2.5. Nguyên nhân gây ra lạm phát
1.2.5.1. Lạm phát do cầu kéo
Đây chính là sự mất cân đối trong quan hệ cung – cầu. Nguyên nhân chính là do
tổng cầu tăng quá nhanh trong khi tổng cung không tăng hoặc tăng không kịp.
Hình thức của lạm phát do chi phí đẩy phat sinh từ phía cung, do chi phí sản
xuất cao hơn đã được chuyển sang người tiêu dùng. Điều này chỉ có thể đạt trong giai
đoạn tăng trưởng kinh tế khi người tiêu dùng sẵn sàng trả với giá cao hơn. Ví dụ: Nếu
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Minh Tuấn 8 SVTH: Nguyễn Duy Kiên
AS
3
AS
2
3
2'
AS
1
AD
3
AD
2
AD
1
Y
(Tổng sản phẩm)
Y
t
Y
n
1'
1
P
P
3
P
áp dụng biện pháp tình thế và các biện pháp có tính chiến lược.
Từ lịch sử chống lạm phát ở các nước sẽ có những biện pháp điển hình sau:
- Những biện pháp tình thế: là những biện pháp áp dụng nhằm làm giảm tức
thời cơn sốt lạm phát
Đầu tiên biện pháp tình thế mà các nước thường áp dụng là giảm lượng tiền
cung ứng trong lưu thông. Đây được gọi là biện pháp thắt chặt lượng cung tiền tệ hay
còn gọi là đóng bảng tiền tệ. Cụ thể là Ngân hàng trung ương ngừng thực hiện các
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Minh Tuấn 9 SVTH: Nguyễn Duy Kiên
Đề tài: Lạm phát ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu đối với các tổ chức tín dụng ,dừng việc mua vào
các chứng khoán ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, không phát hành tiền đề bù đắp bội
chi ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, đểlàm giảm lượng tiền cung ứng thì ngân hàng
trung ương sẽ bán các chứng khoán ngắn hạn, bán ngoại tệ, phát hành các công cụ nợ
của chính phủ để vay tiền trong nền kinh tế.Và ngân hàng cũng có thể ấn định mức lãi
xuất cao, từ đó sẽ khuyến khích người dân gửi tiền vào ngân hàng, doanh nghiệp gửi
tiền không kì hạn, dẫn đến lượng tiền trong lưu thông giảm.
Tiếp đến, để khắc phục lạm phát chính phủ có thể sử dụng biện pháp thắt chặt
chi tiêu của mình như giảm cầu tiêu dùng của chính phủ, làm giảm sự tăng nhanh của
tổng cầu. Nhà nước cũng có thể hạn chế tăng tiền lương làm giảm lượng cầu chi tiêu
của dân cư.Ngoài ra chính phủ có thể đi vay và xin viện trợ từ nước ngoài… Một biện
pháp nữa được áp dụng là cải cách tiền tệ khi tỷ lệ lạm phát tăng quá cao trong khi các
biện pháp nêu trên chưa đạt được hiệu quả.
- Cùng với những biện pháp tình thế, các nước còn sử dụng các biện pháp chiến
lược nhằm tác động đến sự phát triển lâu dài của nền kinh tế và làm cho cơ số tiền tệ
ổn định bền vững. Đó là các biện pháp:
Đẩy mạnh quá trình sản xuất hàng hoá, mở rộng lưu thông hàng hoá. Hàng hoá
trong nước ngày càng nhiều, quỹ hang tăng lên với số lượng, chủng loại đa dạng
phong phú. Ngoài ra chính phủ còn nhập hàng hoá về để bổ xung cho hàng hoá thiếu
hụt trong nước. Xuất kho dự trữ vàng và ngoại tệ để bán cho dân chúng , phát triển các
ngành sản xuất hàng hoá xuất khẩu và ngành du lịch .
Năm 2009, suy thoái của kinh tế thế giới khiến sức cầu suy giảm, giá nhiều
hàng hóa cũng xuống mức khá thấp, lạm phát trong nước được khống chế. CPI năm
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Minh Tuấn 11 SVTH: Nguyễn Duy Kiên
Đề tài: Lạm phát ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
2009 tăng 6.52%, thấp hơn đáng kể so với những năm gần đây. Tuy vậy, mức tăng này
nếu so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới lại cao hơn khá nhiều.
