ĐỀ CƯƠNG ôn tập môn LỊCH sử NHÀ nước và PHÁP LUẬT THẾ GIỚI - Pdf 28

Ôn tập môn Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Thế giới
1/ Tiền đề kinh tế - xã hội dẫn đến sự tan rã xã hội cộng sản nguyên thủy và
sự hình thành nhà nước và pháp luật
Có nhiều quan điểm về sự hình thành nhà nước
Theo thuyết thần học, nhà nước là do thượng đế sinh ra để quản lý xã hội
Theo thuyết khế ước xã hội, nhà nước là sản phẩm của 1 bản hợp đồng của những
con người sống trong trạng thái tự nhiên không có nhà nước. Khi nhà nước không
thực hiện tốt chức năng của nó thì các thành viên ấy phá bỏ khế ước cũ và lập khế
ước mới, nhà nước mới ra đời.
Còn theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, nhà nước ra đời trên sự tan rã của
xã hội cộng sản nguyên thủy:
Tiền đề kinh tế:
Khi lực lượng sản xuất phát triển dẫn đến năng suất lao động ngày càng tăng lên
Qua 3 lần phân công lao động
- Chăn nuôi tách khỏi trồng trọt
-Thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp
-Thương nghiệp phát triển
Của cải dư thừa => các tiểu gia đình tách khỏi đại gia đình, muốn cuộc sống tốt
hơn cho 1 số ít người, không phải làm vì cả cộng đồng nữa => xuất hiện tư hữu về
tư liệu sản xuất do một số người có quyền lực chiếm đoạt để tách ra thành gia đình
riêng => trở thành những người chuyên đi bóc lột
Tiền đề xã hội:
Những người tư hữu về tư liệu sản xuất đó trở thành những người chuyên đi bóc
lột. Từ đó hình thành nên các tầng lớp và giai cấp có địa vị kinh tế khác hẳn nhau :
Chủ nô (chiếm nhiều của cải + tư hữu tư liệu sản xuất)
Bình dân (chỉ có 1 ít của cải)
Nô lệ( tù binh chiến tranh và những nông dân phá sản)
Mâu thuẫn giữa giai cấp bóc lột và bị bóc lột ngày càng tăng, đến mức đỉnh điểm
không thể tự điều hòa được => Giai cấp mạnh hơn sẽ đứng lên cầm quyền, trấn áp
các giai cấp khác và quản lý theo ý chí của họ. Họ thành lập 1 tổ chức là nhà nước
để điều hòa mâu thuẫn ấy.

Quan đầu triều:là 1 vị quan hay hội đồng thân tín của nhà vua, nắm giữ các công
việc quan trọng.
Quan giúp việc: hệ thống các quan lại cao cấp. Tùy từng nơi, từng thời kì mà có sự
phân công nhiệm vụ, quyền hạn.
Về quân đội: Do thường xuyên xảy ra chiến tranh nên phát triển quân đội rất mạnh.
Chỉ huy tối cao là nhà vua. Lực lượng quân đội đông và đa dạng.
Ở địa phương tổ chức bộ máy là thu nhỏ của trung ương, sao chép đơn giản.
Kết luận: Bộ máy nhà nước là bộ máy bạo lực lớn, được thần thánh hóa nhằm bảo
vệ lợi ích cho giai cấp thống trị một cách triệt để.
+) Pháp luật phương Đông
Vì nhà nước và pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ nên khi nhà nước ra đời thì giai
cấp cầm quyền cũng đồng thời ban hành pháp luật.
2 bộ luật lớn ở phương Đông thời cổ đại là bộ luật Hamurapi (Lưỡng Hà) và bộ
luật Manu (Ấn Độ). Đặc điểm cơ bản của pháp luật Phương Đông cổ đại là:
- Công khai thừa nhận sự bất bình đẳng trong xã hội. Bảo vệ quyền lợi và địa vị
của giai cấp thống trị.
- Thừa nhận sự bất bình đẳng trong quan hệ gia đình giữa vợ và chồng, giữa các
con với nhau do ảnh hưởng của chế độ gia trưởng.
