ÔN TẬP môn Lịch sử Nhà nước và Pháp luật thế giới - Pdf 23

TÀI LIÊU ÔN TẬP NỀN VĂN MINH PHƯƠNG ĐÔNG
Xét về vùng lãnh thổ, phương Đông ngày nay được hiểu là khu vực bao phủ toàn bộ châu
Á và phần Đông Bắc châu Phi. Nói đến phương Đông, người ta không thể không nhắc đến
những nền văn minh nổi tiếng như Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Arập, Trung Hoa, không thể
không nhắc đến Nho giáo, Hồi giáo, Phật giáo, Hinđu giáo và hàng loạt tín ngưỡng bản địa
mang màu sắc phương Đông. Tóm lại, phương Đông là một khu vực văn minh có “bản sắc”
riêng cả về phương diện truyền thống lẫn hiện đại. Ngày nay, xét trên nhiều góc độ như lịch sử,
chính trị, kinh tế, văn hoá, phương Đông chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong lịch sử
thế giới.
Vấn đề thứ 1
Cơ sở cho sự hình thành văn minh phương Đông
Châu Á và Đông Bắc châu phi là nơi ra đời những nền văn minh cổ kính của phương Đông
nói riêng và của loài người nói chung. Ở đây đã xuất hiện những quốc gia chiếm hữu nô lệ tối
cổ xây dựng trên sự tan rã của chế độ công xã nguyên thủy.
1.Điều kiện tự nhiên:
Những nền văn minh cổ kính đó xuất hiện trên lưu vực những con sông lớn như sông Nile
(Ai Cập), Tigris và Euphrates (Lưỡng Hà), sông Ấn (Indus) và sông Hằng (Gange) (Ấn Độ),
sông Hoàng Hà và Trường Giang (Trung Quốc)…
- Nhìn chung lưu vực các con sông nói trên là những vùng đồng bằng phì nhiêu rất thuận lợi
cho việc phát triển nông nghiệp. khí hậu ấm áp, nguồn nước phong phú, đất đai màu mỡ và dễ
canh tác đã cho phép các quốc gia cổ đại phương Đông phát triển nông nghiệp thuận lợi.
- Người phương Đông cổ đại sống trên lưu vực các con sông từ thời nguyên thủy đã sớm phát
hiện và lợi dụng những thuận lợi đó để phát triển sản xuất. Cùng với nông nghiệp, thủ công
nghiệp cũng phát triển mạnh, xã hội sớm xuất hiện giai cấp và nhà nước.
Cụ thể:
* Ai Cập ở Đông Bắc châu Phi, là một thung lũng nằm dọc theo lưu vực sông Nile. Phía tây
giáp sa mạc Libi, phía đông giáp Hồng Hải, phía bắc giáp Địa Trung Hải, phía nam giáp dãy
núi Nubi và Ethiopia. Địa hình chia làm hai khu vực: Thượng Ai Cập ở phía nam là một dãi
thung lũng dài và hẹp, có nhiều núi đá. Hạ Ai Cập ở phía bắc là vùng châu thổ đồng bằng sông
Nile rộng lớn hình tam giác. Sông Nile là một trong những con sông dài nhất thế giới, khoảng
6500km, với bảy nhánh đổ ra Địa Trung Hải, phần chảy qua Ai Cập dài 700km. Hàng năm

trùng điệp và những vùng sa mạc mênh mông. Địa thế hiểm trở đó cùng với những phương
tiện giao thông hết sức hạn chế thời cổ đại đã làm cho các nền văn minh này xuất hiện và phát
triển một cách độc lập. Sự liên hệ buổi đầu hầu như không xảy ra, do đó mỗi nền văn minh đã
phát triển một cách độc đáo, mang đậm bản sắc dân tộc. Về mặt này, Ai Cập là một ví dụ điển
hình: Địa hình Ai Cập gần như đóng kín, phía Bắc và phía Đông giáp Địa Trung Hải và Hồng
Hải, phía Tây bị bao bọc bởi sa mạc Sahara. Ở Ấn Độ thì hai mặt Đông Nam và Tây Nam đều
tiếp giáp với Ấn Độ Dương, phía bắc án ngữ bởi dãy Hymalaya (tức là xứ Tuyết) thành một
vòng cung dài 2600km, trong đó có hơn 40 ngọn núi cao trên 7000m như những trụ trời.
2) Cơ sở dân cư:
Trên cơ sở những điều kiện tự nhiên như vậy, cư dân ở phương Đông ra đời sớm và phát
triển nhanh chóng. Tuy nhiên, quá trình hình thành các cộng đồng dân cư ở phương Đông diễn
ra rất đa dạng và phức tạp.
Cụ thể:
- Ai Cập: Ở lưu vực sông Nile từ thời đồ đá cũ đã có con người sinh sống. người Ai Cập thời
cổ là những thổ dân châu Phi, hình thành trên cơ sở hỗn hợp rất nhiều bộ lạc. Do đi lại săn bắn
trên lục địa, khi đến vùng thung lũng sông Nile, họ định cư ở đây phát triển nghề nông và nghề
chăn nuôi từ rất sớm. Về sau, một chi của bộ tộc Hamites từ Tây Á xâm nhập vùng hạ lưu sông
Nile, chinh phục thổ dân người châu Phi ở đây. Trải qua quá trình hỗn hợp lâu dài, người
Hamites và thổ dân đã đồng hóa với nhau, hình thành ra một tộc người mới, đó là người Ai
Cập.
- Lưỡng Hà: Người Sumer từ thiên niên kỉ IV.TCN đã di cư tới đây và sáng lập ra nền văn
minh đầu tiên ở lưu vực Lưỡng Hà, chung sống và đồng hóa với người Sumer. Ngoài ra còn rất
nhiều bộ lạc thuộc nhiều ngữ hệ khác nhau ở các vùng xung quanh di cư đến. Trải hàng ngàn
năm, qua quá trình lao động, họ đã hòa nhập thành một cộng đồng dân cư ổn định và xây dựng
nên nền văn minh rực rỡ ở khu vực Tây Á.
- Ấn Độ: Cư dân Ấn Độ đa dạng về tộc người và ngôn ngữ. Có hai chủng tộc chính là người
Dravida chủ yếu cư trú ở miền Nam, và người Aria cư trú ở miền Bắc. Ngoài ra còn có nhiều
tộc người khác như người Hy Lạp, Hung Nô, Arập cũng sinh sống ở đây…
- Trung Quốc: Do điều kiện tự nhiên thuận lợi, từ xa xưa, vùng châu thổ Hoàng Hà đã là quê
hương của các bộ tộc Hạ, Thương, Chu. Họ chính là tổ tiên của dân tộc Hán – người sáng tạo