Năm 2010, chính phủ đặt mục tiêu kiểm soát CPI cuối kỳ khoảng 7%. Mục tiêu
này có thể không được hoàn thành khi 2 tháng đầu năm CPI đã tăng 3.35%. Ngoài ra,
nền kinh tế hiện nay vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố có thể dẫn đến lạm phát cao trong
những tháng sắp tới.
Biểu đồ 2.2. CPI cuối kỳ và trung bình giai đoạn 1992 - 2010
Biểu đồ 2.3. Lạm phát các quốc gia trên thế giới (xem thêm phụ lục)
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Minh Tuấn 12 SVTH: Nguyễn Duy Kiên
Đề tài: Lạm phát ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
2.1.2. Nguyên nhân thực sự gây ra lạm phát cao ở Việt Nam
Có thể tóm tắt các yếu tố tác động đến lạm phát xuất phát từ 3 nguyên nhân
chính: cung tiền tăng quá mức, giá hàng hóa thế giới tăng cao đột ngột, và sức cầu về
hàng hóa trong nước tăng trong khi sản xuất chưa đáp ứng kịp.
2.1.2.1. Cung tiền tăng quá mức
Thời gian qua, nhiều ý kiến đồng thuận cho rằng cung tiền được xem là nguyên
nhân chính gây ra lạm phát ở Việt Nam. Từ năm 2000 đến năm 2009, tín dụng trong
nền kinh tế tăng hơn 10 lần, cung tiền M2 tăng hơn 7 lần, trong khi đó GDP thực tế chỉ
tăng hơn 1 lần. Điều này tất yếu dẫn đến đồng tiền bị mất giá. Thực tế chúng ta dễ
nhận thấy là lạm phát ở Việt Nam cao hơn rất nhiều so với các quốc gia khác trong
cùng thời kỳ, mặc dù cùng chịu chung cú sốc tăng giá của hàng hóa thế giới.
Tại sao Việt Nam cần một mức tăng trưởng cung tiền cao như vậy? Nguyên
nhân là do tỷ lệ đầu tư/GDP trong nền kinh tế Việt Nam khá cao, nhưng lại không tạo
ra được một tốc độ tăng trưởng kinh tế tương ứng.
Hàng năm, đầu tư trong nền kinh tế đều quanh mức 40% GDP. Tỷ lệ đầu tư lớn
này đòi hỏi một mức tăng trưởng tín dụng và cung tiền cao để phục vụ nhu cầu đầu tư.
Tuy vậy, theo tính toán của Bộ Công thương việc tăng giá điện tác động trực
tiếp chỉ làm CPI tăng 0.16%. Một số ngành công nghiệp với chi phí tiền điện cao
(chiếm 30 - 40% giá thành) như cấp nước, điện phân… giá đầu ra sản phẩm tăng thêm
khoảng 2.83 – 3.5%. Những ngành sản xuất thâm dụng năng lượng khác như cán thép,
xi măng giá thành tăng thêm khoảng 0.20 – 0.69%. Tổng hợp chi phí tiêu dùng cuối
cùng chỉ tăng từ 0.19 – 0.27%.
Thực tế, ước lượng mức độ tác động thực sự của việc tăng giá hàng hóa cơ bản
này đến CPI là việc làm khó khăn. Việc tăng giá điện, xăng dầu ngoài ảnh hưởng đến
chi phí sản xuất, còn tác động lên kỳ vọng của người tiêu dùng. Nếu kỳ vọng về mức
lạm phát cao trong tương lai thì mức lạm phát thực tế càng trở nên trầm trọng. Điều
này thường xảy ra đối với những nền kinh tế mà cơ chế thị trường kém hiệu quả.
2.1.3.2. Ảnh hưởng của việc điều chỉnh tỷ giá
Ngày 10/02, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) quyết định điều chỉnh tỷ giá liên
ngân hàng tăng thêm 3.3%, đưa mức trần tỷ giá chính thức lên 19,100 VND/USD.
Nhiều nhận định cũng quan ngại về việc điều chỉnh tỷ giá này sẽ ảnh hưởng tới đà tăng
giá của hàng hóa trong nước, vì tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hiện nay đã bằng
khoảng 1.5 lần GDP.
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Minh Tuấn 14 SVTH: Nguyễn Duy Kiên
Đề tài: Lạm phát ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
Nhiều mặt hàng tiêu dùng thiết yếu của Việt Nam bị ảnh hưởng khá mạnh bởi
tỷ giá. Vừa qua một số hàng hóa như sữa, sắt thép… cũng điều chỉnh giá bán sau khi
tỷ giá được điều chỉnh. Hiện nay, nhiều nhận định còn cho rằng tỷ giá tiền đồng vẫn có
khả năng tiếp tục được điều chỉnh trong thời gian tới. Do vậy, đây cũng là một trong
những nguyên nhân rất đáng được quan tâm.