- Ranh giới giữa hình sự và dân sự mờ nhạt, các hình phạt hà khắc và nặng nề về
cả mặt tâm lý và thân thể.
- Bị ảnh hưởng bởi tôn giáo, lễ giáo và tư tưởng thống trị.
- Về hình thức, từ ngữ cụ thể, có tính hệ thống.
4/ Điểm khác biệt cơ bản giữa nhà nước và pháp luật phương Đông và
phương Tây cổ đại
a/Nhà nước:
Phương Đông Phương Tây
-Các nhà nước ra đời sớm ở lưu vực các con
sông lớn.
-Nhà nước ra đời muộn,hình thành trên các bán
đảo.

Nhà nước phương Đông cổ đại tồn tại và phát triển trên nền tảng lấy kinh tế nông
nghiệp làm chủ đạo. Do hình thành ở lưu vực các con sông lớn nên nông nghiệp
phát triển mạnh.
6/ Nội dung và giá trị cơ bản của bộ luật Hammurabi:
* Nội dung bộ luật: Bộ luật Hammurabi là bộ luật tương đối hoàn chỉnh thời lỳ cổ
đại, gồm 282 điều (hiện chỉ đọc được 247 điều) bao gồm ba phần: Phần mở đầu,
phần nội dung và phần kết luật. Đây là một bộ luật tổng hợp được xây dựng dưới
dạng luật hình, bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh nhiều lĩnh vực và đều
có chế tài, chủ yếu là điều chỉnh quan hệ xã hội liên quan tới lợi ích của giai cấp
thống trị.
- Phần mở đầu Vua Hammurabi tuyên bố rằng các vị thần đã trao đất nước cho
nhà vua thống trị để làm cho đất nước giàu có, nhân dân no đủ.
- Phần nội dung là phần chủ yếu của bộ luật. Nội dung của bội luật bắt nguồn từ
sự kế thừa từ những bộ luật trước đó, cụ thể là những pháp điển của người
Xume,ngoài ra chứa đựng những sắc lệnh của vua Hammurabi và nhiều quyết định
của tòa án cao cấp bấy h.Trong đó, điều đầu tiên là bộ luật quy định thủ tục kiện
cáo, cách xét xử tức tục tố tụng. Tiếp đó là những quy định về hình phạt của tội
trộm cắp, bắt cóc nô lệ, về quyền và nghĩa vụ của binh lính, quyền lợi của người
lính canh ruộng đất. Tội sử dụng bừa bãi nguồn nước, tội để súc vật tàn phá hoa
mầu. Các hình thức cho vay lãi, nô lệ vì nợ cũng được quy định rất cụ thể. Sau đó
bộ luật dành nhiều khoản về việc gả bán con gái, về gia đình, về các hình thức trị
tội khi làm tổn hại tới thân thể người khác, hình phạt đối với tội thủ tiêu dấu trên
mặt nô lệ, trách nhiệm và tiền công của những người làm thuê trong xây dựng,
nông nghiệp, chăn nuôi, thủ công nghiệp. Và cuối cùng, những điều khoản quy
đinh về mua bán nô lệ.
- Phần kết luận của bộ luật: khẳng định lại công đức và uy quyền của Hammurabi.
Nhà vua trừng trị thẳng tay những kẻ nào hủy hoại bộ luật.
Giá trị cơ bản:
- Vượt ra khỏi hạn chế lịch sử, giá trị xã hội của Bộ luật được thể hiện rõ ngay từ
mục đích của Bộ luật, thể hiện ở phần mở đầu của Bộ luật: “Vì hạnh phúc của loài

hơn rất nhiều so với Manu.
- Nội dung:
· Chế độ hợp đồng: hai bộ luật điều có phần điều kiện có hiệu lực
hợp đồng, Bộ Luật Manu chủ yếu đề cập tới vấn đề hợp đồng vay mượn, Bộ luật
Hammurapi còn nói đến vấn đề hợp đồng lĩnh canh ruộng đất, hợp đồng gửi giữ, cả
hai bộ Luật đều dung chính bản thân con người làm vật bảo đảm, tuy nhiên Bộ luật
Hammurapi có những quy định cũng như chế tài rõ ràng hơn so với Manu, Bộ luật
Manu có tính phân biệt rõ ràng đối với đẳng cấp cao đó là Bà La Môn.
