tài liệu ôn tập môn lịch sử nhà nước và pháp luật - Pdf 16

Tài liệu ôn tập môn Lịch sử nhà nước
và pháp luật (3A)

Theo nhận định chung thì đề sẽ ra 3 câu:
 1. Phân tích một đặc điểm nào đó (ví d về luật hôn nhân, cải cách chính
quyền địa phương)
 2. Chứng minh một nhận định trong sách giáo khoa (ví dụ: tính giai cấp,
tính pháp trị nhân trị, trưng phạt của luật nhà Lê)
 3. Nhận đinh đung sai (vi du về hop đông doan mai dien mai, trieu le, ly
nguyen )
A. Phần sự ra đời của nhà nước và pháp luật (câu hỏi nhận định)
1. Nhu cầu trị thủy, làm thủy lợi và chống ngoại xâm là hai trong những nhân
tố làm thúc đấy sự ra đời của nhà nước đầu tiên
Nhận định: đúng
Giải thích: Nước ta là nước nông nghiệp gốc, vị trí hết sức nhạy cảm, phía Bắc là
Trung Quốc, phía Nam là Chiêm Thành.
Những nền văn minh phương Đông như chúng ta biết, hình thành từ lưu vực
những con sông lớn, và là nền văn minh nông nghiệp. Trong nền kinh tế nông
nghiệp, thì yêu cầu trị thủy là một yêu cầu tối quan trọng. Thêm nữa, do phụ thuộc
rất nhiều vào thiên nhiên nên các tộc người luôn có xu hướng tranh giành những
vùng đất tốt, chiến tranh là điều thường xuyên và ko thể tránh khỏi đối với các
nước phương Đông. Nhu cầu trị thủy và chống ngoại xâm đặt ra là vấn đề sống
còn với sự tồn tại của các tập đoàn người ở phương Đông.
Công cuộc trị thủy và chống ngoại xâm đòi hỏi phải có sức mạnh đoàn kết vô cùng
lớn. Do vậy các tập đoàn người phải tập hợp lại với nhau mới có thể thực hiện
được những công việc này. Khi tập hợp lại như vậy, vai trò của nguời thủ lĩnh,
người đứng đầu là rất quan trọng. Người thủ lĩnh, người đứng đầu trở thành người
có quyền lực tối cao, có thể áp đặt ý chí của mình lên mọi người. Cộng thêm với
sức mạnh tư tưởng từ tôn giáo, vị trí của "vua" ngày càng được nâng cao. Như
vậy, sự xuất hiện của "vua" chính là sự xuất hiện của NN, vì sau khi nắm quyền
lãnh đạo, "vua" sẽ toàn quyền tự mình đặt ra bộ máy giúp việc, bộ máy cai trị, từ

 Tập quyền là quyền lực tập trung vào Hoàng Đế. Hoàng Đế giữ các quyền
về lập pháp, hành pháp và tư pháp.
 Tư pháp: quyền được xét xử, một khi Hoàng Đế xét xử thì bản án sẽ có giá
trị chung thẩm
 Hành pháp: Hoàng Đế không tự mình thực hiện quyền hành pháp mà thông
qua việc thành lập các cơ quan giúp việc và bổ nhiện các quan lại. Trực tiếp
quản lý các chính sách về ruộng đất và tô thuế. Là tổng tư lệnh tối cao của
quân đội.
 Lập pháp: Hoàng Đế đứng trên pháp luật, ban hành tuyệt đối các văn bản
pháp luật.
1. Thể chế quân chủ nhà Trần mang tính tập quyền cao hơn nhà Lý
Nhận định: đúng
Giải thích Hoàn cảnh ra đời của Nhà Trần khác hẳn nhà Lý. Nhà Lý được sự ủng
hộ của dân chúng còn Nhà Trần thực chất là sự chiếm đoạt bằng những cuộc hôn
nhân chính trị.
Có thêm chức danh mới là Thái Thượng Hoàng, người có quyền lực cao hơn nhà
vua.Tính chất quý tộc thân vương được tăng cường. Quan đại thần phải là người
trong Hoàng tộc, còn nhà Lý thì các quan đại thần không nhất thiết phải có dòng
máu Hoàng tộc.
Chính sách kết hôn nội tộc nhằm bảo đảm tính thuần nhất của dòng họ. Rất ưu đãi
cho các vương hầu quý tộc: phong cấp đất đai và nắm giữ những chức quyền quan
trong triều đình hay các vị trí trọng yếu của quốc gia.
Dùng chính sách hôn nhân để ràng buộc, lôi kéo các thổ quan vùng núi đứng về
phía triều đình. Pháp luật của nhà Trần thì tàn khốc hơn nhà Lý nhằm bảo vệ
vương quyền một cách tuyệt đối. Không có quan Tể tướng.
2. Tổ chức chính quyền địa phương thời nhà Trần mang tính vùng miền
Nhận định: đúng
Giải thích:
Về tổ chức hành chính thì có sự phân biệt rõ ràng giữa miền xuôi và miền núi.
Dười cấp Lộ ở miền xuôi là Phủ, miền núi là Châu. Bởi miền núi là những vùng