2.1.3.3. Hiệu ứng từ việc tăng lương tối thiểu
Năm 2010, mức lương cơ bản được điều chỉnh tăng khoảng 10-15%, tùy từng
khu vực. Việc tăng lương tối thiểu sẽ ảnh hưởng đến chi phí sản xuất của doanh
nghiệp và ảnh hưởng tới giá cả hàng hóa. Ngoài ra, việc tăng lương tối thiểu cũng có
thể tạo ra một hiệu ứng tăng giá ăn theo trên thị trường.
2.1.3.4. Lạm phát do yếu tố cầu kéo
bối cảnh kinh tế Việt Nam năm 2010. Dữ liệu CPI, tăng trưởng tín dụng, cung tiền M2
và chỉ số giá hàng hóa được tính theo chu kỳ 12 tháng. Nguồn dữ liệu cập nhật từ IMF,
Tổng cục Thống kê và NHNN, từ tháng 01/2007 đến tháng 02/2010.
[**]
Trích: Hồ Bá Tình, Bài viết: “Lạm phát trong năm 2010 có đáng lo ngại?”,
www.tinnhanhchungkhoan.vn, Thứ Ba, 21/12/2010
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Minh Tuấn 16 SVTH: Nguyễn Duy Kiên
Đề tài: Lạm phát ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
Kết quả dự báo cho thấy chỉ số CPI của tháng 3 tăng khoảng 0,87%, mức tăng
này thấp hơn khá nhiều so với 4 tháng gần đây. Tuy vậy, đây lại là mức cao so với
cùng kỳ của những năm vừa qua (trừ năm 2008).
Trong mô hình dự báo, giả định NHNN sẽ kiểm soát tăng trưởng tín dụng trong
năm 2010 ở mức khoảng 30% (mục tiêu này của NHNN trong năm 2010 là 25%). Với
mức này thì tín dụng vào tháng 5 và tháng 6/2010 có thể sẽ tăng trưởng ở mức 30%
(YoY) và tăng trưởng cung tiền M2 cũng chỉ khoảng 20% (YoY). Với các giả định
này, mô hình của chúng tôi chỉ ra CPI kết thúc năm 2010 sẽ quanh mức 8,7%.
Bảng 2.1. CPI dự báo cho từng tháng và cả năm 2010
Tháng
(2010)
1a 2a 3f 4f 5f 6f 7f 8f 9f 10f 11f 12f
CPI
(MoM)
1,36 1,96 0,87 0,34 0,75 0,37 0,09 0,43 0,48 0,18 0,56 0,98
CPI lũy
kế
1,36 3,35 4,25 4,60 5,39 5,78 5,88 6,34 6,85 7,04 7,64 8,70
CPI
(YoY)
7,62 8,46 9,59 9,58 9,93 9,73 9,27 9,47 9,32 9,11 9,12 8,70
Nguồn: TCTK và Vietstock dự báo Ghi chú: (a) thực tế (f) dự
Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng trên cơ sở tích cực huy động vốn và
cho vay hiệu quả các dự án.
Kiểm soát chặt chẽ cung ứng tiền tệ của ngân hàng nhà nước cho mục tiêu
ngoại tệ, ổn định thị trường ngoại tệ và tỷ giá đồng Việt Nam
Nâng cao hiệu quả sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc
Tăng cường hiệu lực của công tác thanh tra đối với ngân hàng thương mại
Xử lý tốt mối quan hệ với ngân hàng nhà nước, phát triển thị trường vốn,
đồng thời phát triển ồn định thị trường chứng khoán, hòa nhập vào nền
kinh tế thế giới, nhất là khi Việt nam gia nhập và tổ chức thương mại thế
giới WTO
• Tổ chức quản lý nợ nước ngoài có kế hoạch và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn
đầu tư từ nước ngoài.
Tóm lại, trong tình hình hiện nay cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành,
các cấp trong việc thực hiện có hiệu quả về chính sách kinh tế vĩ mô và vi mô của nhà
nước: giải quyết tốt vấn đề thâm hụt ngân sách, chấn chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu,
điều hành tốt giá cả và lưu thông hàng hóa…đề đảm bảo vừa tăng trưởng kinh tế vừa
kiềm chế lạm phát ở mức tốt nhất.