· Chế định hôn nhân: Bộ luật Manu có sự bất bình đẳng rõ rệt giữa
vợ và chồng, hôn nhân mang tính chất mua bán, người vợ được người chồng mua
về, trong khi đó bên Bộ luật Hammurapi có thủ tục kết hôn, tuy cũng có sự bất
bình đẳng nhưng Bộ luật vẫn có điều khoản bảo vệ người phụ nữ.
· Chế độ thừa kế: về cơ bản 2 Bộ luật đều có 2 hình thức thừa kế là:
theo luật pháp và theo di chúc, đều thừa kế theo tài sản người cha. Bên Bộ luật
Hammurapi có thêm phần Điều kiện tước quyền thừa kế.
· Chế độ hình sự: Bộ luật Manu có sự phân biệt đẳng cấp rõ ràng:
khoan dung cho người đẳng cấp trên và trừng trị thẳng tay đối với kẻ đẳng cấp
dưới có hành vi xâm phạm tới đẳng cấp trên, bên BL Hammurapi có quan niệm
hình sự là trừng trị tội lỗi, mang tính chất trả thù ngang nhau tuy nhiên chỉ là tương
đối. Các hình thức xử phạt của hai bộ Luật đều rất dã man.
· Chế độ tố tụng: Bộ Luật Manu thì coi trọng chứng cứ nhưng
chứng cứ lại phụ thuộc vào giới tính và đẳng cấp, chứng cứ của đẳng caapscao có
tính quyết định. Bộ luật Hammurapi cũng coi trọng chứng cứ nhưng không phân
biệt đăng cấp và điều quan trọng là được xét xử công khai rất tiến bộ.
Bộ luật Manu mang tính phân biệt đẳng cấp rất rõ rệt, mọi điều khoản đều ủng hộ
đẳng cấp trên. Bộ Luật Hammurapi tuy cũng có sự phân biệt nhưng cùng với đó
cũng có tính dân chủ nhất định, cũng có sự bảo vệ với người dân.
8/ Trình bày cơ sở kinh tế - xã hội cho sự ra đời của Nhà nước Phương Tây cổ
đại.
Trả lời:

· Chỉ những công dân nam Aten (có cha và mẹ đều là người Aten)
từ 18 tuổi trở lên mới quyền tham gia vào Hội nghị công dân, còn phụ nữ, kiều dân
và nô lệ thì không có quyền này. Trong khi tỷ lệ dân kiều dân và nô lệ chiếm một
con số khá lớn.
· Các cuộc họp của Hội nghị công dân đa số đều được tổ chức tại
thành Aten, do đó, các công dân Aten sinh sống ở những vùng nông thôn xa xôi
không có điều kiện để thường xuyên tham gia Hội nghị. Chỉ có một bộ phận nhỏ
công dân Aten sinh sống tại thành Aten và các vùng nông thôn lân cận mới thỉnh
thoảng tham gia vào cuộc họp của Hội nghị công dân. Chỉ có những cuộc họp bỏ
phiếu bằng vỏ sò thì mới tập trung đông đảo công dân tham gia.
10/ Trình bày những nét cơ bản về quá trình dân chủ hóa nhà nước Aten( qua
3 cuộc cải cách của XoLong, Cixten, Periclet)
Trả Lời:
Cải cách của Xôlông: Năm 594 TCN, Xôlông, một đại biểu của tầng lớp quý tộc
công thương nghiệp được bầu vào chức quan chấp chính. Trong thời gian đương
nhiệm, ông thưa hiện cải cách mang lại dân chủ cho rộng rãi dân chúng, xóa bỏ đặc
quyền của quý tộc thị tộc:
· Bãi bỏ nợ nần cho dân chúng, nhổ hết các thể cầm cố ruộng đất,
trả ruộng đất cho nông dân tự do, cấm việc biến dân tự do thành nô lệ vì nợ. Điều
này làm cho lực lượng của dân tự do đông hơn và củng cố được địa vị của mình,
do đó, sau này dân tự do là lực lượng ủng hộ cho quý tộc mới thực hiện các cuộc
cải cách sau này.
