Phần I: NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
CHUYÊN ĐỀ 1: BẢN CHẤT CỦA NHÀ NƯỚC XHCN
CÂU 1: NGUỒN GỐC CỦA NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
NN và pháp luật là những hiện tượng xã hội phức tạp của đời sống con người, được sinh
ra khi xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định trên những tiền đề của nó. Muốn hiểu được
bản chất của NN, pháp luật và các quy luật phát triển của chúng nói chung cần phải làm sáng tỏ
nguyên nhân và quá trình phát sinh của NN, pháp luật.
- Một số quan điểm trước Mác
NN là một hiện tượng xã hội phức tạp, để giải thích cho sự hình thành NN, đã có nhiều
quan niệm khác nhau:
+ Thuyết thần học cho rằng: Thượng đế là người sắp đặt trật tự xã hội, NN là do thượng
đế sáng tạo ra để bảo vệ trật tự chung, do vậy NN là lực lượng siêu nhiên và với quyền lực vĩnh
cưủ và sự phục tùng quyền lực này là cần thiết và tất yếu.
+ Thuyết gia trưởng cho rằng: NN là kết quả sự phát triển tự nhiên của gia đình, là hình
thức tổ chức tự nhiên của cuộc sống con người, vì vậy NN có trong mọi xã hội và quyền lực NN
về bản chất cũng giống như quyền gia trưởng của người đứng đầu gia đình.
+ Thuyết khế ước xã hội cho rằng: Các học giả tư sản cho rằng sự ra đời của NN là sản
phẩm của một khế ước (hợp đồng) được ký kết trước hết là giữa những con người sống trong
trạng thái tự nhiên không có NN. Vì vậy, NN phản ảnh lợi ích của các thành viên trong xã hội và
mỗi thành viên đều có quyền yêu cầu NN phục vụ, bảo vệ lợi ích của họ.
+ Thuyết bạo lực cho rằng: NN xuất hiện trực tiếp từ việc sử dụng bạo lực của thị tộc của
thị tộc này đối với thị tộc khác mà kết quả là thị tộc chiến thắng nghĩ ra một hệ thống cơ quan đăc
biệt để nô dịch kẻ chiến bại.
+ Thuyết tâm lý cho rằng: NN xuất hiện do nhu cầu về tâm lý của con người nguyên thủy
luôn muốn phụ thuộc vào các thủ lĩnh, giáo sỹ…Vì vậy NN là tổ chức của những siêu nhân có sứ
mạng lãnh đạo xã hội.
+ Thuyết “NN siêu trái đất”cho rằng: Sự xuất hiện xã hội loài người và NN là sự du nhập
và thử nghiệm những thành tựu của một nền văn minh ngoài trái đất.
+ Hạn chế:
* Do nhận thức còn hạn chế hoặc do lợi ích giai cấp chi phối nên cố tình giải thích sai
những nguyên nhân đích thực làm phát sinh NN.
động.
- Cơ sở của xã hội không phải là gia đình mà là tổ chức thị tộc.
+ Thị tộc tổ chức theo huyết thống. Ơ giai đoạn đầu, các thị tộc tổ chức theo chế độ mẫu
hệ. Dần dần sự phát triển của xã hội đã tác động làm vai trò của người đàn ông thay đổi và ngày
càng nắm vai trò quan trọng trong đời sống thị tộc và chế độ mẫu hệ chuyển thành chế độ phụ hệ.
+ Trong thị tộc mọi người đều tự do và bình đẳng. Không một ai có đặc quyền, đặc lợi
trong đối với người khác. Trong thi tộc có sự phân công lao động, nhưng đó chỉ là sự phân công
lao động tự nhiên giữa đàn ông và đàn bà, giữa người già và trẻ nhỏ, chưa mang tính xã hội
2. Quyền lực xã hội và quy phạm xã hội trong chế độ CSNT:
b. Quyền lực xã hội và quy phạm xã hội trong chế độ CSNT:
- Quyền lực trong xã hội cộng sản nguyên thủy mang tính chất là quyền lực xã hội. Do xã
hội tổ chức ra và phục vụ lợi ích của cả cộng đồng. Không mang tính chất giai cấp và hệ thống
quản lý rất đơn giản.
Để quản lý thị tộc, xuất hiện hội đồng thị tộc, thành viên là những người lớn tuổi trong thị
tộc. Hội đồng thị tộc là tổ chức quyền lực cao nhất của thị tộc, quyết định các vấn đề quan trọng
của thị tộc. Các quyết định thể thiện ý chí chung của các thành viên hội đồng trên cơ sở sự tín
nhiệm của thị tộc.
Các thành viên hội đồng thị tộc không có đặc quyền, đặc lợi mà cùng chung sống, cùng
lao động và cùng hưởng thụ như các thành viên khác. Họ có thể bị bãi miễn nếu không được tín
nhiệm. Từ chế độ thị tộc, phát triển thành bào tộc (liên minh các thị tộc) và bộ lạc (gồm nhiều bào
tộc).
- Thị tộc liên minh với nhau tạo thành bào tộc và bộ lạc. Bào tộc bầu ra Hội đồng bào tộc.
Hội đồng bào tộc bao gồm các tù trưởng, thủ lĩnh quân sự (đã không phải là các thành viên của
bào tộc). Tổ chức quyền lực trong bào tộc và bộ lạc cũng dựa trên cơ sở những nguyên tắc tương
tự của tổ chức quyền lực trong thị tộc, nhưng đã thể hiện mức độ tập trung quyền lực cao hơn.
Tuy nhiên quyền lực vẫn mang tính xã hội.
- Trong xã hội cộng sản nguyên thủy không có pháp luật, không có các quy phạm do cơ
quan tổ chức nào đặt ra để buộc các cá nhân khác phải tuân theo mà là các quy phạm xã hội.
- Quy phạm xã hội là những quy tắc xử sự chung thể hiện ý chí chung của các thành viên
như các quy phạm mang tính chất tập quán, các tín điều tôn giáo đề điều chỉnh các quan hệ xã hội
- Quyền lợi của hai giai cấp này đối lập nhau và mâu chuẩn giai cấp ngày càng quyết liệt,
các quy phạm xã hội và quyền lực xã hội không còn phù hợp dẫn đến sự tan rã của chế độ thị tộc.