a. Nguyên nhân và nguyên tắc cải cách
Nguyên nhân:
 Bất ổn đã được loại bỏ, xây dựng chính quyền từ quân sự sang dân sự nhằm
gắn liền lợi ích của nhà nước với lợi ích của nhân dân.
 Khát vọng xây dựng nhà nước Đại Việt hùng cường
 Lãnh thổ đã được mở rộng
 Bộ máy nhà nước nặng tính quý tộc không còn phù hợp
Nguyên tắc cải cách
 - Nguyên tắc tập quyền
 - Nguyền tắc tản quyền
 - Nguyên tắc pháp chế
3. Chính quyền địa phương (trọng tâm)
Các câu hỏi liên quan:
Câu hỏi 1: Sự khác nhau của tổ chức chính quyền địa phương thời vua Lê
Thánh Tông so với các triều đại trước đó.
Giai đoạn vua Lê Thánh Tông: 1460 – 1497. Trước khi lên ngôi, vua Lê Thánh
Tông đã trải qua giai đoạn sống gần gũi với cuộc sống đời thường của dân chúng,
ông đã hiểu được những điểm tốt, xấu cùng tồn tại trong xã hội. Khi lên ngôi, Lê
Thánh Tông thấy được những bất cập của bộ máy cầm quyền, những năm đầu thời
Lê sơ còn mang nặng “hơi hướng” của thể chế quân chủ quý tộc nhà Trần, việc
trọng đãi các quý tộc hoàng tộc và các bậc “khai quốc công thần”. Thêm nữa,
cương vực nước Đại Việt đã mở rộng, yêu cầu xây dựng một nước Đại Việt hùng
cường; những bài học của các triều đại trước về tổ chức chính quyền địa phương
sao cho phát huy hiệu quả nhất. Đo đó Lê Thánh Tông đã tiến hành cải cách hành
chính từ trung ương đến địa phương, bên cạnh giữ lại những mặt tích cực của các
triều đại trước đồng thời loại bỏ các điểm không tốt, chính từ những lý do đó mà
tổ chức chính quyền địa phương thời vua Lê Thánh Tông có những điểm giống và
khác các triều đại trước.
Giai đoạn vua Lê Thánh Tông có hai giai đoạn, thời kỳ 1460 – 1470 và thời kỳ
1471 đến 1497.