- Muốn chinh phục được tự nhiên, con người phải có công cụ lao động, bởi công cụ lao động
là tiêu chí để đánh giá trình độ sản xuất của một xã hội.
Ngay từ thời nguyên thủy con người đã biết chế tạo công cụ lao động, từ những công cụ
thô sơ bằng đá, gốm đến những công cụ bằng đồng, sắt… đã cho phép con người tạo ra một
năng suất lao động ngày càng cao.
Người Ai Cập ngay từ thời Cổ vương quốc đã biết dùng cuốc bằng đá hoặc bằng gỗ để
trồng trọt, dùng liềm bằng đá để gặt lúa, dùng trâu bò để đập lúa. Thời Trung vương quốc,
người ta đã biết mở rộng các công trình thủy lợi thành một hệ thống rộng lớn với nhiều công
dụng khác nhau như điều tiết thủy lượng, dẫn, tháo nước để chống hạn và chống úng… người
Ai Cập còn biết xây hồ Mơrit thành một bể chứa nước lớn ăn thông với sông Nile, có khả năng
cung cấp nước cho một vùng rộng lớn có thể gieo trông hai vụ trong năm.
Ở Lưỡng Hà người ta đã xây dựng một hệ thống đê điều hoàn chỉnh gồm đập nước, mương
dẫn… như mạng nhện.Từ đầu thiên niên kỉ II, người Ấn Độ đã biết dùng lưỡi cày bằng đá để
cày ruộng.Còn ở Trung Quốc, thời Ân-Thương người ta dùng liềm bằng đá hoặc vỏ ngao để
gặt lúa, dùng lưỡi cày bằng gỗ. Sang thời Xuân Thu, người ta đã biết dùng những công cụ bằng
sát, có những lò luyện sắt có trên 300 công nhân.
Những công cụ bằng kim loại đã cho phép con người nâng cao năng suất lao động.
- Bên cạnh việc sáng tạo ra những công cụ lao động, cư dân cổ đại phương Đông cũng đã
đạt một trình độ tổ chức sản xuất tương đối cao.
Do yêu cầu phải hợp sức với nhau để xây dựng các công trình thủy lợi nên việc tổ chức sản
xuất là một công việc rất cần thiết để thống nhất kế hoạch, và tập trung sức sản xuất.
Ở Ai Cập vào thời Tân vương quốc, sản xuất đã được chuyên môn hóa và được phân công
tỉ mỉ. Có Thừa tướng là (Vidia) chịu trách nhiệm quan sát, điều hành sản xuất nông nghiệp
trong toàn quốc. việc tổ chức điều hành sản xuất trong toàn quốc có ý nghĩa sống càn đối với
các quốc gia phương Đông cổ đại, bởi vì nền văn minh phương Đông chủ yếu hình thành trên
lưu vực của những con sông lớn. Nhà nước đã đứng ra huy động sức người sức của để xây
dựng và bảo vệ các công trình thủy lợi.
- Các quốc gia cổ đại phương Đông cũng đã biết thuần dưỡng súc vật làm vật nuôi phục vụ
sản xuất và cung cấp thực phẩm cho đời sống hằng ngày.
- Nhờ quan tâm đến sản xuất nông nghiệp mà trình độ tổ chức sản xuất của nhà nước và

Đứng đầu các liên minh bộ lạc có vua (Radjah) mà thực chất là tù trưởng hay thủ lĩnh quân sự,
quyền lực chủ yếu vẫn thuộc về đại hội các thành viên nam giới của bộ lạc. Về sau Radjah tập
trung quyền lực vào trong tay mình và truyền ngôi cho con cháu. Xung quanh nhà vua có đội
ngũ quan lại lo các công việc như chỉ huy quân đội, thu thuế, tế lễ, thủy lợi… Đến vương triều
Môria (321-184.TCN), bộ máy nhà nước của Ấn Độ cổ đại tương đối hoàn chỉnh có những đặc
trương của một bộ máy nhà nước chuyên chế phương Đông. Vua được tôn sùng như một vị
thần sống và được coi như người đại diện cho thần. Dưới nhà vua là hội đồng cơ mật “Parisát”
gồm đại biểu của những gia đình quý tộc tiếng tăm nhất. Trong bộ máy nhà nước cồng kềnh,
đứng đầu là các thừa Tướng cùng nhiều chức thượng thư trông coi các bộ.
Đơn vị hành chính cơ sở ở địa phương là làng. Ấn Độ được chia thành nhiều khu vực hành
chính lớn nhỏ khac nhau, đứng đầu các khu vực hành chính đó là những người trong hoàng tộc
hoặc cận thần được nhà vua tin cẩn. Nhà vua cũng có một đội quân hùng hậu gồm đủ các binh
chủng như bộ binh, kị binh, tượng binh…
Ở Trung Quốc bộ máy nhà nước cũng tiêu biểu cho kiểu nhà nước chuyên chế phương
Đông. Nhà Hạ mở đầu cho nhà nước chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc. Đứng đầu nhà nước là
nhà vua, dưới là “lục khanh” (6 chức tướng) giúp vua cai trị đất nước. Nhưng nhà nước hoàn
chỉnh nhất là vào thời Tây Chu. Vua được coi là thiên tử (con trời), dưới vua là tầng lớp quý
tộc quan lại phụ trách các công việc hành chính, quân đội, nông nghiệp… Vua và tước hiệu
quý tộc được truyền lại cho con cháu.
Như vậy, ở phương Đông cổ đại đã xuất hiện và tồn tại một hình thức nhà nước đặc
biệt.Nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền, còn gọi là chủ nghĩa chuyên chế
phương Đông. Đặc trưng của kiểu nhà nước này là quyền lực vô hạn của nhà vua về thần dân
và ruộng đất. Nhà vua đã cùng với bộ máy quan lại tổ chức quản lí xã hội tương đối chặt chẽ từ
trung ương đến địa phương, trong đó hình pháp được đề cao.
Việc xuất hiện nhà nước và trình độ tổ chức quản lí xã hội ở phương Đông cổ đại đã góp
phần xây dựng nên những nền văn minh rực rỡ ở khu vực này.
Vấn đề thứ 4
Những đặc điểm của văn minh phương Đông
Văn minh phương Đông rất rộng lớn về quy mô, lãnh thổ, rất đa dạng về màu sắc và có sự
tồn tại rất lâu dài về mặt lịch sử. Khái quát cho đúng, cho hết những đặc điểm của văn minh