· Thành lập Hội đồng 400 người. Mỗi bộ lạc được cử 100 người
thuộc đẳng cấp 1, 2, 3 tham gia vào hội đồng này. Hội đồng này có quyền tư vấn
cho Quan chấp chính, soạn thảo những nghị quyết trước khi đưa ra bàn bạc, quyết
định tại Hội nghị công dân; giải quyết các công việc thường ngày khi Hội nghị
công dân không họp.
· Căn cứ theo tài sản, Xôlông chia dân cư thành 4 đẳng cấp. Người
dân được hưởng quyền chính trị tương ứng với đẳng cấp của mình (xóa bỏ đặc
quyền của quý tộc thị tộc):

thành kiều dân hoặc từ kiều dân được công nhận là công dân Aten.
+ Cải cách của Pêriclet:
· Trả lương cho những người tham gia vào cơ quan nhà nước. Điều
này tạo điều kiện cho dân nghèo có thể tham gia quản lý nhà nước.
· Thay chế độ bầu bằng chế độ bóc thăm để chọn ra nhân viên nhà
nước.
[*] Tổ chức bộ máy nhà nước:
- Hội nghị công dân:
· Thành viên: toàn thể công dân nam người aten (có cha và mẹ đều
là người aten) từ 18 tuổi trở lên.
· Hoạt động và quyền hạn:
o Cứ 10 ngày họp 1 lần. Trong buổi họp, các công dân
có quyền tự do bàn bạc, thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng, bầu
những chức quan cao cấp, giám sát các cơ quan khác thông qua các đạo luật, ban
hoặc tước quyền công dân…
- Hội đồng 500 người:
· Chia thành 10 ủy ban. Một ủy ban gồm 50 người cua một liên
khu, hoạt động trong thời gian 1/10 năm tức 36 đến 39 ngày. Tên của các thành
viên của ủy ban này được lập thành một danh sách và theo danh sách đó, mọi
người theo thứ tự của bản danh sách đảm nhiệm chức vụ chủ tịch ủy ban một ngày.
· Quyền hạn, nhiệm vụ:
o Thi hành những quyết nghị của hội nghị công dân
o Giải quyết những vấn đề quan trọng giữa hai kỳ họp
của hội nghị công dân.
o Giám sát công việc của các viên chức nhà nước
o Quản lý tài chính
o Thảo luận những vấn đề quan trọng trước khi trình ra
quyết định tại hội nghị công dân.
- Hội đồng 10 tướng lĩnh:
· + Thành viên của hội đồng này không được cấp lương và được

quyết định tại hội nghị công dân.
- Hội đồng 10 tướng lĩnh:
· + Thành viên của hội đồng này không được cấp lương và được
bầu ra tại hội nghị công dân bằng cách biểu quyết giơ tay.
· + Quyền hạn, nhiệm vụ: thống lĩnh quân đội, chịu sự giám sát của
hội nghị công dân.
- Tòa bồi thẩm:
· + Là cơ quan xét xử và giám sát tư pháp cao nhất.
· + Mọi công dân nam từ 30 tuổi trở lên được quyền ứng cử để trở
thành thẩm phán. Hội nghị công dân sẽ bầu ra các thẩm phán bằng cách bỏ phiếu.
12/ So sánh và chỉ ra nét khác nhau cơ bản của Nhà nước Xpac và Nhà nước
Aten (Hy Lạp cổ đại)
Trả lời:
- Hình thức nhà nước: Aten là Nhà nước Cộng hòa Dân chủ chủ nô. Xpac là Nhà
nước Cộng hòa quý tộc chủ nô.
- Tổ chức xã hội:
· Aten: mới đầu cũng theo hình thức cộng hòa quý tộc chủ nô
nhưng do kinh tế phát triển, công thương nghiệp dần chiếm vai trò chủ đạo dần liên
kết với nông dân chống lại giai cấp quý tộc, thong qua ba lần cải cách của:XôLông,
clixten, Periclet, đã dần chuyển từ hình thức cộng hòa quý tộc chủ nô sang chế độ
cộng hòa dân chủ chủ nô.