- Xã hội đòi hỏi phải có một tổ chức mới để điều hành và quản lý xã hội mới, tổ chức đó
do toàn bộ những điều kiện tồn tại của nó, là công cụ quyền lực của giai cấp nắm ưu thế về kinh
tế và dĩ nhiên là tổ chức thực hiện sự thống trị của gia cấp để dập tắt các xung đột công khai giữa
các giai cấp hoặc là hướng sự xung đột đó theo một hình thức hợp pháp. Tổ chức đó chính là NN.
Tóm lại: Sau 3 lần phân công lao động xã hội lớn trong chế độ CSNT, của cải xã hội ngày
càng nhiều hơn xuất hiện chế độ tư hữu, xuất hiện giai cấp và mâu thuẫn giai cấp giữa người giàu
và người nghèo ngày càng quyết liệt, các quy phạm xã hội và quyền lực xã hội thể hiện ý chí
chung của toàn xã hội không còn phù hợp dẫn đến sự tan rã của chế độ thị tộc. Xã hội đòi hỏi
phải có một tổ chức có khả năng dập tắt các xung đột công khai giữa các giai cấp hoặc là hướng
sự xung đột đó theo một hình thức hợp pháp. Tổ chức đó chính là NN.
Ăng - ghen khẳng định: “NN không phải là một thế lực gán ghép vào xã hội…. nó là sản
phẩm của xã hội phát triển tới một giai đoạn nhất định, nó là sự thừa nhận rằng xã hội đó bị kìm
hãm trong một sự mâu thuẫn với bản thân nó mà không sao giải quyết được, rằng xã hội đã bị
phân chia thành những cực đối lập không thể điều hoà mà xã hội đó không đủ sức để giải thoát
ra được…”( Các Mác - Ăngghen tuyển tập, tập 2, NXB Sự thật năm 1962 trang 520, 521)
Như vậy: NN xuất hiện một cách khách quan, nó là sản phẩm của một xã hội đã phát triển
đến một giai đoạn nhất định. NN “không phải là quyền lực từ bên ngoài áp đặc vào xã hội”, một
lực lượng “tựa hồ như đứng trên xã hội”, có nhiệm vụ làm dịu bớt sự xung đột và giữ cho sự
3
xung đột đó nằm trong vòng “trật tự”. (Mác – Anghen, tuyển tập, Tập 6, Nxb Sự thật, H. 1984, tr.
260)
NN là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, có một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ
cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt nhằm thực hiện những mục đích và bảo
vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp đối kháng.
* NN khác với các tổ chức khác trong xã hội có giai cấp.
NN khác các tổ chức xã hội trong xã hội có giai cấp ở những nội dung cơ bản sau:
+ NN thiết lập một quyền lực công cộng đặc biệt không còn hoà nhập vào dân cư nữa.
Chủ thể của quyền lực này là giai cấp thống trị .
tưởng gay gắt nhất. Đồng thời đây cũng là một trong những vấn đề khó nhất đã "trở thành
trung tâm của mọi vấn đề chính trò và mọi tranh luận chính trò". Có rất nhiều quan điểm khác
nhau về vấn đề này:
- Các quan điểm trước Mác:
+ Điển hình như các nhà tư tưởng cổ đại cho rằng: giàu nghèo, sang hèn và các đẳng cấp
trong xã hội đều do thượng đế tạo ra, đó là quy luật tự nhiên của mn đời và vì vậy cần có một
con người (vua) do thượng đế cử xuống, thay mặt trời bảo vệ trật tự chung.
. Các nhà theo tư tưởng gia trưởng lại cho rằng: NN tồn tại vĩnh viễn như gia đình, như
quyền lực của người gia trưởng đứng đầu gia đình.
. Bên cạnh đó, thuyết bạo lực xác định: NN ra đời đơ thị tộc chiến thắng nghĩ ra.
. Hay thuyết tâm lý lại cho rằng: NN ra đời do nhu cầu tâm lý của con người muốn sống
phụ thuộc vào các thủ lĩnh.
+ Khác với họ, các nhà tư sản coi sự ra đời của NN là một khế ước được ký kết trước hết
là giữa những con người sống trong hiện trạng tư nhiên khơng có NN. Với tư tưởng như vậy, các
nhà tư sản muốn đạt được 2 mục đích: khi coi NN được hình thành từ khế ước giữa con người với
nhau thì con người có quyền u cầu NN phục vụ và bảo vệ lợi ích của họ (tức là chống sự
chun chế của NN phong kiến); đồng thời nhằm chống lại tư tưởng tơn giáo phong kiến cho rằng
NN do thượng đế tạo ra.
Các học thuyết phi Mác xít nói trên đều mang tính chủ quan, đều vơ tình hoc85 cố ý lãng
tránh bản chất giai cấp của Nhà nước.
- Quan điếm chủ nghĩa Mác- Lê
Với phương pháp luận khoa học, trên cơ sở kế thừa và phát triển những thành tựu của
nhiều bộ môn khoa học, học thuyết Mác-lênin về nhà nước và pháp luật đã giải thích được
một cách đúng đắn vấn đề bản chất và ý nghóa của nhà nước nói chung cũng như của nhà
nước xã hội chủ nghóa nói riêng.
Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước” của
Ph.Ăng-ghen và tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” của V.I.Lê-nin, theo quan điểm của chủ
nghĩa Mác-Lê-nin, thì:
+ Nhà nước xuất hiện là mang tính khách quan, như khơng phải là hiện tượng xã hội vĩnh
cữu và bất biến. Nhà nước ln vận động, phát triển và tiêu vong khi những điều kiện khách quan
Tại điều 17 Hiến Pháp năm 1992 của nước CHXHCNVN có quy đònh: “Đất đai, rừng
núi, sơng hồ, nguồn nước, tài ngun trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng
trời…. là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu tồn dân”. Đó là tiềm lực kinh tế lớn của NN VN
+ Quyền lực chính trị: là bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp giai cấp khác.
NN là một bộ máy bạo lực do giai cấp thống trị tổ chức ra để trấn áp các giai cấp đối kháng. Với
ý ngĩa đó, NN là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị. Giai cấp thống trị sử dụng NN là
cơng cụ để thực hiện quyền lực chính trị. Ý chí của giai cấp thống trị thơng qua NN trở thành ý
chí của NN, ý chí của NN có sức mạnh buộc các giai cấp khác phải tn theo một “trật tự” do
giai cấp thống trị đặc ra, phải phục vụ lợi ích của gia cấp thống trị. Làm như vậy, g/c thống trị đã
thực hiện sự chun chính của mình đối với g/c khác. Cơng cụ để thực hiện sự chun chính
chính là NN.