Nguồn lương thực chính của người phương Đông chủ yếu là lúa gạo và các loại ngũ cốc do
nền sản xuất nông nghiệp tạo ra. Người phương Đông thường ăn cơm với các loại thực phẩm
mang tính tự cung tự cấp như rau, cá và một số loại thịt gia cầm. Các loại gia vị, hương liệu
như ớt, tiêu, rau thơm, cari, v.v. vốn là sản phẩm của sản xuất nông nghiệp cũng được dùng
phổ biến ở nhiều nơi.
Cách ăn mặc của cư dân phương Đông cũng phù hợp với công việc sản xuất nông nghiệp:
Nói chung mặc ấm về mùa lạnh (hoặc ở xứ lạnh) và mát mẻ về mùa nóng (hoặc ở xứ nóng);
mặc gọn gàng, tiện lợi (khố, váy, v.v.).
Nói chung, trừ một số khu vực dân cư theo loại hình kinh tế du mục nên ở lều di động, đa
số cư dân còn lại sống trong một ngôi nhà cố định. Đó có thể là nhà “nửa nổi nửa chìm”, tức là
đào sâu xuống lòng đất một chút, hoặc là ngôi nhà sàn tiện lợi về mọi mặt.
Trong số các phương tiện đi lại thì thuyền phổ biến ở nhiều nơi, và hình thức di chuyển này
ở phương Đông rõ ràng trước hết gắn với sông nước, sau đó mới đến yếu tố thương mại.
Tính chất nông nghiệp của văn minh phương Đông còn được biểu hiện ở các tín ngưỡng
và sinh hoạt văn hoá dân gian rất độc đáo của cư dân phương Đông.
Có thể nói bao trùm lên đời sống cư dân nông nghiệp phương Đông là niềm tin tín ngưỡng
và các sinh hoạt văn hoá dân gian như lễ hội Tín ngưỡng là cội nguồn của lễ hội. Lễ hội vừa
là dịp tiến hành các nghi lễ có tính ma thuật để cầu xin thần linh giúp đỡ, xua đuổi tà ma, vừa
là dịp để người dân vui chơi giải trí.
Trong số các loại tín ngưỡng tồn tại ở phương Đông, phổ biến nhất là tín ngưỡng sùng bái
tự nhiên. Điều này hoàn toàn có cơ sở bởi sản xuất nông nghiệp, nhất là nông nghiệp ở thời kì
sơ khai khi khoa học kĩ thuật chưa phát triển, gần như tất cả đều phụ thuộc vào thiên nhiên,
vào ý Trời. Vì vậy, ở khắp nơi, từ Đông Bắc Phi-Tây Á đến lưu vực sông Hoàng Hà rộng lớn
v.v. đâu đâu người ta cũng thờ cúng các vị Thần liên quan đến sản xuất nông nghiệp như Thần
Mặt trời, Thần Đất, Thần Nước, Thần Lúa, Thần Gió, Thần Sông
Gắn liền với tín ngưỡng sùng bái tự nhiên là hàng loạt các lễ hội nông nghiệp như lễ hội té
nước, lễ hội cầu mưa, cầu nắng, hội đua thuyền, lễ tịch điền, lễ hội mừng được mùa
Nông nghiệp gắn liền với nông thôn. Tính chất nông nghiệp của phương Đông được nảy
sinh, nuôi dưỡng và phát triển trong một mô hình xã hội đặc biệt: mô hình làng xã. Các công
xã nông thôn, theo cách nói của K. Marx, có ảnh hưởng rất sâu đậm đến đời sống của cư dân

nhiên. Nó luôn luôn được coi là một thành tố, một bộ phận của giới tự nhiên.
Có thể cắt nghĩa đặc điểm hoà đồng, thuận tự nhiên bằng cơ sở kinh tế – xã hội của phương
Đông.
Trước hết có thể giải thích bằng nền sản xuất nông nghiệp. Như đã nói ở trên, sản xuất
nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên. Bởi vậy từ trong tâm khảm của người dân, tự
nhiên là đấng tối cao. Sản xuất nông nghiệp chỉ có thể đạt hiệu quả khi thuận theo tự nhiên.
Một trong những biểu hiện của sự thuận theo ấy là tính thời vụ. Có thể nói, kinh nghiệm sống,
nói cụ thể hơn là kinh nghiệm sản xuất, đã khiến cư dân nông nghiệp phương Đông phải hành
động thuận theo tự nhiên. Trái ý tự nhiên, trái ý Trời sẽ bị trả giá. Không còn cách nào khác,
Nhật Bản vẫn phải “sống chung với động đất”, Indonesia phải “sống chung với núi lửa”,
Philippines phải “sống chung với bão” còn đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam thì phải
chấp nhận “sống chung với lũ” như là một lẽ tự nhiên.
Một lí do khác nữa cắt nghĩa cho đặc điểm hoà đồng, thuận tự nhiên là ở tổ chức của xã
hội truyền thống phương Đông, đó là xã hội nông nghiệp với chế độ công xã nông thôn. Chế
độ này, như đã nói, mang lại cho mỗi đơn vị nhỏ bé (làng xã) một cuộc sống cô lập, tách biệt.
Công xã tổ chức theo lối gia đình tự cấp, tự túc. Con người bị trói buộc bởi những quy tắc
truyền thống, do đó hạn chế sự phát triển của lí trí, từ đó rất dễ trở thành nô lệ của những điều
mê tín dị đoan. Những công xã nông thôn phương Đông, do vậy, hạn chế con người ở việc chủ
yếu phục tùng những hoàn cảnh bên ngoài, phục tùng tự nhiên chứ không có ý thức và năng
lực làm chủ hoàn cảnh, chinh phục tự nhiên. Đây cũng chính là lí do để chế độ chuyên chế
phương Đông tồn tại và phát triển.
4. Văn minh phương Đông hướng nội và khép kín
Cuộc sống nông nghiệp luôn luôn cần một sự ổn định. Người dân thường rất sợ những điều
xảy ra bất thường. Lối sống hài hoà với tự nhiên, tình cảm với mọi người, suy cho cùng, cũng
là nhằm đạt tới sự ổn định. Từ đây xuất hiện phương thức sống hướng nội và khép kín.
Sống trong các công xã nông thôn cô lập, tách biệt, xét ở một góc độ nào đó, tính tự trị
đồng nghĩa với hướng nội và khép kín. Trong xã hội phong kiến, mô hình làng xã “kín cổng
cao tường” cùng với những thiết chế xã hội ngặt nghèo của nó càng làm cho “tầm nhìn” của cư
dân nông nghiệp không vượt khỏi “lũy tre làng”.
Nền nông nghiệp tự cấp tự túc chỉ tạo ra được những sản phẩm vừa đủ để lưu thông trong