· Xpac: sự hình thành nhà nước Xpac trên cơ sở của cuộc chiến
tranh xâm lược của người Đô Riêng đối với người Akeang. Cuộc xâm chiếm làm
xã hội hình thành các giai cấp mới:
o Người Xpac: là giai cấp thống trị, công việc là cai trị
đất nước và đánh giặc. Nhà nước sở hữu toàn bộ đất đai và nô lệ. Tầng lớp quý tộc.
o Người Periet: Là người Akeang bị chinh phục, là
người tự do có ruộng tài sản riêng nhưng không có quyền về chính trị, họ phải
cống nạp cho người Xpac và không được lấy người Xpac.
o Người Ilốt: là nô lệ chung cho cả xã hội Xpac.

Quan điểm trên là đúng, Luật La Mã là bộ luật hoàn chỉnh nhất của nhà nước
chiếm hữu nô lệ.
· Thứ nhất Luật La Mã dựa trên nền tảng của nền kinh tế hàng hóa
phát triển mạnh mẽ, quan hệ nô lệ phát triển mạnh và mang tính điển hình đòi hỏi
phải có hệ thống luật chặt chẽ chi phối mối quan hệ xã hội đó; lãnh thổ của đế quốc
không ngừng được mở rộng do các cuộc chiến tranh xâm lược nên có nhiều kế
thừa, sự kết hợp nhiều hệ thống pháp luật của những nước bị xâm lược.
· Thứ hai nó được thể hiện trên nguồn của bộ Luật, được lấy từ
những nguồn sau: Những quyết định của hoàng đế La Mã; Các quyết định của cơ
quan quyền lực cao nhất (viện nguyên lão); Các quyết định của toàn án; Các quyết
định của các quan thái thú các tỉnh trong trường hợp không có luật điều chỉnh; Tập
quán pháp; Hệ thống hóa luật pháp, các công trình của luật gia La Mã. Hệ thống
nguồn luật rất phong phú.
· Thứ ba, pháp luật có những bước phát triển vượt bậc, đưa ra nhiều
khái niệm chuẩn xác, có giá trị pháp lý cao. Kỹ thuật lập pháp chuẩn xác, từ ngữ rõ
ràng trong sáng. Điều chỉnh hầu hết các quan hệ xã hội quan trọng, phổ biến, đặc
biệt là các quan hệ trong lĩnh vực dân sự.
14/ Trình bày những điều kiện kinh tế - xã hội của sự ra đời và tồn tại nền
quân chủ phân quyền cát cứ ( từ thế kỉ IX đến thế kỉ XV) ở Tây Âu thời
Phong kiến.
Về điều kiện kinh tế: Chế độ sở hữu phong kiến về ruộng đất quá lớn. Ruộng đất
được phân phong và thừa kế, làm cho 1 số ít người sở hữu nhiều ruộng đất. Số
ruộng đất ít ỏi của nông dân tự do lại nằm rải rác trong lãnh địa của lãnh chúa.
Về điều kiện xã hội: Quan hệ xã hội lúc bấy giờ vẫn là quan hệ giữa lãnh chúa và
nông nô. Lãnh chúa nắm phần lớn đất đai, nông nô bị phụ thuộc hoàn toàn vào
lãnh chúa => quyền lực tập trung cả vào tay lãnh chúa.
Năm 843, chế độ phân quyền cát cứ ở Tây Âu xuất hiện và ngày càng phát triển.
Nguyên nhân cơ bản dẫn tới trạng thái phân quyền cát cứ ở Tây Âu là nền Kinh tế.
Chế độ phân phong và thừa kế dẫn tới hậu quả quyền sở hữu tối cao về ruộng đất
không thuộc về nhà vua và dẫn tới trạng thái phân quyền cát cứ.

Thế kỉ XV, Tây Âu bước vào giai đoạn phong kiến hậu kì. Trong thời kì này, sự
phát triển của kinh tế làm cho Tây Âu có nhiều thay đổi sâu sắc.
-Về kinh tế:
Công thương nghiệp đạt nhiều thành tựu quan trọng(phát minh máy dệt, máy hơi
nước ). Lao động thủ công từ hợp tác đơn thuần tiến dần lên công trường thủ công.