Cụ thể: lịch sử đã chỉ ra rằng:
. Trong các xã hội bóc lột, nền chuyên chính của các giai cấp bóc lột đều có đặc điểm
chung là duy trì sự thống trò về chính trò, kinh tế và tư tưởng của thiểu số người bóc lột đối
với đông đảo nhân dân lao động. Các nhà nước bóc lột đều có chung bản chất là bộ máy để
thực hiện nền chuyên chính của giai cấp bóc lột: Nhà nước chủ nô là công cụ chuyên chính
của giai cấp chủ nô, nhà nước phong kiến là công cụ chuyên chính của giai cấp đòa chủ phong
kiến, nhà nước tư sản là công cụ chuyên chính của giai cấp tư sản.
. Nghiên cứu về NN tư bản chủ nghĩa, nhận thấy tồn tại mâu thuẫn đối kháng giữa hai giai
cấp: giai cấp tư sản và giai cấp cơng nhân, bên cạnh đó còn có nhiều giai cấp khác trong xã hội.
NN tư bản chủ nghĩa là NN của giai cấp tư sản, do giai cấp tư sản lập ra, tổ chức một bộ máy bao
gồm các cơ quan NN và ban hành hệ thống các quy phạm PL quy định mọi hành vi của mọi cơng
dân trong xã hội. Hệ thống quy phạm PL này được hình thành là dựa vào ý chí của giai cấp tư
sản, phục vụ cho giai cấp tư sản, bảo vệ quuyền lợi và các lợi ích của họ. Các cơ quan NN (bao
gồm Cơng an, Tồ án, nhà tù…) có chức năng, thẩm quyền và sức mạnh trấn áp, bắt buộc mọi
người dân trong xã hội phải chấp hành hệ thống các quy phạm PL một cách triệt để.
. Khác với điều đó, nhà nước xã hội chủ nghóa với bản chất chuyên chính vô sản, là bộ
máy để củng cố đòa vò thống trò và bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao
6
động chiếm đa số trong xã hội, để trấn áp những lực lượng thống trò cũ đã bò lật đổ và những
nảy sinh trong xã hội, nghĩa là phải thực hiện các chức năng xã hội. Điều đó nói lên rằng NN là
một hiện tượng phức tạp và đa dạng, nó vừa mang bản chất giai cấp lại vừa mang bản chất xã hội.
NN là phương thức tổ chức đảm bảo lợi ích chung của xã hội, thể hiện ở việc NN phải
chăm lo, tính đến quyền lợi, lợi ích hợp pháp, nguyện vọng, ý chí của các giai tầng khác, của mọi
người dân khơng kể giống nòi, tơn giáo, dân tộc… Tất cả các NN khơng chỉ “khư khư” bảo vệ lợi
ích của mình, khơng chỉ phục vụ cho bản thân mình, mà còn phải chú trọng đến an sinh xã hội
(làm đường, xây trường học…), quan tâm đến những vấn đề chung tác động đến xã hội. NN nào
coi nhẹ vấn đề này NN đó khơng sớm thì muộn hiệu lực quản lý sẽ suy giảm và dẫn đến suy vong.
Đấy là câu trả lời cho NN Việt Nam rất quan tâm đến những đối tượng chính sách trong
xã hội, có sự ưu tiên cho những đồng bào dân tộc ở Tây Ngun và miền tây Nam Bộ, có chính
sách khuyến khích nhiều thành phần kinh tế phát triển, ưu đãi với các nhà đầu tư nước ngồi…
Ví dụ: trong đối nội: NN giải quyểt các vấn đề nảy sinh từ đời sống XH như: đói nghèo,
bệnh tật, chiến tranh, các vấn đề về mơi trường, phòng chống thiên tai, địch hoạ, về dân tộc, tơn
giáo và các chính sách XH khác.v.v…Trong đối ngoại: NN bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia,
bảo về cơng dân nước mình đang sinh hoạt cơng tác ở nước khác
7
Tóm lại, mặc dù mỗi kiểu NN có bản chất riêng nhưng các NN đều có một số đặc điểm
chung đó là: NN là bộ máy để thực hiện sự thống trị giai cấp. Lênin định nghĩa:
“+NN là một bộ máy để duy trì sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác. NN
XHCN cũng có một số đặc điểm chung như các kiểu NN khác, nhưng với bản chất là chuyên
chính vô sản nó không còn là NN theo đúng nghĩa nữa mà chỉ là "nửa NN"
+.NN là bộ phận của kiến trúc thượng tầng, là sản phẩm của một chế độ kinh tế nhất định.
Sự phát triển của NN là do cơ sở hạ tầng quyết định.
+NN là một bộ máy đặc biệt để trấn áp các giai cấp khác và thực hiện sự quản lý về kinh
tế-xã hội.
+Tính giai cấp là mặt cơ bản thể hiện bản chất của NN. Tuy nhiên, bên cạnh đó NN còn
thể hiện rõ nét tính xã hội. Dù trong xã hội nào, NN cũng một mặt bảo vệ lợi ích của giai cấp
( lực lượng) cầm quyền, nhưng đồng thời cũng phải chú ý đến lợi ích chung của toàn xã hội.
Từ những kết luận trên có thể đi đến khái niệm sau: NN là một tổ chức đặc biệt của
quyền lực chính trị, có một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức
thể hiện bản chất giai cấp sâu sắc đó là bản chất nhân dân (Thể hiện trong Điều 2 Hiến pháp năm
1992 (sửa đổi năm 2001): “Nhà nước CHXHCNVN là NN pháp quyền XHCN của ND, do ND, vì
8
ND. Tất cả quyền lực NN thuộc về ND mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai
cấp nông dân và đội ngũ trí thức”.
9
Câu 3 : Vị trí, Đặc Trưng của NN trong xã hội có giai cấp
NN ra đời là một quá trình phát triển của XH loài người đến một giai đoạn nhất đònh.