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Minh Tuấn 18 SVTH: Nguyễn Duy Kiên
Đề tài: Lạm phát ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
CHƯƠNG 3.
NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT
CHO MÔN HỌC
3.1 Nhận xét
Kinh tế vĩ mô là môn học nghiên cứu, phân tích nền kinh tế một cách tổng thể
thông qua các biến số: tổng sản phẩm quốc gia, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, lượng
cung tiền trong nền kinh tế…trên cơ sở đó đề ra các biện pháp nhằm ổn định và thúc
đẩy kinh tế. Vì vậy môn học này có tính thực tiễn và vận dụng rất rộng rãi trong mỗi
cá nhân, mỗi doanh nghiệp và cho cả một quốc gia đó.
Nghiên cứu về kinh tế vĩ mô sẽ giúp các bạn sinh viên trang bị và tiếp cận một
nền tảng kiến thức kinh tế vĩ mô nói chung và vấn đề lạm phát nói riêng, kết hợp trong
riêng.
• Đây cũng là đề tài thu hút sự chú ý rộng rãi của mọi người trên khắp các diễn
đàn báo chí, truyền thông, internet…đều này giúp chúng ta tiếp cận môn học
một cách dễ dàng hơn, thuận lợi hơn.
3.2. Đánh giá
Môn học kinh tế vĩ mô có tầm quan trọng, có ý nghĩa thiết thực cho sinh viên
khối ngành kinh tế nói chung, quản trị kinh doanh nói riêng. Sau khi hoc môn này sinh
viên có thể nắm được các phương hướng để đánh giá, phân tích nền kinh tế, làm nền
tảng cho việc nghiên cứu các môn học khác.
Bên cạnh đó sinh viên sẽ nắm được xu thế phát triển của nền kinh tế ở hiện tại
và tương lai, từ đó có thể vận dụng trong thực tế kinh doanh sau này.
Vì vậy Kinh tế học vĩ mô là một phạm trù, một môn học rất thiết thực và cần
thiết không thể thiếu trong hoạch định đào tạo của ngành học kinh tế và của toàn xã
hội.
3.3. Đề xuất đối với trường, khoa
Khoa nên chỉnh sửa, xuất bản giáo trình môn học kinh tế vĩ mô hoàn
thiện hơn,. Giáo trình nên đưa nhiều ví dụ thực tiễn về kinh tế vĩ mô ở
Việt nam cũng như các nước khác để sinh viên dễ dàng tiếp thu hơn.
Tạo điều kiện cho sinh viên có thể nghiên cứu các vấn đề một cách sâu
rộng và thực tế, thông qua việc nghiên cứu các chuyên đề riêng mà nội
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Minh Tuấn 20 SVTH: Nguyễn Duy Kiên
Đề tài: Lạm phát ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
dung xoay quanh kinh tế vĩ mô. Điều này đã được thực hiện nhưng vấn
đề giới hạn về thời gian đã không cho phép sinh viên nghiên cứu trao đổi
tại lớp, chỉ là tự học tại nhà thì chưa đủ để sinh viên trang bị kiến thức
sâu, mà trái lại sinh viên chỉ đơn thuần là biết “cưỡi ngựa xem hoa” về
môn học mà thôi.
Trường, khoa cũng nên xuất bản những tạp chí về kinh tế tổng hợp các
bài phân tích của các chuyên gia, các giảng viên chuyên ngành…về các
vấn đề kinh tế hiện tại cập nhật những thông tin mới, kịp thời hiện tại để
• www.vi.wikipedia.org
• www.tinnhanhchungkhoan.vn
• www.google.com.vn
• www.indexmundi.com
GVHD: PGS. TS. Nguyễn Minh Tuấn 23 SVTH: Nguyễn Duy Kiên
Đề tài: Lạm phát ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
PHẦN PHỤ LỤC
Country Comparison : Inflation rate (consumer prices)
Definition: This entry furnishes the annual percent change in consumer prices
compared with the previous year's consumer prices.
Source: CIA World Factbook - Unless otherwise noted, information in this
page is accurate as of January 1, 2009
Rank Country Inflation rate (consumer prices) (%)
1 Zimbabwe 563
2 Ethiopia 44.4
3 Seychelles 37
4 Venezuela 30.4
5 Mongolia 28
6 Burma 26.8
7 Kenya 26.3
8 Iran 25.6
9 Ukraine 25.2
10 Kyrgyzstan 24.5
11 Vietnam 24.4
12 Burundi 24.1
13
Sao Tome and
Principe
23
14 Sri Lanka 22.6