Nông nghiệp phát triển, tuy không được như công nghiệp nhưng sản lượng tăng,
diện tích gieo trồng tăng, phương pháp canh tác tiến bộ…cung cấp nguyên liệu cho
ngành chế biến.
- Về xã hội
Hình thành giai cấp vô sản do quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa hình thành ( nông
dân mất ruộng đất, thợ thủ công phá sản )
Giai cấp tư sản liên minh với nhà vua chống bọn lãnh chúa phong kiến cát cứ để có
được một thị trường thống nhất.
Mâu thuẫn giữa lãnh chúa phong kiến và nông dân ngày càng sâu sắc. Giai cấp tư
sản đã lợi dụng điều đó để phát động phong trào quần chúng tấn công làm suy yếu
lãnh chúa phong kiến.
Chính quyền phải dựa vào giai cấp tư sản để củng cố sự thống trị của mình. Kết
quả là vào thế kỉ 15-16 các nước Tây Âu dần dần thiết lập chế độ quân chủ chuyên
chế.
17/ Phân tích những điều kiện kinh tế - xã hội dẫn đến xác lập nền quân chủ
chuyên chế ở Tây Âu thời kỳ phong kiến.
Trả Lời:
Điều kiện kinh tế - xã hội
Thế kỷ 15, Tây Au bước vào giai đoạn phong kiến hậu kỳ. Trong thời kỳ này, sự
phát triển của kinh tế làm cho xã hội Tây Au có nhiều thay đổi sâu sắc.
- Về kinh tế
+ Công thương nghiệp đạt được những thành tựu quan trọng. Việc phát minh ra lò
cao, máy hơi nước, máy dệt, máy in làm cho nhiều ngành công nghiệp phát triển.
Sự phân công lao động thủ công được đẩy mạnh, nhiều nghề mới ra đời. Lao động
thủ công từ hợp tác đơn thuần tiến dần lên công trường thủ công - hình thức đầu

càng hoàn thiện (luyện kim, khai mỏ, chế tạo vũ khí, thuộc da, dệt len, dạ…).
- Trong nông nghiệp, do có nhiều tiến bộ, như: nông cụ được cải tiến, đồ sắt được
sử dụng phổ biến trong xã hội, diện tích canh tác không ngừng được mở rộng…
làm cho sản lượng và số lượng nông sản ngày càng nhiều đa dạng.
- Thương nghiệp do đó cũng phát triển. do thợ thủ công và nông dân đều tạo ra
những sản phẩm dư thừa, họ phải nhờ tới lực lượng thương nhân. Nhờ vậy, người
thợ thủ công không cần sản xuất nông nghiệp cũng có cái để ăn và người nông dân
không cần sản xuất thủ công nghiệp cũng có dụng cụ, đồ dùng … Mặt khác, nông
nghiệp còn là nơi cung cấp nguyên vật liệu cho ngành thủ công nghiệp. Điều này
tạo điều kiện cho các thợ thủ công có cơ hội thoát ly hoàn toàn khỏi nông nghiệp
để chuyên môn hóa ngành nghề của mình.
Sự lao động trong xã hội lại một lần nữa được phân công, làm cho kinh tế trong xã
hội khôi phục sau cuộc khủng hoảng của chế độ chiếm hữu nô lệ. Chính sự phân
công lao động này là điều kiện quan trọng để dẫn đến sự ra đời của các thành thị ở
Tây Au trong thời kỳ trung đại.
Điều kiện xã hội
Thế nhưng, nếu chỉ có các điều kiện kinh tế như trên thì vẫn chưa dẫn đến sự ra đời
của thành thị ở Tây Au; mà bên cạnh các điều kiện kinh tế đó, còn có sự tác động
của điều kiện xã hội.
· Sự đối kháng giai cấp
Một trong các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành các thành thị tại Tây Au là sự
đối kháng giai cấp xảy ra giữa nông nô, cũng như giữa những người nông dân lệ
thuộc khác với các lãnh chúa phong kiến.