Cụ thể là: sau khi trải qua 3 lần phân công lao động trong xã hội (trồng trọt tách khỏi chăn
nuôi, thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp và thương nghiệp, đồng tiền ra đời). Trong Cộng
xã nguyên thủy chua có Nhà nước là vì các quan hệ xã hội được được quảnlý bằng các quy
phạm xã hội của thò tộc, bộ tộc, bộ tộc… Nhưng sau khi thương nghiệp ra đời, do di chuyển
trao đổi hàng hóa từ nhiều vùng miền (từ đông sang tây, ngược lại…) vì vậy đã nãy ra nhu cầu
cần có một tổ chức đứng ra quản lý thống nhất. Đó là NN.
Có thể khẳng đònh, NN ra đời là một tất yếu khách quan, một cách tự nhiên chứ không
phải gượng ép.
Ta có thể hiểu NN là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, có một bộ máy chun
làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt nhằm thực hiện những mục
đích và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp đổi kháng.
Vị Trí của NN
* NN so v
ới Xã hội:
Để xác đònhvò trí của nhà nước trong xã hội có giai cấp trước hết cần tìm hiểu mối
quan hệ giữa nhà nước và xã hội có giai cấp nói chung. Nhà nước và xã hội có giai cấp là hai
hiện tượng có quan hệ qua lại với nhau; giữa chúng vừa có sự thống nhất lại vừa có sự khác
biệt.
- Sự thống nhất thể hiện ở chỗ xã hội có giai cấp không thể tồn tại thiếu nhà nước
đồng thời nhà nước chỉ xuất hiện, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp.
- Mặt khác, nhà nước và xã hội không đồng nhất với nhau.
đường lối, chính sách nhằm thực hiện các nhiệm vụ chính trò của giai cấp cầm quyền. Các chủ
trương chính sách của nhà nước bao giờ cũng thể hiện một cách trực tiếp lợi ích kinh tế, chính
trò của các giai cấp.
Chẳng hạn:
+ Chính sách của nhà nước tư sản luôn luôn xuất phát từ chế độ tư hữu về tư liệu sản
xuất tư bản chủ nghóa, phản ánh và bảo vệ các lợi ích chung của giai cấp tư sản.
+ Chính sách của nhà nước xã hội chủ nghóa dựa trên chế độ sở hữu xã hội chủ nghóa
về tư liệu sản xuất luôn phản ánh và bảo vệ lợi ích chung của giai cấp công nhân và nhân dân
lao động.
Nhà nước giữ vai trò quyết đònh trong việc thực hiện những lợi ích cơ bản của giai cấp
cho nên sự tham gia của nhà nước vào việc xác đònh nhiệm vụ chính trò, kinh tế, xã hội, xác
đònh phương hướng, hình thức và nội dung hoạt động của nhà nước là yếu tố quan trọng trong
chính sách của nhà nước.
Đặc trưng của NN:
Trong xã hội có giai cấp, để bảo vệ và thực hiện những lợi ích của giai cấp mình, ngồi
NN ra, giai cấp thống trị còn thiết lập nhiều tổ chức chính trị xã hội khác, trong đó có các đảng
phái chính trị. Trong các tổ chức chính trị xã hội này, NN nằm ở vị trí trung tâm, vì: NN có các cơ
cơ quan đặc biệt và các phương tiện vật chất khác kèm theo mà các tổ chức chính trị xã hội khác
khơng có được.
- So với các tổ chức khác trong XH có giai cấp, NN có một số
đặc
trưng
sau đây:
+ NN thiết lập một quyền lực cơng cộng đặc biệt khơng còn hồ nhập vào dân cư nữa. Chủ
thể của quyền lực này là giai cấp thống trị. NN là một tổ chức đặc biệt có nhiệm vụ quản lý xã
hội.
Để thực hiện quyền lực NN và để quản lý xã hội, NN tạo ra một hệ thống các cơ quan NN,
Để được xác định là một quốc gia hay một NN thì NN đó phải đảm bảo 3 yếu tố: lãnh thổ - dân
cư – chủ quyền. Trước năm 1945, trên bản đồ thế giới khơng có nước Việt Nam mà chỉ là xứ An
Nam vì còn đang nằm dưới ách đơ hộ của thực dân Pháp. Pháp chia xứ An Nam thành 3 kỳ: bắc
kỳ, Trung kỳ và nam kỳ. Mọi vấn đề đối nội, đối ngoại do người Pháp quyết định.
- NN ban hành PL và thể hiện sự quản lý bắt buộc của mình đối với mọi cơng dân.
Với tư cách là người đại diện chính thức của tồn bộ xã hội, NN là chủ thể duy nhất có
quyền ban hành PL và quản lý xã hội trênc ơ sở hệ thống PL do mình ban hành. PL do NN ban
hành có tính bắt buộc chung, mọi cơng dân đều phải tơn trọng và thực hiện theo PL.
Các tổ chức khác trong xã hội chỉ được quyền ban hành các thể lệ, điều lệ, quy chế,… và
những thể lệ đó chỉ có hiệu lực điều chỉnh trong nội bộ tổ chức đó.
Ví dụ: Điều lệ Đảng CSVN chỉ có hiệu lực điều chỉnh đối với trên 3 triệu đảng viên, còn
những người khác trong xã hội thì khơng điều chỉnh được. Thế nhưng, khi một quy phạm xã hội
ban hành (chẳng hạn như: “người nào giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do
hành vi trái PL nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của
người đó thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”) thì bất kỳ ai, có xuất xứ như thế nào, thuộc
dân tộc nào,… cũng phải tn theo. Điều 12 - HP 1992 đã quy định: “Nhà nước quản lý xã hội
bằng PL, khơng ngừng tăng cường pháp chế XHCN. Các cơ quan NN, tổ chức kinh tế, tổ chức xã
hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi cơng dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến Pháp, PL, đấu
tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và PL. Mọi hành động xâm
phạm lợi ích của NN, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của cơng dân đều bị xử lý theo
PL”.