Nói chung, các lưu vực sông ở phương Đông nói trên đều tạo thành những đồng bằng rộng
lớn và phì nhiêu, rất phù hợp với sự phát triển của nông nghiệp. Ở đây, điều kiện tự nhiên
thuận lợi: thuỷ lượng cao, khí hậu ấm áp, đất đai màu mỡ, dễ canh tác. Chính vì vậy cư dân các
khu vực nói trên đã sớm gắn bó với việc sản xuất nông nghiệp, nhất là nghề trồng lúa nước.
Bên cạnh trồng trọt, các gia đình còn chăn nuôi gia súc và gia cầm, một số làm các nghề thủ
công như sản xuất nông cụ, dệt vải, làm đồ gốm, v.v. Tuy nhiên nghề thủ công phương Đông
chỉ có tính chất bổ trợ cho nền kinh tế khép kín của làng xã, không phát triển thành kinh tế
hàng hoá thị trường. Như vậy là kinh tế nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo của các quốc gia
phương Đông.
2. Phương Đông bước vào xã hội chiếm hữu nô lệ – xã hội có giai cấp đầu tiên trong lịch sử
phát triển của nhân loại – tương đối sớm. Điều này cũng dễ hiểu. Như trên đã nói, nông nghiệp
ở phương Đông ra đời sớm và giữ vai trò chủ đạo. Khi nông nghiệp phát triển thì tổ chức xã
hội cũng phát triển, dẫn đến việc xã hội sớm phân hoá thành giai cấp và hệ quả là nhà nước
sớm ra đời. Thời gian xuất hiện nhà nước phương Đông cổ đại sớm nhất (dưới hình thức nhà
nước chiếm hữu nô lệ) là vào khoảng thế kỉ thứ IV TCN. Dĩ nhiên các nhà nước chiếm hữu nô
lệ không ra đời cùng một lúc và cũng không chấm dứt cùng một lúc. Ra đời sớm nhất là nhà
nước chiếm hữu nô lệ ở Ai Cập và Lưỡng Hà (thế kỉ thứ IV TCN), sau đó mới đến các nhà
nước ở khu vực sông Ấn, sông Hằng và Hoàng Hà, Dương Tử (thế kỉ thứ III TCN). Về sự “lụi
tàn” của các nhà nước chiếm hữu nô lệ phương Đông cũng tương tự. Nếu như đế quốc Ba Tư ở
vùng Trung Cận Đông sụp đổ ngay từ thế kỉ thứ IV TCN thì nhà nước cổ đại Ấn Độ còn kéo
dài mãi đến tận những thế kỉ đầu công nguyên.
Các nhà nước cổ đại phương Đông không chỉ có những đặc trưng chung của một xã hội
chiếm hữu nô lệ mà còn có những đặc điểm riêng mang màu sắc phương Đông, như sau.
- Do các quốc gia cổ đại phương Đông ra đời ở thời kì mà sức sản xuất xã hội đang còn ở
trình độ thấp kém, tức là ở giai đoạn cuối của thời đại đồ đá mới, nên xã hội chiếm hữu nô lệ
không thể phát triển nhanh chóng, khiến các quốc gia đó, nói chung, không trở thành những xã
hội chiếm hữu nô lệ phát triển thành thục và điển hình.
- Sự tồn tại dai dẳng và ngoan cố của các tổ chức công xã nông thôn, tàn tích của xã hội thị
tộc thời nguyên thuỷ, và sự phát triển rất yếu ớt của chế độ tư hữu về ruộng đất trong các xã
hội cổ đại phương Đông.

gia phương Đông đều kết thúc chế độ nô lệ và lần lượt chuyển sang xã hội phong kiến.
Vào thời kì trung đại, nền kinh tế chủ yếu của các nhà nước phong kiến phương Đông vẫn
là nền kinh tế nông nghiệp, tự cung tự cấp. Trong xã hội phong kiến, giai cấp phong kiến quý
tộc và sau này thêm tầng lớp địa chủ, là giai cấp nắm tư liệu sản xuất, nắm ruộng đất nên là
giai cấp thống trị. Giai cấp bị trị là nông dân. Ở phương Đông, khi kinh tế phong kiến là điền
trang thái ấp thì nông dân chịu thân phận nông nô còn khi kinh tế phong kiến chuyển sang hình
thức địa chủ thì nông dân trở thành tá điền.
Trong các nhà nước phong kiến phương Đông, nhà nước phong kiến Trung Hoa là một điển
hình. Đặc trưng của kiểu nhà nước này là có một chính thể quân chủ chuyên chế tập quyền cao
độ, hoàn hảo. Dưới chế độ phong kiến, vua là người nắm trong tay toàn bộ quyền lực: lập
pháp, hành pháp, tư pháp. Vua được mệnh danh là Thiên tử. Và bộ máy nhà nước do vua đứng
đầu có một uy quyền vô cùng to lớn.
Trong lịch sử, chế độ phong kiến phương Đông tồn tại dai dẳng: khoảng 20 thế kỉ (tính từ
đầu công nguyên đến những năm đầu của thế kỉ XX). Thời điểm bắt đầu suy thoái của của các
nhà nước phong kiến phương Đông có thể tính từ thế kỉ XVI-XVII trở đi. Vào thời điểm đó,
giai cấp phong kiến phương Đông trở nên phản động, kìm hãm sự phát triển của đất nước. Các
nhà nước phong kiến phương Đông vẫn duy trì tình trạng kinh tế tự cung tự cấp, kinh tế nông
nghiệp lạc hậu, bóp chết những mầm mống của nền kinh tế hàng hoá và những quan hệ sản
xuất mới - quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Hơn nữa các nhà nước còn thi hành chính sách bế quan toả cảng, đóng cửa, không giao lưu
với thế giới bên ngoài. Trong khi đó thì cũng đúng vào thời điểm ấy, các nước phương Tây tiến
hành cách mạng tư sản, xác lập chủ nghĩa tư bản và tiến hành xâm lược các nước nhằm mở
rộng thị trường mà đối tượng được chúng “để mắt đến” chính là các quốc gia phương Đông.
Khi cuộc chiến tranh xâm lược của phương Tây nổ ra, giai cấp phong kiến phương Đông nói
chung đều nhân nhượng, thoả hiệp và đầu hàng. Do vậy từ thế kỉ XVI đến XIX, trừ Nhật Bản,
tất cả các nước phương Đông đều bị biến thành nước nửa thuộc địa hoặc thuộc địa của các
nước tư bản phương Tây.
Nhìn chung, trong chế độ phong kiến, các nền văn minh phương Đông vẫn toả sáng.
Những “chiếc nôi” văn hoá cổ đại phương Đông vẫn có sức lan toả mạnh mẽ ra các khu vực
xung quanh: Nhiều yếu tố văn minh Ấn Độ được truyền bá sang Đông Nam Á, Tây Tạng, Bắc