- Những người nông nô có tay nghề thủ công chuyên nghiệp vì muốn thoát khỏi sự
bóc lột của lãnh chúa phong kiến, nên họ đã tìm đủ mọi cách để trốn khỏi các trang
trại phong kiến.
Những người làm nghề thủ công này tập hợp tại một địa phương và dân số dần dần
tăng lên. Người tới lui mua bán, trao đổi với họ ngày càng nhiều. Vì vậy mà những
thành phố công thương nghiệp tập trung dần dần xuất hiện.
- Đối với nông nô, do muốn thoát khỏi sự bóc lột của lãnh chúa phong kiến nên họ

nước chia ra làm nhiều lãnh địa phong kiến hoàn toàn tự trị. Các nhà vua chiếm
giữ được một số lãnh địa và thành thị lớn, xây dựng vương quyền tương đối hùng
mạnh, khống chế các lãnh chúa phong kiến. Các lãnh chúa phong kiến đều manh
nha bạo động muốn được độc lập.
- Các vương triều đều ra sức củng cố quyền lực, làm suy yếu các lãnh chúa phong
kiến bằng nhiều cách:
· Thế kỷ 12, khi mà thủ công nghiệp phát triển làm cho các thành
thị không ngừng lớn mạnh. Thị dân đấu tranh với các lãnh chúa phong kiến, nhà
vua ủng hộ thi dân với mong muốn làm cho quyền lực lãnh chúa suy yếu. Cùng với
đó các giáo hội, nhà tu đều trở thành đồng minh của nhà vua nhằm thoát khỏi sự
xâm phạm của lãnh chúa phong kiến.
· Trong cuộc chiến tranh tang cường quyền lực nhà vua được sự
ủng hộ của thị dân, nên địa vị của thị dân trong chính quyền của nhà vua ngày
càng được nâng cao.
- Cùng với đó nhà vua có mâu thuẫn với giáo hội, nên các lãnh chúa phong kiến
nổi dậy chống đối, trước tình thế đó nhà vua rất cần sự ủng hộ của các tầng lớp
khác để làm áp lực với giáo hội. Do đó, nhà vua dung nạp cả những đại biểu của
thị dân và kỵ sĩ vào các kỳ đại hội quan trọng, bên cạnh tăng lữ và quý tộc.
20/ Nội dung và ý nghĩa của hiến pháp tư sản Mỹ năm 1787
Năm 1787, Mỹ ban hành bản Hiến Pháp, trong đó ghi nhận thành lập Nhà nước
Hợp chủng quốc Hoa Kỳ theo thể chế Cộng hoà Tổng thống và tổ chức thực hiện
quyền lực nhà nước theo thuyết tam quyền phân lập. Về cơ cấu lãnh thổ, Hoa kỳ là
nhà nước liên bang.
Nội dung của bản hiến pháp 1787:
Hiến Pháp Hoa Kì được phân chia làm 2 nội dung chính đó là :
Sự phân chia quyền lực Nhà nước thông qua tổ chức hoạt động bộ máy Nhà Nước
và các quyền tự nhiên của con người.
Mục đích của việc quy định hai nội dung trên là để giới hạn quyền lực Nhà Nước
và bảo vệ các quyền tự nhiên của con người tránh sự lạm quyền từ phía các cơ
quan Nhà Nước.

buôn bị mất quyền lợi => kinh tế chậm phát triển)
Một chính quyền trung ương yếu kém, bị bó buộc trong ngoại giao với các nước
khác.Hậu quả là một sự hỗn độn thực sự. (Bị nước ngoài bó buộc bởi quân sự)
Trong bối cảnh đó nảy sinh nhu cầu phải có một chính phủ trung ương mạnh hơn
để thực thi một chính sách thống nhất.
Họ rất thận trọng với việc tập trung quyền lực cho 1 tổ chức hay cá nhân nào đó*.