NN nào thì có PL của NN ấy. Tất cả những người vi phạm phải chịu những chế tài tương
ứng theo quy định của PL. PL của NN CHXHCN Việt Nam tn thủ ngun tắc chung của quốc
tế nhưng vẫn độc lập trong việc ban hành các quy phạm PL của mình. Chúng ta thấy ở trường hợp
Lê Cơng Định, khi NN ta xem xét và kết tội chống phá chính quyền thì dư luận thế giới đã cho
rằng VN mất dân chủ, vi phạm nhân quyền. Thật ra đây là luận điệu xun tác của các thế lực thù
địch, chống phá. Nhìn lại sự kiện 11/9/2001 ở Hoa Kỳ, từ đó, Chính phủ Hoa kỳ đã liên tiếp phát
động nhiều cuộc chiến tranh vơ lý với lý do là chống khủng bố, bảo vệ quốc gia mình. Thế thì tại
sao VN khơng có quyền xử lý những kẻ chống phá chính quyền để bảo vệ đất nước. Nếu NN ta
không có đặc trung này thì nước ta dễ bò xiêu lòng
đã và đang từng bước đổi mới, vượt qua khủng hoảng, vững chắc đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu
dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.
2. Bản chất củaNN.CHXHCNVN
NN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một trong những mô hình đã được tìm tòi,
sáng tạo dựa trên cơ sở của lý luận khoa học nói trên. Nhưng đồng thời, bên cạnh những “cái
chung”, bản chất NN Việt Nam còn thể hiện những nét riêng
Điều 2 Hiến pháp 1992 được sửa đổi theo nghị quyết 51/QH quy định về bản chất của NN
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam: “NN CHXH CNVN là NN pháp quyền XHCN của nhân
dân, do nhân dân và vì nhân dân, mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với cấp nông dân
và đội ngũ trí thức”. Bản chất của NN ta là:
- NN CHXH CNVN là NN pháp quyền XHCN:
Từ khi ra đời đến nay, tính nhân dân và tính quyền lực nhân dân là cái cơ bản, xuyên suôt
thể hiện bản chất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cho đến trước khi đổi mới, Đảng ta chưa dùng khái niệm nhà nước pháp quyền, mặc dù
trong các bản Hiến pháp 1946,1959,1980 đã thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng pháp
luật và tổ chức Bộ máy nhà nước. Bắt đầu từ Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII (1-1994) Đảng ta
dùng khái niệm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trong nội dung phần 2 về những nhiệm
vụ chủ yếu trong thời gian tới đã nêu nhiệm vụ thứ 7: « xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam
của dân, do dân, vì dân ». Tiếp theo các Đại hội VIII, IX, Đảng đã khẳng định tinh thần quan
điểm này. Văn kiện đại hội X khẳng định “Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền
làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. quyền lực nhà nước là
thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện 3 quyền
lập pháp, hành pháp, tư pháp”
NN pháp quyền là NN tuyên bố và thừa nhận trên thực tế NN nói chung và tất cả các cơ
quan, cũng như những người có chức vụ bị ràng buộc bởi pháp luật tức là hoạt động trên cơ sở
các đạo luật và để chấp hành pháp luật.
NN pháp quyền là NN mà trong đó các đạo luật điều chỉnh những quan hệ xã hội quan
trọng nhất, đồng thời bảo đảm được tính tối cao của Luật đối với các văn bản quy phạm khác.
Như vậy Nhà nước pháp quyền là mục tiêu mà nhân dân ta đang xây dựng. Điều 2 Hiến
pháp ghi nhận, Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nhà nước pháp quyền
các tổ chức thành viên của mặt trận
- Quyền lực NN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lấy liên minh giai cấp cơng
nhân, giai cấp nơng dân và trí thức làm nền tảng:
Bên cạnh ghi nhận Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Hiến pháp ghi
nhân NN ta là NN của dân, do dân và vì dân. Điều này thể hiện bản chất nhân dân và tính quyền
lực nhân dân sâu sắc của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
+ Nhà nước của nhân dân là Nhà nước mà ở đó tất cả hoạt động của các cơ quan nhà
nước, tổ chức xã hội cũng như của các cơng dân đều do nhân dân quyết định (nhân dân là người
làm chủ đất nước). Thể hiện qua những phương diện cụ thể sau:
. Nhà nước là NN của đại đa số dân cư trong XH bao gồm giai cấp cơng nhân và nhân dân
dân lao động. Sứ mạng của NN là chun chính vơ sản. NN thực sự dân chủ với đại đa số nhân
dân lao động và trấn áp đối với g/cấp bóc lột và là tàn dư trước đây. NN khơng chỉ là bộ máy
cưỡng chế mà nó còn là một t/chức thay mặt nhân dân quản lý nền kinh tế XH.
. NN ln giữ vai trò tích cực, sáng tạo, là cơng cụ để xây dựng 1 XH nhân đạo, cơng bằng
và bình đẳng.
Đảng ta đã chỉ rõ “…xây dựng CNXH ở nước ta là q trình thực hiện dân giàu nước
mạnh, tiến lên hiện đại trong một XH nhân dân làm chủ, nhân ái, có văn hóa, có kỷ cương, xóa
bỏ áp bức, bất cơng, tạo điều kiện cho mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc”.
15
Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của ĐCSVN, một lần nữa khẳng
định: “Thực hiện dân chủ XHCN, phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân là nghĩa vụ
quan trọng hàng đầu và cũng là bản chất tốt đẹp của NN ta”.
+ Nhà nước do nhân dân tức là các cơ quan nhà nước đều do nhân dân thành lập ra một
cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước thông qua lá
phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp - là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng
của mọi tầng lớp nhân dân lao động. Nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua các hình
thức kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan NN. Kiến nghị, khiếu nại những việc làm sai
trái của cá nhân, tổ chức có thẩm quyền của NN làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của
nhân dân. (Quốc hội do nhân dân trực tiếp bầu ra; Chính phủ do nhân dân gián tiếp bầu ra…).
+Nhà nước vì nhân dân: Tức là một nhà nước mà hoạt động của các cơ quan nhà nước đều
nghiêm từ mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân".
Trở lại lịch sử hình thành và phát triển của nước CHXHCN VN có thể nhận thấy: Những
thiết chế nhà nước đầu tiên ra đời đã dựa trên cơ sở của dân chủ: Các hình thức Quốc dân đại hội
để bầu ra chính phủ lâm thời; tổng tuyển cử để bầu Chủ tịch nước và đại biểu Quốc hội những
năm đầu tiên sau khi cách mạng tháng Tám thành công; sự ghi nhận chính thức trong Hiến pháp
16
1946, 1959, 1980, và 1992 về xác định quyền lực tối cao thuộc về nhân dân đã khẳng đính rõ
mục tiêu và những bước phát triển của chế độ dân chủ của nước ta
Có thế nói dân chủ là một chế độ chính trị, vừa là qun tham gia quản lý nhà nước và xã
hội của nhân dân, là phương thức và ngun tắc tổ chức xã hội, trong đó có quyền của mỗi cá
nhân; coi trọng cả dân chủ về chính trị, dân chủ về kinh tế và dân chủ trên các lĩnh vực tư tưởng,
văn hóa xã hội.