lo cạnh tranh gay gắt, không bị ai thúc ép. Vì thế nên khi bước vào xã hội hiện đại với yêu cầu
phát triển công nghiệp thì tính cách tuỳ tiện, thiếu kỉ luật, thiếu tính tổ chức mới bộc lộ tất cả
những yếu kém của nó. Đó là mặt hạn chế cơ bản của con người nông nghiệp phương Đông
trong sự so sánh với con người phương Tây vốn quen tác phong nhanh nhẹn, chính xác và làm
việc hết mình.
Tư tưởng cục bộ địa phương cũng là một hạn chế của con người nông nghiệp quen sống
trong cộng đồng làng xã mình mà ít mở rộng hiểu biết, giao tiếp ở phạm vi rộng hơn, xa hơn.
Tâm lí “người cùng làng” trong phạm vi cộng đồng có thể dễ đố kị nhau nhưng khi ra ngoài
làng thì họ lại bênh vực cho những người cùng làng xã mình, hay có thể từ một việc va chạm
nhỏ nhưng nếu động đến làng thì cả làng sẵn sàng kéo nhau ra bảo vệ làng mình một cách cực
đoan bất kể tốt, xấu, phải, trái.
2. Như đã phân tích ở trên, xã hội nông nghiệp với chế độ công xã nông thôn cô lập, tách
biệt, cộng với những xiềng xích nô lệ của các quy tắc hà khắc cổ truyền “đã làm hạn chế lí trí
của con người trong những khuôn khổ chật hẹp và trở thành công cụ ngoan ngoãn của mê tín.
Những công xã này chủ yếu làm cho con người phục tùng những hoàn cảnh bên ngoài chứ
không nâng con người lên địa vị làm chủ những hoàn cảnh ấy”.
Xã hội phương Đông, vì vậy, mang tính chất thụ động, quân bình, ít thay đổi. Tình trạng
tĩnh tại, trì trệ của xã hội phương Đông kéo dài đến tận mươi năm đầu của thế kỉ XIX. Và đó
chính là cơ sở để chế độ chuyên chế phương Đông tồn tại quá dai dẳng, làm cản trở sự phát
triển của xã hội.
Lối tư duy thiên về trực giác của phương Đông, ít óc duy lí, phân tích, mổ xẻ cũng phần
nào làm cho khoa học kĩ thuật không phát triển mạnh được như phương Tây. Những phát kiến
về khoa học – kĩ thuật của phương Đông trước đây chủ yếu gắn với sản xuất, nảy sinh từ sản
xuất.Trên một ý nghĩa nào đấy, đó cũng là một hạn chế của văn minh phương Đông.
3 Phương Đông đã có những tấm gương sáng về sự phát triển vượt trội: Nhật Bản, Hàn
Quốc, Singapore, Trong số những bài học có thể rút ra được từ các quốc gia nói trên có bài
học về giữ gìn bản sắc ưu việt của văn hoá truyền thống, loại bỏ những yếu tố văn hoá lạc
hậu, lỗi thời, hạn chế do nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu gắn liền với công xã nông thôn quy
định, và tiếp thu những yếu tố văn hoá mới, tiên tiến của phương Tây. Nói cách khác, đồng
thời với việc bảo tồn và phát huy những thành quả, những yếu tố tích cực xây dựng một nền

ữ viết của người Lưỡng Hà được viết trên đất sét, mỗi tấm đất sét là một trang sách.
Chữ có hình như những góc nhọn, nên thường được gọi là chữ hình góc nhọn, chữ hình nêm
hay chữ tiết hình.
Rất nhiều dân tộc ở Tây Á thời cổ đại đã dùng loại chữ viết này để ghi lại sinh hoạt kinh tế, xã
hội và những diễn biến chính trị thời đó. Vì vậy, có thể coi chữ viết của người Sumer phát
minh ra là nguồn gốc của nhiều chữ viết khác của người Akkad, Babylone, Hittiles, Assyria,
Ba Tư.
+ Văn học:
Văn học Lưỡng Hà phong phú về nội dung và thể loại, với nhiều tác phẩm có giá trị nghệ
thuật cao. Các thể loại văn học chính là văn học dân gian, thơ và anh hùng ca. Nội dung
thường gắn liền với tín ngưỡng và phản ánh đời sống thường ngày của người lao động. Điển
hình nhất là hai trường ca: Anuma Elit và Gilgamesh.
- Trường ca Anuma Elit ca ngợi sự sáng tạo của vũ trụ, một khối hỗn mang thuở ban đầu,
từ đó sinh ra con người và muôn vật trên trên mặt đất.
- Trường ca Gilgamesh ca ngợi tinh thần anh dũng của những nhân vật có thật được thần
thánh hóa, phản ánh với mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Đó là nhữnh cuộc đấu tranh
quyết liệt trước sự tàn phá của thác lũ, hạn hán và thú dữ để bảo vệ đời sống yên lành của cư
dân.
* Văn học Ả rập:
+ Văn xuôi:
- Kinh Koran không chỉ là kinh thánh của các tín đồ Hồi giáo mà còn là một tác phẩm văn
học đồ sộ, ảnh hưởng sâu sắc đến ngôn ngữ, và văn hóa Hồi giáo. Kinh Koran đã làm cho ngôn
ngữ Arập thống nhất, bảo tồn, và được truyền bá rộng rãi trong các nước theo Hồi giáo. Đạo
Hồi truyền bá tới đâu kinh Koran và ngôn ngữ Arập cũng được truyền tới đó tạo điều kiện
thuận lợi cho sự giao lưu văn hóa, giữa các quốc gia. Kinh Koran được xem như một bộ sách
giáo khoa, là cuốn sách học tiếng Arập. Đạo Hồi quy định tín đồ ở bất kỳ nơi đâu khi đọc kinh
cũng đều phải đọc bằng tiếng Arập, vì vậy ngôn ngữ Arập được bảo tồn và duy trì sức sống cho
tới tận ngày nay.
Ngoài ra kinh Koran còn chứa đựng nhiều truyền thuyết, những câu chuyện lịch sử, phản
ánh sinh động bộ mặt xã hội lúc bấy giờ, là những tư liệu lịch sử, và nguồn cảm hứng bất tận