Tư tưởng chủ đạo của những nhà lập Hiến pháp Hoa Kỳ là rất cần đến một nhà
nước đủ mạnh để bảo vệ sự độc lập, phát triển kinh tế, duy trì an ninh quốc gia,
nhưng cũng rất sợ sự tập trung quyền lực có thể trở thành sự chuyên chế của nhà
nước. Với họ, Chính phủ hành pháp chỉ cần một cá nhân, với Quốc hội lập pháp,
mặc dù là tập thể đông người bao gồm những đại diện do nhân dân bầu ra, nhưng
rất có thể trở thành độc tài. Mà hậu quả độc tài của tập thể đông người cũng có tác
hại không khác gì chế độ độc tài chuyên chế cá nhân của các vị vua chúa phong
kiến Châu Âu. (Cẩn trọng với việc tập trung quyền lực)
Bên cạnh những nhu cầu khách quan, việc hình thành một cách thức tổ chức quyền
lực nhà nước cũng bị ảnh hưởng bởi ý muốn chủ quan của những người sáng lập ra
nước Mỹ, do nhu cầu của việc rút kinh nghiệm từ những bài học của lịch sử nhân
loại. Các nhà lập quốc của Mỹ cho rằng, Quốc hội mặc dù là một tập thể đông
người nhưng cũng không là gì cả, cũng có khi làm sai và nhất là có thể trở thành
độc tài. Do đó, cần phải nghĩ ra các biện pháp nhằm kìm chế Quốc hội.
=> Từ tất cả các nguyên nhân trên mà chính thể cộng hòa tổng thống ra đời.
23/ Sự áp dụng học thuyết tam quyền phân lập và tổ chức theo cơ chế kìm chế
- đối trọng trong bộ máy nhà nước tư sản Mỹ.
Sự áp dụng học thuyết tam quyền phân lập :
Không tập trung quyền hạn vào một người hay 1 tổ chức nhất định. Phân chia 3
quyền Lập pháp, hành pháp, tư pháp cho 3 cơ quan riêng biệt là Nghị viện, tổng
thống và Tòa án.
24/ Nội dung và ý nghĩa của hiến pháp tư sản Mỹ năm 1787
Năm 1787, Mỹ ban hành bản Hiến Pháp, trong đó ghi nhận thành lập Nhà nước
Hợp chủng quốc Hoa Kỳ theo thể chế Cộng hòa Tổng thống và tổ chức thực hiện

26/ Lý giải nguyên nhân nhà nước Mỹ tổ chức theo hình thức chính thể cộng
hòa Tổng thống.
Chính phủ quốc gia lúc bấy giờ không có quân đội chung, 9 bang có quân đội riêng
và một số bang khác lại có hải quân riêng, tồn tại rất nhiều loại tiền, cả tiền xu lẫn
tiền giấy, của cả liên bang và tiểu bang. ( sự không thống nhất tiền tệ và không có
quân đội chung)
Sự kết thúc chiến tranh đã để lại hậu quả nghiêm trọng đối với các nhà buôn,
những người đã cung cấp vũ khí và hàng hóa cho quân đội, họ đã mất đi những lợi
thế có được,các chính sách thuế quan ở các bang có mâu thuẫn với nhau. (Các nhà
buôn bị mất quyền lợi => kinh tế chậm phát triển)
Một chính quyền trung ương yếu kém, bị bó buộc trong ngoại giao với các nước
khác.Hậu quả là một sự hỗn độn thực sự. (Bị nước ngoài bó buộc bởi quân sự)
Trong bối cảnh đó nảy sinh nhu cầu phải có một chính phủ trung ương mạnh hơn
để thực thi một chính sách thống nhất.
Họ rất thận trọng với việc tập trung quyền lực cho 1 tổ chức hay cá nhân nào đó*.
Tư tưởng chủ đạo của những nhà lập Hiến pháp Hoa Kỳ là rất cần đến một nhà
nước đủ mạnh để bảo vệ sự độc lập, phát triển kinh tế, duy trì an ninh quốc gia,
nhưng cũng rất sợ sự tập trung quyền lực có thể trở thành sự chuyên chế của nhà
nước. Với họ, Chính phủ hành pháp chỉ cần một cá nhân, với Quốc hội lập pháp,
mặc dù là tập thể đông người bao gồm những đại diện do nhân dân bầu ra, nhưng
rất có thể trở thành độc tài. Mà hậu quả độc tài của tập thể đông người cũng có tác
hại không khác gì chế độ độc tài chuyên chế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status