NN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một NN dân chủ. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là một kiểu NN xã hội chủ nghĩa nên cũng là NN dân chủ. Tuy nhiên, bên cạnh cái
chung đó, NN Việt Nam có những cái riêng khác. Bản chất dân chủ của NN ta thể hiện một cách
tồn diện, trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa và xã hội
+Trong lĩnh vực kinh tế:
. NN thực hiện chủ trương tự do, bình đẳng về kinh tế, tạo ra những điều kiện làm cho nền
kinh tế đất nước có tính năng động, xây dựng quna hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ
phát triển của LLSX
. NN chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu và
hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh cho phép mọi đơn vị kinh tế đều có thể hoạt động theo cơ
chế tự chủ trong sản xuất, kinh doanh hợp tác và cạnh tranh với nhau và đều bình đẳng trước pháp
luật.
=> Để thực hiện chủ trương dân chủ hóa trong lónh vực kinh tế, nhà nước ta đã chú
trọng giải quyết vấn đề căn bản mang tính nguyên tắc là bảo đảm lợi ích kinh tế của người
lao động, coi đó là động lực, đồng thời là mục tiêu của dân chủ hóa. Tuy nhiên lợi ích vật
chất (kinh tế) luôn phải đặt trong mối quan hệ biện chứng với các lợi ích chính trò, tư tưởng,
văn hóa, xã hội. Đồng thời, lợi ích cá nhân phải hài hòa với lợi ích của tập thể và XH.
Đ15 HP92 “NN thực hiện nhất qn chính sách phát triển nền ktế thị trườg định hướng
mất ổn định tình hình chính trị, xâm hại đến lợi ích quốc gia và các quyền chính trị của nhân dân.
Ví dụ: Một số tội danh được quy định trong BLHS năm 1999 như Lạm dụng chức vụ
quyền hạnh CĐTS, nhận hối lộ…
=> Để bảo đảm thực hiện quá trình dân chủ hóa và phát huy quyền làm chủ của nhân
dân, nhà nước luôn đặt ra cho mình nhiệm vụ phải tôn trọng sự kiểm tra, giám sát của nhân
dân, đẩy mạnh và không ngừng đấu tranh chống tệ quan liêu, cửa quyền, tham nhũng trong
bộ máy nhà nước, xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật và không có ngoại lệ đối với bất cứ ai
có hành vi vi phạm.
+ Trong lĩnh vực tư tưởng văn hóa và xã hội
. NN chủ trương tự do tư tưởng và giải phóng tinh thần nhằm phát huy mọi khả năng của
con người. Ví dụ, Điều Đ31 HP “NN tạo đk để cd phát triển tồn diện, giáo dục ý thức cơng dân,
sống và làm việc theo Hiến pháp và pl”
. NN quy định các quyền tự do trong lĩnh vực văn hố tư tưởng và bảo đảm cho mọi người
thực hiện các quyền đó như tự do ngơn luận, tính ngưỡng, nghỉ ngơi, lao động…Đ69 “CD có q tự
do ngơn luận, tự do báo chí, có q được thơng tin; có quyền hội họp, lập hội ”
. NN chủ trương tự do tư tưởng, tuy nhiên cũng nghiêm cấm hành vi lợi dụng tự do, dân
chủ để làm tổn hại lợi ích quốc gia, lợi ích dân dộc: Đ33 HP “ Nghiêm cấm những họat động
văn hóa thơng tinlàm tổn hại lợi ích quốc gia, phá hoại nhân cách đạo đức và lối sống tốt đẹp
của người VN”. CD có q tự do tín ngưỡng tơn giáo nhưng ko dc lợi dụng tơn giáo để làm trái qd
của pl. Đ70 “ CD có q tự do tín ngưỡng tơn giáo, theo họăc ko theo 1 tơn giáo nào Kơ ai được
xâm phạm tự do tín ngưỡng tơn giáo hoặc lợi dụng tín ng tơn giáo để làm trái PL và CS của
NN”.
Hệ tư tưởng qn xuyến trong tồn bộ q trình này là chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và hệ quan điểm đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam đề ra. Ngun tắc cơ bản để
thực hiện dân chủ, phát huy quyền lực NN và quyền làm chủ của nhân dân là bảo đảm sự lãnh đạo
của Đảng đối với NN và tồn bộ hệ thống chính trị.
- NN thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam
NN Cộng hòa XHCN Việt Nam trong tất cả các thời kỳ phát triển của mình đều coi "đại
đồn kết dân tộc" là một ngun tắc cơ bản để thiết lập chế độ dân chủ, phát huy quyền lực nhân
dân, bảo đảm cơng bằng XH, đồng thời là cơ sở để tạo ra sức mạnh của một NN thống nhất. Nhà
Vì mục tiêu dân giàu nước mạnh nên NN Việt Nam đã thực hiện các chính sách XH vì lợi
ích của tất cả các tầng lớp trong XH: như chính sách phúc lợi XH, đầu tư cho phòng chống thiên
tai, vấn đề chế độ y tế, giải quyết việc làm, chống thất nghiệp, giúp đỡ người bà cơ đơn. trẻ em
mồ cơi, chống tệ nạn XH…
Nhà nước không những chỉ đặt ra cơ sở pháp lý mà còn thực hiện việc đầu tư thỏa
đáng cho việc giải quyết các vấn đề xã hội. Đồng thời coi việc giải quyết các vấn đề này là
nhiệm vụ của mọi cấp, mọi ngành và của Nhà nước nói chung.
- NN thực hiện đường lối đối ngoại hòa bình, hợp tác và hữu nghị.
Bản chất của NN CHXHCN VN khơng chỉ thể hiện trong các chính sách đối nội mà còn
thể hiện cả trong chính sách đối ngoại:
. Phương châm "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới" thể hiện một
đường lối ngoại giao mở của NN ta.