- Ramayana dài 48.000 câu thơ là thiên tình sử đầy trắc trở giữa hoàng tử Rama tuấn tú và
nàng công chúa kiều diễm Sita. Thông qua câu chuyện tình đó, bộ sử thi phản ánh những
ngành nghề, việc làm ăn sinh sống, phong tục cưới xin, quan niệm của người Ấn Độ về con
người, cha con, vợ chồng, anh em, lòng chung thủy và đức tính trung nghĩa ở đời.
- Nhà thơ- nhà viết kịch Kalidasa sống vào thế kỉ IV thời vương triều Gúpta, ông là tác giả
của tác phẩm văn học trữ tình nỗi tiếng Sacuntala. Tác phẩm phỏng theo một câu chuyện dân
gian trong sử thi Mahabharata, mô tả cuộc tình duyên trắc trở của Sacuntala và nhà vua
Dusianta. Mối tình tuyệt đẹp đã sinh ra Bharata vị thủy tổ của nhân dân Ấn Độ. Tuy chịu ảnh
hưởng của đạo Bàlamôn nhưng Kalidasa đã thể hiện trong tác phẩm của mình tư tưởng tự do,
chống lại lễ giáo khắt khe, lên án bản chất giả dối của giai cấp thống trị.
- Ngoài ra văn học Ấn Độ còn xuất hiện nhiều tác phẩm viết bằng nhiều loại phương ngữ
khác nhau.
4. Trung Quốc:
a. Chữ viết:
+ Văn tự đầu tiên của người Trung Quốc là văn tự kết thừng. Đến thiên niên kỉ II.TCN,
người Ân Thương đã viết lên mai rùa, xương thú gọi là giáp cốt văn. Ngoài ra còn có chữ được
khắc trên đồ vật (Ân khư khư thế), chữ khắc trên đá (Thạch cổ văn), chữ khắc hay đúc trên
đồng (Kim văn), chữ trên chuông đỉnh (Chung đỉnh văn). So với Giáp cốt văn, Kim văn không
khác biệt về bản chất, nhưng chữ ngay ngắn, vuông vắn, thành hàng lối rõ rệt và nhiều chữ
phức tạp hơn.
+ Đến nhà Tần, chữ viết được chỉnh lí, đơn giản và cải tiến … khuôn trong hinh vuông gọi
là chữ Tiểu triện. Đây là lần thống nhất quan trọng cơ bản đầu tiên trong lịch sử phát triển chữ
viết của Trung Quốc … ra đời từ thiên niên kỉ thứ II.TCN, chữ viết Trung Quốc là hệ chữ viết
duy nhất hiện còn được sử dụng.
b. Văn học:
+ Thơ:
- Kinh thi: là tập thơ cổ nhất do nhiều tác giả sáng tác từ đầu Xuân Thu đến giữa Tây Chu
(khoảng 500 năm) gồm 3 phần: Phong, Nhã, Tụng, trong đó Phong chiếm số lượng nhiều nhất
và cũng có giá trị cao nhất. Kinh thi đã ảnh hưởng sâu sắc đến văn học Trung Quốc sau này.
- Thơ Đường: Thơ Đường là đỉnh cao của nền thơ ca Trung Quốc, nó trở nên vô giá bởi nội

phương, còn xuất hiện những vị thần chung. Người Ai Cập thờ thần Ra (Thần mặt trời), thần
Ptah (thần sáng tạo vũ trụ và con người), thần Amon (thần đem lại sức mạnh cho vương quốc
và Pharaon), thần Osiris (được coi là thần Nông nghiệp, thần sông Nile), thần Montou (thần
chim ưng), Sobek (thần Cá sấu)
+ Người Ai Cập tin linh hồn bắt tử, nên việc chôn cất thi hài gắn liền với quan niệm hồn và
xác. Khi chết, linh hồn tuy thoát ra ngoài nhưng vẫn còn tìm chỗ dựa ở nơi xác, vì vậy khi con
người cần phải giữ lại xác. Việc xây dựng các Kim tự tháp (các lăng mộ của nhà vua) và kĩ
thuật ướp xác bắt nguồn từ quan niệm trên.
2. Lưỡng Hà:
- Trong thời kỳ đầu, người Lưỡng Hà theo đa thần giáo. Họ tôn sùng những lực lượng tự
nhiên, coi đó là những lực lượng thống trị cuộc sống của mình. Người Lưỡng Hà thờ thần Anu,
Eaua, thần Enlin ngoài các thần chủ, người Lưỡng Hà còn tôn thờ nhiều thần khác như thần
trồng trọt, thần chăn nuôi và các hiện tượng tự nhiên như thần Samat (thần Mặt trời). Thần
Istaro (thần Ái tình) người ta tin rằng thần Mẹ (Inana) còn là thần bảo hộ nông nghiệp, thần
của sinh nở, thần Ea (thần Biển) còn dạy cho người ta biêt nghề thủ công, nghệ thuật, khoa
học, thần Tamuz (thần Nước) được coi như vị thần dạy bảo cư dân trông trọt, làm nghề thủ
công và là vị thần của lòng nhân ái, bảo vệ mùa màng
- Cùng với sự xác lập quyền lực tối cao, trong toàn Lưỡng Hà của Hammourabi, thần
Mardouk đã trở thành vị thần tối cao trong toàn quốc, bản thân nhà vua cũng được thần thánh
hóa, thay mặt thần Mardouk cai trị muôn dân.
- Người ta xây dựng nhiều đền miếu thờ thần và tiến hành nhiều nghi lễ phức tạp. Việc xây
dựng đền miếu đã trở thành gánh nặng đối với quần chúng. Nhân dân đã bị tập đoàn tăng lữ nô
dịch về tinh thần và bóc lột về kinh tế. Tập đoàn tăng lữ của Babylone rất cồng kềnh, có đến
hơn 30 đẳng cấp.
* Đạo Hồi của Arập:
- Đạo hồi, tiếng Arập là Islam, có nghĩa là phục tùng, tuân theo thánh Allah tối cao và duy
nhất, tuân theo vị sứ giả của thánh Allah là Muhammad.
Những tư tưởng chính trị của đạo Hồi nằm trong kinh Koran gồm 30 quyển, 114 chương,
6236 tiết. Các tín đồ Hồi giáo coi kinh Koran như một vật linh thiêng, thần thánh.
Trong kinh Koran luân lí và pháp luật, thế tục và tôn giáo là một, mọi giới luật đều do