Đô ty phụ trách quân sự.
Hiến ty có chức năng giám sát mọi công việc trong đạo để tâu lên vua.
Thực hiện giám sát nhau
Năm 1471, vua Lê Thánh Tông cho đặt chứ Hiến sát sứ ở các đạo, sau đó lại đặt
chức giám sát ngự sử ở 13 đạo để làm nhiệm vụ theo dõi, giúp đỡ các hiến ty,
giám sát đàn hoặc các hành vi sai trái của quan lại các thừa tuyên, phủ, huyện.
Ở cấp phủ: cũng giống như cấp phủ thời các vua Lê trước, chức năng là truyền
luyện từ trên xuống cho các huyện – châu, đốc thúc và kiểm tra việc thi hành, thu
nộp các loại thuế, các lao dịch, binh dịch.
Ở cấp huyện – châu
Giống các triều vua Lê trước là ở miền núi gọi là châu, đông bằng gọi là huyện. Ở
cấp này đặc biệt có một điểm giống các triều trước là có tính vùng miền. Đối với
miền núi thì sử dụng các tộc trưởng, tù trưởng để giữ những chức vụ quan trọng
nhằm tránh trình trạng chống đối triều đình hay có âm mưu phản loạn.
Một điểm rất khác so với các triều đại khác là tổ chức cấp xã cấp xã.
Chia tách xã theo những qui định có tính qui cũ, xã có 3 loại: xã nhỏ, xã vừa và xã
lớn tùy vào số hộ trong xã. Qui định rõ chức vụ của những người đứng đầu xã
tránh trình trạng lợi dụng quan hệ họ hàng thông gia để kéo bè kéo cánh. Việc bầu
xã trưởng theo qui tắc dân chủ bầu trực tiếp. Vua Lê Thánh Tông đã can thiệp trực
tiếp sâu rộng vào trong chính quyền cấp xã, đây là điểm rất khác so với các triều
đại trước, nhằm hạn chế nạn cường hào cũng như tình trạng cát cứ ở địa phương.
Về việc bổ nhiệm quan lại
Cũng như các triều đại khác thì quan lại bằng chế độ tập ấm, theo đó con cháu của
hoàn thân quốc thích quan lại cao cấp được phong tước vị phẩm hàm thậm chí
đươc trao một số cong việc triều chính tuy nhiên thời vua Lê Thánh Tông, những
quan lại được tuyển chọn bằng hình thức này được quy định rất chặt chẽ bằng cách
quy định rõ trong một số điều ở chương vi chế Bộ luật Hồng Đức nhằm loại trừ
những tiêu cực đối với hình thức tuyển dụng này. Một điểm khác với các triều đại
khác là quan lại có thể được bổ nhiệm bằng con đường đề cử và việc này cũng
được quy định một cách chặt chẽ. So với các triều đại khác thì quan lại có thể

Triều Lê sơ vốn hình thành sau cuộc chiến tranh giành độc lập, thế nên tổ chức
hành chính nhà nước nặng về quân sự để phục vụ cho công tác quốc phòng và trị
an, đặc biệt là trong các triều đại đầu tiên. Vì vậy, công tác tổ chức bộ máy hành
chính ở địa phương được xây dựng theo hướng tập quyền, thể hiện qua việc hầu
hết quyền hành tập trung vào tay một cơ quan đứng đầu bởi một cá nhân (như ở
đạo là Hành khiển, ở phủ là tri phủ,…). Nhưng điều này nếu kéo dài thường dễ
dẫn đến lạm quyền và tạo điều kiện cho các thế lực địa phương phát triển dẫn đến
nguy cơ nội chiến hoặc ít ra là phản loạn. Điều này vẫn thường thấy xảy ra với các
địa phận của dân tộc ít người do họ có quyền tự trị tương đối lớn (như loạn Nùng
Trí Cao thời nhà Lý). Vì vậy, sau khi lên nắm quyền, Lê Thánh Tông bắt đầu tiến
hành cuộc cải cách quy mô lớn về tổ chức bộ máy nhà nước, cả trung ương lẫn địa
phương, để tăng cường uy quyền của nhà vua và hạn chế quyền lực của địa
phương cũng như ngăn chặn các thế lực cát cứ.
Đầu tiên là việc chia, tách, đổi lại các đơn vị hành chính. Biện pháp này không
những có ý nghĩa lớn trong việc tổ chức lại công tác quản lí thành một hệ thống
quy củ và thống nhất mà còn có tác dụng xóa bỏ, thay đổi địa giới và địa phận cũ
của các thế lực quý tộc phong kiến. Kế đến ở mỗi cấp hành chính, Lê Thánh Tông
thực hiện việc phân tán quyền lực ra cho các cơ quan và cá nhân khác nhau để
tránh tập trung quyền lực quá lớn vào tay một người. Cụ thể như ở cấp đạo, Tam
Ty được thành lập để thay nhiệm vụ của quan Hành Khiển (dân sự) và quan Tổng
quản (quân sự). Theo đó Thừa ty quản lí hành chính, Đô ty quản lí quân sự và
Hiến ty quản lí tư pháp. Các cơ quan đều có chức năng và quyền lực riêng, từ đó
giám sát và chế ức quyền lực của nhau, tránh sự lạm quyền. Đây là một bước tiến
đáng kể mà so sánh với điều kiện hiện tại, chúng ta có thể thấy rằng bộ máy hành
chính địa phương nước CHXHCN Việt Nam đã thừa kế những thành tựu đó khá
tốt với cơ quan lập pháp là Hội đồng nhân dân các cấp, cơ quan hành chính là Ủy
ban nhân dân các cấp và cơ quan tư pháp là Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát
nhân dân các cấp.
Một biện pháp nữa được Lê Thánh Tông thực thi để tăng cường giám sát với cấp
đạo là việc đặt ra các cơ quan giám sát của trung ương, cụ thể là các Ty ngự sử