. Điều 14 Hiến pháp 1992 đã khẳng định:
"Nước Cộng hòa xã hội chủ nghóa Việt Nam thực hiện chính sách hòa bình hữu nghò, mở
rộng giao lưu và hợp tác với tất cả các nước trên thê' giới, không phân biệt chế độ chính trò và
xã hội khác nhau, trên cơ sở tôn trọng độc lập chí quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không
can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi , tăng cường đoàn
kết hữu nghò và quan hệ hợp tác với các nước xã hội chủ nghóa và các nước láng giềng, tích
cực ủng hộ và góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập
dân tộc, dân chủ và tiên bộ xã hội".
Tóm lại của câu:
Những đặc điểm có tính bản chất nêu trên của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghóa
Việt Nam trong các điều kiện hiện tại đã được thể hiện cụ thể trong các nhiệm vụ, chức năng
của nhà nước và được pháp luật quy đính một cách chặt chẽ, đồng thời được phản ánh trong
tổ chức và hoạt động thực tiễn của Nhà nước ta. Đương nhiên, để có thể đáp ứng đầy đủ các
nhu cầu, đòi hỏi để bảo đảm giữ vững và phát huy bản chất của "nhà nước của dân, do dân và
19
vì dân", Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghóa Việt Nam còn cần phải tiếp tục đổi mới nhiều
mặt, cải tổ sâu sắc từ cơ cấu tổ chức đến hình thức và phương pháp hoạt động phù hợp với các
quy đònh của luật pháp để từng bước xây dựng và phát triển thành nhà nước pháp quyền Vìệt
thực hiện nhiệm vu. Những mặt hoạt động của NN để đạt được mục đích của NN gọi là chức
năng.
1 - Chức năng của NN
:
Là những phương diện, loại hoạt động cơ bản của NN nhằm thực
hiện những nhiệm vụ đặt ra trước NN.
Chức năng của NN được xác định xuất phát từ bản chất của NN, do cơ sở kinh tế và cơ
cấu giai cấp của xã hội quyết định.
+ Chức năng của NN được quy định một cách khách quan bởi cơ sở kinh tế và xã hội (kết
cấu giai cấp):
V
í dụ
: Các nhà nước bóc lột được xây dựng trên cơ sở của chế độ tư hữu về tư liệu sản
xuất và bóc lột nhân dân lao động cho nên chúng có những chức năng cơ bản như bảo vệ chế
độ tư hữu về tư liệu sản xuất, đàn áp sự phản kháng và phong trào cách mạng của nhân dân
lao động, tổ chức, tiến hành chiến tranh xâm lược để mở rộng ảnh hưởng và nô ḍch các dân
tộc khác. Nhà nước xã hội chủ nghóa có cơ sở kinh tế là chế độ sở hữu xã hội chủ nghóa, là
công cụ để bảo vệ lợi ích của đông đảo quần chúng lao động, vì vậy chức năng của nhà nước
xã hội chủ nghóa khác với chức năng của nhà nước bóc lột cả về nội dung và phương pháp tổ
chức thực hiện.
+ Chức năng của NN do các cơ quan NN–bộ phận hợp thành của BMNN thực hiện.
+ Các chức năng NN có quan hệ mật thiết với nhau và tạo thành một hệ thống thống nhất
- Phân loại chức năng
:
ng pháp thực hiện chức năng NN:
21
Để thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại, các NN khác nhau sử dụng những hình thức
và phương pháp khác nhau.
Nhìn chung có 3 hình thức cơ bản đó là: Xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật,
bảo vệ pháp luật. Trong mỗi nhà nước, việc sử dụng ba hình thức hoạt động này cũng có những
đặc điểm khác nhau. Ngồi ra, còn có các hình thức khơng hoặc ít mang tính pháp lý như: tổ
chức trực tiếp, tác nghiệp vật chất-kỹ thuật…
Tùy thuộc vào tình hình cụ thể của mỗi nước, các phương pháp hoạt động để thực hiện
các chức năng của nhà nước cũng rất đa dạng nhưng nh́n chung có hai phương pháp chính là
thuyết phục và cưỡng chế. Trong các nhà nước bóc lột, cưỡng chế được sử dụng rộng rãi và là
phương pháp chủ yếu để thực hiện các chức năng của nhà nước. Ngược lại, trong các nhà
nước xã hội chủ nghóa, thuyết phục là phương pháp cơ bản, còn cưỡng chế được sử dụng kết
hợp và dựa trên cơ sở của thuyết phục và giáo dục. Các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước
được thực hiện thông qua bộ máy nhà nước. (xem thêm trang 109-110, Đề cương bài giảng
NN của ĐH Luật TPHCM).
- Phân biệ
t ch
ứ
c n
ă
ng c
ủ
ể
.
BMNN là hệ thớng các cơ quan từ trung ương đến địa phương, bao gờm nhiều loại cơ
quan như cơ qaun lập pháp, hành pháp, tư pháp…. Toàn bợ hoạt đợng của bợ máy nhằm thực hiện
các chúa năng của NN phục vụ cho lợi ích của giai cấp thớng trị. Bợ máy NN gờm nhiều cơ quan,
mỡi cơ quan cũng có những chức năng, nhiệm vụ riêng, phù hợp với phạm vi, qùn hạn được
giao. Vì vẫy cần phân biệt chức năng của bộ máy NN và chức năng của mỗi cơ quan NN cụ thể:
+ Chức năng NN là phương diện hoạt động chủ yếu của tồn thể BMNN, trong đó mỗi cơ
quan khác nhau của NN đều tham gia thực hiện ở những mức độ khác nhau.
+ Chức năng của mỗi cơ quan cụ thể chỉ là những mặt hoạt động chủ yếu của riêng cơ
quan đó nhằm góp phần thực hiện nhiệm vụ chung của NN
Ví dụ: Phân tích chức năng của Bộ cơng an để chứng minh
Tóm lại, CN NN là những phương diện hoạt động chủ yếu của NN nhằm để thực hiện
những nhiệm vụ đặt ra trước NN. Mỡi kiểu NN có bản chất riêng nên CN của các cơ quan NN
tḥc mỡi kiểu NN cũng khác nhau; việc tở chức bợ máy để thực hiện các chức năng đó cũng có
những đặc điểm riêng. Vì vậy khi nghiên cứu các CN của NN và BMNN phải x́t phát từ bản
chất NN trong mỡi kiểu NN cụ thể.