lực bảo vệ chế độ đẳng cấp ở Ấn Độ. Bàlamôn được truyền bá rộng rãi trong nhiều thế kỉ, đến
thế kỉ VI.TCN bị suy thoái do sự phát triển mạnh mẽ của đạo Phât.
- Khoảng thế kỉ VII, đạo Phật bị suy sụp, nhân đó đạo Bàlamôn phục hồi và phát triển. Đến
khoảng thế kit VIII-IX, Bàlamôn giáo được bổ sung thêm nhiều yếu tố về đối tưựong sùng bái,
kinh điển và nghi thức… từ đây Bàlamôn giáo được gọi là Hinđu giáo (Ấn Độ giáo). Đối
tượng sùng bái chủ yếu của Hinđu giáo vẫn là ba thần Brama, Visnu, Siva. Các loài động vật
như rắn, hổ, khỉ, bò, cá sấu… cũng được Hinđu giáo coi là các thần và rất được tôn sùng, Giáo
lí của Hinđu giáo được thể hiện trong các bộ kinh Vêđa, Upanisad và các sử thi Mahabharata,
Ramayana, Bhagavad….
- Phật giáo: Ra đời vào cuối thiên niên kỉ I.TCN, Siddharata Gautama là người sáng lập.
Nội dung chủ yếu của Phật giáo là chỉ ra chân lí về nguyên nhân cảu các nổi khổ ở đời và sự
giải thoát khỏi nỗi đau khổ ấy.
Chân lí về nỗi đau và sự giải thoát khỏi nỗi đau khổ đó được thể hiện trong “Tứ diệu đế”.
Khổ đế là chân lí về các nỗi khổ.
Tập đế là chân lí về nguyên nhân của các nỗi khổ.
Diệt đế là chân lí về sự chấm dứt các nỗi khổ.
Đạo đế là chân lí về con đường diệt khổ (Bát chính đạo).
Về mặt thế giới quan nội dung cơ bản của học thuyết Phật giáo là thuyết “duyên khởi”.
Mọi vật đều do nhân duyên hòa hợp mà thành, duyên khởi do tâm mà ra, tâm là nguồn gốc của
duyên khởi và cũng là nguồn gốc của vạn vật.
Về mặt xã hội, đạo Phật không quan tâm đến chế độ đẳng cấp vì nguồn gốc xuất thân
không phải là điều kiện để được cứu vớt.Đạo Phật khuyên con người phải từ bỏ ham muốn,
tránh điều ác, làm điều thiện để được cứu vớt. Phật giáo được truyền bá nhanh chóng không
những ở Ấn Độ mà còn sang các nước khác. Khoảng 100 năm sau công nguyên, đạo Phật chia
làm hai phái là Tiểu thừa và Đại thừa.
Ảnh hưởng của các tôn giáo trên đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia, có mặt ở nhiều nước
trên thế giới. Ngay cả Hindu giáo cũng có thể coi nó là tôn giáo mang tính quốc tế, bởi vì sự
ảnh hưởng đậm nét của nó đối với vùng Đông Nam Á.
- Ấn Độ còn là quê hương thứ hai của Hồi giáo, một tôn giáo lớn trên thế giới, và Jain giáo,
Xích giáo…

+ Nho gia:
Khổng Tử (551-479. TCN) nhà tư tưởng lỗi lạc, người sáng lập phái Nho gia. Khổng Tử
chủ trương “nhân”, khôi phục “lễ” của nhà Chu. Từ hại nhân tư tưởng là “nhân” ông đã chỉ ra
mối quan hệ khăng khít giữa nhân và lễ. Ông đưa ra thuyết “chính danh định phận”, đề cao tư
tưởng “Thiên mệnh” Cái có giá trị nhất trong học thuyết của ông là tư tưởng giáo dục: ông là
người đầu tiên đề xuất có thể dạy học cho tất cả mọi người “Hữu giáo vô loại” Học trò của
ông và những môn đệ của họ hợp thành học phái Nho gia. Tư tưởng triết học Nho gia chính là
cội nguồn nhân đạo chủ nghĩa của văn hóa truyền thống Trung Quốc.
+ Nho giáo:
- Từ thời Hán Vũ Đế (140-87.TCN) với lệnh “bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật” Nho
học trở thành trường phái tư tưởng quan trọng nhất ở Trung Quốc.
- Đổng Trọng Thư (179-104.TCN) đã phát triển Nho học lên một bước mới, đồng thời
dùng thần học để giải thích nó làm cho học thuyết này mang màu sắc thần học tôn giáo nên từ
đó người ta thường gọi là Nho giáo. Nho giáo trở thành cơ sở lí luận và tư tưởng của chế độ
phong kiến Trung Quốc suốt 2000 năm lịch sử.
c. Đạo gia – Đạo giáo.
+ Đạo gia:
Lão Tử (không rõ năm sinh, năm mất) là đại biểu chủ yếu của học phái Đạo gia. Trang Tử
(khoảng năm 369-286.TCN), người phát triển học thuyết của Lão Tử thành một học thuyết tư
tưởng, cùng với Lão Tử hợp thành học phái Đạo gia.
Hệ thống tư tưởng của Đạo gia được thể hiện trong các tác phẩm “Đạo đức kinh” và “Nam
Hoa kinh”: “Đạo” là cơ sở đầu tiên của thế giới, có trước đất trời, từ “Đạo” sinh ra tất cả.
“Đạo”còn để chỉ quy luật biến hóa của sự vật, vừa có trước sự vật, vừa nằm trong sự vật. Quy
luật biến hóa tự thân của mỗi sự vật gọi là “Đức”. Như vậy “Đạo” và “Đức” của Lão Tử là
phạm trù thuộc thế giới quan, ông là người đầu tiên xác lập nên thế giới quan của triết học
Trung Quốc.
Về quan điểm lịch sử-xã hội: Lão Tử đề xướng quốc gia lí tưởng là “tiểu quốc quả nhân”
(nước nhỏ dân ít), “vô vi nhi trị” (không làm gì mà thịnh trị) Đạo gia không chỉ là cơ sở triết
học của văn hóa truyền thống mà còn ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống của dân tộc Trung
Quốc.

quyền lực vô biên của thần và của nhà vua. Trong kiến trúc, nỗi bật nhất là các kim tự tháp.
Cho đến nay, người ta đã phát hiện được trên 70 kim tự tháp, chủ yếu là ở khu vực phía bắc Ai
Cập, gần thủ đô Cairo nằm ở phía tây sông Nile.
Việc xây dựng lăng mộ được các Pharaon từ vương triều III chú ý. Kim tự tháp Djoser, do
kiến trúc sư Imhotép xây dựng, là kim tự tháp đầu tiên. Tới vương triều IV, kim tự tháp được
xậy dựng nhiều nhất, quy mô và kết cấu hoàn chỉnh, kĩ thuật tinh xảo và nghệ thuật trang trí
đạt tới trình độ cao. Nỗi bật nhất là kim tự tháp của Kheops có chiều cao 148m, phải mất 30
năm mới xây dựng xong.
Việc xây dựng kim tự tháp “đã đem lại cho nhân dân Ai Cập cổ đại không biết bao nhiêu
tai họa”. Nhưng nhân dân Ai Cập, bằng bàn tay khối óc của mình, đã để lại cho nền văn minh
nhân loại những công trình kiến trúc vô giá.
+ Điêu khắc: Ngoài việc xây dựng lăng mộ, người Ai Cập còn đạt tới trình độ cao về điêu
khắc. Đặc biệt là tượng Sphinx (nhân sư) ở gần kim tự tháp Khéphren, mình sư tử, đầu vua
Khéphren, ý muốn ca ngợi vua không những có trí tuệ của loài người mà còn có sức mạnh của
sư tử.
+ Nghệ thuật tạo hình thời Trung và Tân vương quốc phát triển. Thời Trung vương quốc có
rất nhiều tượng nổi khắc trên tường đá và những bức tranh vẽ trên tường mộ. Thời Tân vương
quốc đã để lại một tác phẩm điêu khắc xuất sắc nhất của nghệ thuật Ai Cập là những tượng nữ
thần Neferti.
Những công trình kiến trúc, điêu khắc trên là kết quả của quá trình lao động, là đỉnh cao của sự
sáng tạo của con người ở lưu vực sông Nile.
2. Lưỡng Hà:
Nổi bật nhất trong nghệ thuật kiến trúc của Lưỡng Hà là thành Babylone và khu vườn treo
Babylone được xây dựng trong thời kỳ trị vì của Nabuchodonosor – quốc vương tân Babylone,
sau này được coi là một trong bảy kỳ quan của thế giới cổ đại.
- Thành Babylone có chu vi 16km, tường thành bằng gạch cao 30m, dày 8,5m có 7 của và
các tháp canh. Thành phố được trang trí tỉ mỉ bằng phù điêu, tượng với các cánh cử thành bằng
đồng vững chắc. Tổng thể kiến trúc thành Babylone được kết hợp hài hòa với cảnh quan thiên
nhiên làm tăng thêm vẻ thơ mộng.
- Vườn treo Babylone: được xây dựng kề bên cung điện của vua Nabuchodonosor. Tương