gian nan.
Tuy nhiên nếu áp dụng vào thời đại ngày nay, khi chính quyền là "do dân và vì
dân" thì chủ nghĩa tập trung (tuyệt đối) sẽ có 1số nhược điểm sau:
- Thiếu tính đại diện. Chính phủ dân chủ phải là đại diện của nhân dân. Do đó nếu
chính quyền tập trung hết vào chính phủ trung ương thì làm sao người dân có thể
có được đại diện của mình được? Dân có thể bầu ra 1 người, 2 người đại diện cho
mình ở thủ đô. Nhưng làm sao có thể kiểm soát chắc chắn hoạt động của những
người này khi họ ở xa mình có khi là cả nghìn cây số? Quyền lực sẽ thu về tay 1
số tầng lớp cao cấp.
- Không thể đáp ứng tốt nguyện vọng của nhân dân, bởi chính quyền địa phương
mới là người hiểu rõ nhu cầu của nhân dân chứ không phải chính quyền trung
ương. Không thể trông đợi 1 quan chức ở Hà Nội hiểu rõ sự phát triển, yêu cầu,
đòi hỏi của người dân tỉnh Bình Dương, cũng như không thể trông đợi 1 cán bộ ở
quận 1 TpHCM hiểu rõ nhu cầu của huyện Cần Giờ v.v Chỉ có những người trực
tiếp sống và làm việc ngay tại địa phương mới có những hiểu biết tường tận nhất
của nhân dân. Nói cách khác, chính quyền địa phương gần gũi với người dân hơn
chính quyền trung ương.
Do đó tóm lại 1 chính quyền quá tập trung sẽ dẫn tới mất dân chủ. Tuy nhiên rõ
ràng khái niệm dân chủ không tồn tại đối với 1 nhà nước phong kiến. Do đó chính
sách của Lê sơ như vậy có thể nói là tương đối tốt. Khi áp dụng vào thời đại ngày
nay, thời đại của tự do dân chủ, thì cần phải cẩn thận.
3.Chứng minh nhận định sau: “Với mô hình tổ chức bộ máy nhà nước mà Lê
Thánh Tông đặt ra sau cuộc cái cách, mô hình này là mô hình tiên tiến nhất
của chế độ quân chủ phong kiến đương thời, thể hiện khác hoàn chỉnh tư
tưởng chỉ đạo của Lê Thánh Tông: lớn nhỏ cùng ràng buộc nhau, nặng nhẹ
cùng kiềm chế nhau, dịa phương gắn với trung ương”.
(câu hỏi khó quá)
4. Chứng minh tính tản quyền trong cải cách của Lê Thánh Tông
Khái niệm: Tản quyền có nghĩa là một công việc không tập trung vào một cơ
quan, một chức quan mà sẻ chia cho nhiều cơ quan, nhiều chức quan cùng đảm