CÂU 7: CÁC CHỨC NĂNG CƠ BẢN CỦA NN XHCN
1/ Khái niệm:
Chức năng của NN xã hội chủ nghĩa là những phương diện hoạt động cơ bản của NN thể
hiện bản chất giai cấp, ý nghĩa xã hội, mục đích và nhiệm vụ của NN trong sự nghiệp xây dựng
chủ nghĩa xã hội.
Nhà nước xã hội chủ nghóa là công cụ chủ yếu để thiết lập và tổ chức thực hiện dân
chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động. Bản chất, nội dung của chủ nghóa xã hội
quyết đònh các chức năng cơ bản của nhà nước xã hội chủ nghóa trong mỗi giai đoạn cách
mạng cụ thể. Nội dung, nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghóa rất rộng và phức tạp, do đó
những chức năng của nhà nước cũng rất phong phú và đa dạng. Chức năng nhà nước là một
khái nhiệm quản lý, trong đó nội dung, mục đích của quản lý nhà nước được biểu hiện một
cách cụ thể. Vì vậy có thể nói, các chức năng của nhà nước là những "con kênh" thông qua đó
+ Cơng tác kế hoạch hóa, xây dựng và hồn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa và cơ
chế quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa. Định hướng sự phát triển kinh tế trên cơ sở tơn trọng các
ngun tắc của thị trường. Đổi mới căn bảnquy hoạch, kế hoạch phù hợp u cầu xây dựng nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế, phát huy tối đa mọi lợi thế so
sánh của quốc gia, vùng và địa phương, thu hút mọi nguồn lực tham gia phát triển kinh tế - XH.
+ Hỗ trợ phát triển, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - XH quan trọng, hệ thống
an sinh XH.
- Tổ chức và quản lý kinh tế và chức năng cơ bản của bất kỳ NN xã hội chủ nghĩa nào.
Tuy nhiên vì đặc điểm và hồn cảnh cụ thể của mỗi nước khơng giống nhau, nên việc thực hiện
chức năng này của mỗi nước có thể khơng giống nhau.
- Một số nội dung chức năng tổ chức quản lý kinh tế của CHXHCN Việt Nam:
+ Sắp xếp lại nền kinh tế quốc dân theo cơ cấu hợp lý, phù hợp với điều kiện thực tế, bảo
đảm cho nền kinh tế phát triển ổn định.
+ Xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng đúng đắn các thành
phần kinh tế. Viêc cải tạo xã hội chủ nghĩa, xây dựng chế độ cơng hữu về tư liệu sản xuất, chế độ
quản lý và chế độ phân phối xã hội chủ nghĩa làm cho nó thật sự mang bản chất xã hội chủ nghĩa,
phù hợp với mỗi bước của lực lượng sản xuất
+ Pháp huy mạnh mẽ động lực khoa học kỹ thuật để đẩy nhanh q trình phát triển kinh tế
xã hội của đất nước
+ Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại
23
b. Chức năng giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội trấn áp sự phản kháng của giai
cấp bóc lột đã bị lật đổ và âm mưu phản cách mạng khác.
- Đây là chức năng hết sức quan trọng, nhất là giai đoạn đầu sau khi cách mạng thành
cơng.
+ Mặc dù sau cách mạng, các giai cấp bóc lột đã bị lật đổ chính quyền đã về tay nhân dân,
nhưng do bản chất phản động và trên thực tế giai cấp bóc lột vẫn còn giữ được trong một thời
gian nhất định một số ưu thế nhất định (điều kiện sinh hoạt giàu có, học vấn, kinh nghiệm quản lý
và nghệ thuật qn sự…) nên chúng ln tìm mọi cách để phản kháng lại một cách lâu dài, dai
dẳng và liều mạng…
những thành tựu khoa học, kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, thỏa mãn
những nhu cầu về vật chất và tinh thần của nhân dân.
+ Nhà nước xã hội chủ nghóa là chủ sở hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu, phần lớn các
cơ sở văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật đều là sở hữu toàn dân. Vì vậy, nhà nước xã hội
24
chủ nghóa không những đề ra và cần phải tổ chức thực hiện chức năng tổ chức và quản lý văn
hóa, giáo dục và khoa học, mà còn có đủ điều kiện để thực hiện tốt chức năng đó.
** Nội dung của chức năng này
Chức năng tổ chức và quản lý văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ có nội dung
rất rộng với những nhiệm vụ hết sức phong phú và phức tạp, thể hiện trên các mặt với những
vấn đề cơ bản là:
- Về văn hóa:
+ Văn hóa là nền tản tinh thần trên đó các mối quan hệ giữa các thành viên trong XH được
xây dựng và phát triển; văn hóa gắn liền với sự phát triển, là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh
tế, ổn định chính trị và xã hội.
+ Nhiệm vụ trung tâm đặt ra là xây dựng nền văn hóa mới, lối sống mới, con người
mới, thiết lập trật tự kỷ cương trong mọi hoạt động của nhà nước và xã hội; đấu tranh chống
những tư tưởng, văn hóa lạc hậu và thù đòch.
Để thực hiện tết nhiệm vụ đó, phải tiến hành cuộc cách mạng về văn hóa. Cuộc cách
mạng văn hóa tiến hành trong mỗi nước cũng có những đặc điểm khác nhau tùy thuộc vào
tình hình và điều kiện cụ thể của nước đó.
+ Đối với nước ta, qua tổng kết lý luận thực tiễn 20 năm đổi mới, báo cáo chính trị đại hội
khóa X của Đảng cộng sản VN xác định: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng
nển văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển văn hóa gắn kết chặt chẽ và đồng bộ
với phát triển kinh tế xã hội, làm cho nền văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống XH”.
+ Để thực hiện thắng lợi cuộc CM văn hóa cần phải giải quyết tốt những vấn đề cơ
bản sau đây:
. Chọn lọc, giữ gìn và nâng cao tinh hoa văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam
và từng dân tộc, đồng thời tiếp thu những giá trò văn hóa, khoa học của nhân loại để xây dựng
nền văn hóa hiện đại mang bản sắc Việt Nam.