rộng giữa những hồ nước và cánh đồng.
- Kiến trúc Hồi giáo tiêu biểu là các giáo đường và lăng mộ với những đường cổng đồ sộ,
những tháp xây cao vút và được trang trí bằng những hoa văn đặc trưng phi hình tượng.
Tháp Mina được xây dựng từ TK XIII và lăng Mahah được xây dựng từ TK XII là những
công trình nỗi tiếng của dạng kiến trúc này.
4. Trung Quốc:
+ Hội họa
- Từ thời đại đồ đá mới, người Trung Quốc đã từng biết dùng màu sắc để trang trí.
- Cách đây 2000 năm, đã xuất hiện những bắc tranh lụa như “Phượng quỳ mỹ nữ” và “Nhân
vật Ngự Long” cho thấy hội họa Trung quốc đã dạt trình độ cao.
- Từ đời Hán trở về sau, hội họa Trung Quốc ngày càng phát triển, chất liệu để vẽ đa dạng
(Lụa, đất nung, tượng đá, tường… ). Nổi tiếng là tranh lụa thời hán, tranh Phật thời Ngụy,
Tấn, Nam – Bắc triều. Cố Khải Chi với những bức “Nữ sử châm đồ”, “Lạc thần phú đồ”…
là mẫu mực về họa pháp. Tranh vẽ người thời Đường đạt đến đỉnh cao như tranh của Thánh
họa Ngô Đạo Tử. Thời Minh – Thanh tranh sơn thủy, mai, lan, trúc, thạch, cỏ cây được
thể hiện nhiều.
- Về lí luận hội họa: “Lục pháp luận” của Tạ Hách tổng kết kinh nghiệm sáng tác từ đời Hán
đến đời Tùy, “Khổ qua hòa thượng họa ngữ lục” của Thạch Thọ (Minh - Thanh) viết về lịch
sử hội họa rất nổi tiếng.
+ Điêu khắc:
Trung quốc có một nền nghệ thuật điêu khắc từ rất sớm (ngọc điêu có cách đây 6000 năm,
sớm nhất thế giới), và rất phong phú về cách thể hiện (điêu khắc trên ngà voi, trên gỗ, gạch
đá ).
Thach điêu là một ngành nghệ thuật nổi tiếng đã để lại những công trình vô giá như cặp tượng
“Tần Ngẫu” đời Tần, “Lạc sơn Đại Phật” đời Tây Hán là pho tượng lớn nhất hành tinh, tượng
phật “Nghìn mắt nghìn tay” và 500 vị La Hán “Vạn Tự Bi” có 39 vạn chữ thời Tống
+ Kiến trúc:
Trung Quốc là nước có nền kiến trúc phát triển rực rỡ với nhiều công trình độc đáo, có tầm
cỡ quốc tế. Thời Cổ-Trung đại, lịch sử phát triển kiến trúc Trung Quốc được chia làm 4 giai
đoạn, mỗi giai đoạn mang một nét đặc trưng riêng. Có những công trình kiến trúc nỗi tiếng

mặt trời là những thành tựu của thiên văn thời Tân Vương Quốc.
Những tri thức thiên văn của người Ai Cập cổ xưa là những thành tựu khoa học rất đáng
khâm phục.
+ Y học:
- Ngay từ thời Cổ Vương quốc, do tục ướp xác người Ai Cập đã biết về cấu tạo cơ thể
người. Trong y học đã có các chuyên khoa như khoa nội, ngoại, khoa mắt, răng, dạ dày Trong
các bộ phận của cơ thể thì họ cho tim là quan trọng nhất. Khi mổ để ướp xác, họ vẫn giữ trái
tim lại, và tay nghề của các thầy thuốc được đánh giá bằng sự hiểu biết về trái tim. Trong các
tài liệu cổ, thấy người Ai Cập đã có khoảng 100 từ là những từ thuộc về giải phẩu học.
- Sách thuốc (Papyrus Medicad) của người Ai Cập được biên soạn trong khoảng năm 1500-
1450.TCN, nói về nhiều cách chữa bệnh.
+ Các lĩnh vực khác như vật lí, hóa học người Ai Cập cũng có những thành tựu rất đáng
kể như việc sử dụng kỹ thuật ướp xác, kĩ thuật xây dựng kim tự tháp
2. Lưỡng Hà:
+ Toán học:
- Người Lưỡng Hà đã sáng tạo ra hệ đếm lấy 60 làm cơ sở (hệ lục thập phân). Đây là hệ
đếm tiến bộ nhất của toán học. Trước đó người Lưỡng Hà đã sử dụng nhiều hệ đếm khác nhau,
như hệ đếm lấy số 5 làm cơ sở của người Sumer thời cổ. Với hệ đếm lấy 60 làm cơ sở, việc
biểu đạt chữ số của người Lưỡng Hà đã tiến thêm một bước quan trọng, và đặc biệt ở đây đã có
cách ghi số theo vị trí. Hệ mới này tách khỏi các cách đếm cổ truyền. Các con số đã giành
được sự độc lập của chúng. Cho đến ngày nay chúng ta vẫn sử dụng cách tính giờ theo kiểu số
đếm 60 bậc của người Lưỡng Hà.
- Hình học của người Lưỡng Hà cũng phát triển sớm. Họ đã biết tính diện tích các hình chữ
nhật, tam giác, hình thang, hình tròn Họ đã biết trong một tam giác vuông, bình phương của
cạnh hyền bằng tổng bình phương của hai cạnh góc vuông, biết phân số, lũy thừa, căn số bậc 2
và bậc 3, biết giải phương trình có 3 ẩn số, biết dùng số pi (π) bằng 3 để tính diện tích và chu
vi hình tròn
+ Thiên văn học:
Người Lưỡng Hà xây dựng nhiều đài chiêm tinh để quan sát bầu trời, vì vậy thiên văn học
có điều kiện để phát triển và có nhiều thành tựu to lớn. Họ đã chia các thiên thể trên bầu trời


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status