tiếp của nhà vua.
Phụ trách ở mỗi tự có chức quan Tự khanh trật Chánh ngũ phẩm và phụ giúp là
quan Thiếu khanh Chánh lục phẩm.
Để bảo đảm 6 bộ hoạt động có hiệu quả, các quan lại có trách nhiệm hơn thì vua
Lê Thánh Tông thành lập ra 6 khoa (Lại khoa, Hộ khoa, Lễ khoa, Binh khoa, Hình
khoa, Công khoa) có chức năng giám sát tương ứng với 6 bộ. Quan phụ trách cao
nhất của mỗi khoa là quan Đô cấp sự trung với trật Chánh nhất phẩm, dưới là quan
Chấp sự trung trật Chánh bát phẩm. Lục khoa không phải là cơ quan cấp dưới của
Lục bộ mà là cơ quan giám sát Lục bộ và báo cáo trực tiếp lên Vua, cho nên mặc
dù quan phụ trách ở khoa tuy phẩm trật không lớn nhưng rất có thực quyền.
Ngoài ra, các cơ quan chuyên môn khác được cải cách phù hợp với chức năng
nhiệm vụ tương ứng với một đối tương, và đảm trách từng công việc cụ thể hơn.
Từ sự cách cải theo nguyên tắc tản quyền như đã nêu trên ta thấy có nhiều cơ quan
mới được thành lập nhưng bộ máy nhà nước trung ương trở nên tinh gọn hơn, hoạt
động hiệu quả hơn; nhiều chức quan mới xuất hiện tuy phẩm trật khác nhau nhưng
thực quyền như nhau và có trách nhiệm hơn.
Thứ hai là tính tản quyền trong cái cách chính quyền ở địa phương.
Tính tản quyền thể hiện ở việc thành lập 13 đạo để thu hẹp bớt quyền hành của
chính quyền địa phương và xóa bỏ một số đơn vị trung gian.
Chính trong việc tổ chức mỗi đạo cũng thể hiện tính tản quyền rõ nét.
Lê Thánh Tông đã cho cải tổ việc quản lý địa phương bằng cách trao quyền phụ
trách ở một đạo cho 3 cơ quan:
Thừa ty: phụ trách các công việc thuộc lĩnh vực hành chính, tài chính, dân sự.
Đô ty: phụ trách quân sự.
Hiến ty có chức năng giám sát các công việc trong đạo để tâu lên vua.
Chức quan đứng đầu mỗi cơ quan đảm trách công việc phù hợp với chức năng và
trình độ của mình. Ví dụ: Tổng binh xuất thân từ hàng võ, không hiểu chữ nghĩa
mà kiêm giữ hai chức sẽ trở ngại cho việc quân ngũ và việc chính trị, vậy
Tông binh chỉ nên chuyên về việc binh.
Để bảo đảm trách nhiệm của từn cá nhân, thì công tác thanh tra giám sát ở các địa

 Các đăc trưng của pháp luật hôn nhân và gia đình
1. Pháp luật hôn nhân và gia đình chịu sự ảnh hưởng của Nho giáo
Hôn nhân phụ hệ, gia trưởng, đa thuê. Được cụ thể hóa bằng các chuẩn mực của
nho giáo sau:
a. Quan hệ cha – con:
Con cái phải hiếu thảo với cha mẹ.
Cha mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng và nuôi dạy con cái: xuất phát từ quyền làm chủ
gia đình của người tô trưởng, cha mẹ có quyền dạy dỗ, chăm lo đời sống vật chất
cho con cái khi còn sống chung với cha mẹ.
Điều 547: các con còn ở nhà với cha mẹ, mà đi ăn trộm, thì cha bị xử tội biếm; ăn
cướp thì cha bị xử tội đồ; nặng thì xử tăng thêm tội; và đều phải bồi thường thay
con những tan vật ăn trộm ăn cướp. Nếu con đã ở riêng thì cha bị xử tội phạt hay
biếm; cha đã báo quan thì không phải tội; nhưng báo rồi mà còn để con ở nhà thì
cũng xử như chưa báo.
Con cái phải phụ tùng mệnh lệnh của cha mẹ: với tư cách là người gia trưởng nên
cha mẹ có quyền quyết định những vấn đề quan trong trong gia đình mà không
phụ thuộc vào ý chí của con cái.
Điều 2: Khoản 7: bất hiếu, là tố cáo, rủa mắng ông bà, cha mẹ, trái lời cha mẹ dạy
bảo; nuôi nấng thiếu thốn, có tang cha mẹ mà lấy vợ lấy chồng, vui chơi ăn mặc
như thường; nghe thấy tang ông bà cha mẹ mà giấu, không cử ai; nối dối là ông bà
cha mẹ chết.
Điều 475: lăng mạ ông bà cha mẹ thì xử tội lưu châu ngoài; đánh thì xử lưu đi
châu xa; đánh bị thương thì xử tội giảo; vì lầm lỡ mà làm chết, tì xử tội lưu châu
ngoài; bị thương thì xử tội đồ làm chủng điền binh. Đánh ông bà ngoại thì giảm tội
một bậc.
Pháp luật hôn nhân và gia đình đưa ra những những điều kiện chuẩn mực mà mỗi
người trong gia đình ở mỗi vị trí khác nhau cần phải có trong quan hệ gia đình.
Khi con cái có hành vi phá vỡ trật tự đó xâm phạm các điều kiện tồn tại của gia

Trích đoạn Quyền nhân thân
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status