Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới - Pdf 51

Lịch sử nhà nước và
pháp luật Thế Giới
CHƯƠNG 1
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT THỜI KỲ CỔ ĐẠI
BÀI 1
NHÀ NƯỚC PHƯƠNG ĐÔNG CỔ ĐẠI
I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH NHÀ NƯỚC
1. Điều kiện tự nhiên
- Nằm trên lưu vực các con sông lớn => đất mềm, nhiều phù sa nhưng phải đối mặt với lũ lụt
hàng năm. Công tác trị thủy đóng vai trò quan trọng.
o Ai Cập: sông Nil
o Lưỡng Hà: sông Tigris và sông Ơphrat
o Ấn Độ: sông Ấn và sông Hằng
o Trung Quốc: sông Trường Giang và sông Hoàng Hà.
- Địa hình xung quanh là sa mạc, rừng núi, biển… => các tộc người sinh sống trong khu vực
tập trung về lưu vực các con sông => chiến tranh thường xuyên xẩy ra để tranh giành nguồn
nước.
o Ai Cập: phía bắc là địa trung hải; phía nam là vùng rừng núi nubi, phía đông là hồng
hải, phía tây là sa mạc Libi. Xung quang ai cập bị bao bọc bởi những dãi núi đá thẳng
đứng.
o Lưỡng Hà: đông bắc giáp dãi núi Acmênia và cao nguyên Iran; phía tây giáp thảo
nguyên Xiri và sa mạc Arập, phía nam là vịnh Pecxich.
o Ấn Độ: phía bắc là dãi núi Hymalaya, phía đông nam và tây nam giáp biển.
- Khí hậu nhiệt đới => mưa nhiều, đa dạng sinh vật
=> Thuận lợi cho việc phát triển nền kinh tế nông nghiệp
2. Điều kiện xã hội và quá trình hình thành nhà nước
- Kinh tế:
• Công cụ lao động bằng đồng xuất hiện
• Ba lần phân công lao động
=> Năng suất lao động tăng, sản phẩm dư thừa.
- Xã hội:

đông ngoài hiện tượng phân hóa giai cấp, quá trình hình thành nhà nước ở vùng này còn bị ảnh
hưởng bởi các yếu tố sau:
- Công cuộc xây dựng các Công trình thủy lợi:
∗ Các tiểu gia đình tách khỏi công xã thị
tộc
∗ Đời sống sinh hoạt xã hội mới phá vỡ
biên giới và trật tự của công xã thị tộc
Trong quá trình xây dựng các công trình thủy lợi, để công việc đạt được hiệu quả cao,
cần phải có sự quản lý thống nhất trong một tập thể. Chính yếu tố quản lý này là tiền đề của
việc quản lý nhà nước sau này.
- Chiến tranh:
Để tiến hành chiến tranh, cần phải có trật tự, kỷ cương trong 1 tập thể, đặc biệt cần
phải có người thống lĩnh quân đội. Nếu chiến thắng, vai trò, quyền lực và uy tín của người
thủ lĩnh này càng tăng cao.
Trong bối cảnh chung, khi chế độ tư hữu manh mún xuất hiện thì với quyền lực ngày
càng được tập trung cao độ của mình, thủ lĩnh quân sự cùng với những tùy tùng thân tín của
Ông chiếm giữ được nhiều tài sản hơn các thành viên khác trong công xã.
Sau mỗi chiến thắng, thủ lĩnh quân sự và tuỳ tùng của ông:
• Xác định biên giới lãnh thổ;
• Thiết lập một bộ máy quản lý và quản lý dân cư theo đại bàn lãnh thổ mà họ sinh
sống (không còn quản lý theo huyết thống dòng họ như trước đây).
• Thu thuế để nuôi sống bộ máy đó;
• Xây dựng pháp luật làm chuẩn mực xử sự cho mọi người theo ý chí của giai cấp cầm
quyền.
• Tiếp tục xây dựng và củng cố lực lượng quân đội để bảo vệ vùng lãnh thổ của mình
và tiếp tục đi xâm lược các vùng đất khác.
=> Các dấu hiệu của nhà nước xuất hiện.
Đến một thời điểm nhất định, khi quyền lực tập trung cao độ, thủ lĩnh quân sự tự
xưng mình là vua. Đây cũng là nguyên nhân để lý giải vì sao trong buổi đầu thành lập nhà
nước, chính thể của các nước ở phương đông là Quân chủ tuyệt đối với quyền lực được tập

TCN, Lưỡng Hà thống nhất dưới quyền cai trị của người Amôrit, thuộc vương quốc Babilon. Đây
là thời kỳ cực thịnh nhất của Lưỡng Hà, đặc biệt dưới triều đại của Hammurapi. Sau khi
Hammurapi chết, Babilon bị diệt vong, Lưỡng Hà liên tiếp bị các tộc người bên ngoài thống trị
gần 1000 năm. Năm 626 TCN, nhà nước Tân Babilon được khôi phục và thống trị Lưỡng Hà trong
gần 1 thế kỷ. Năm 538 TCN, Lưỡng Hà bị Ba Tư thôn tính.
- Ấn Độ
Khoản đầu thiên niên kỷ 3 đến giữa thiên niên kỷ thứ 2 TCN, Ở Ấn Độ đã tồn tại nền văn minh
Harappa và Môhenjô-Đarô ở lưu vực sông Ấn. Lúc này, dân cư là người Đravida đang sống trong
quá trình tan rã của chế độ công xã nguyên thủy để chuyển sang xã hợi có giai cấp, có nhà nước.
Nữa sau thiên niên kỷ thứ 2 TCN, cùng với sự lan rộng của sa mạc Thar là sự thiên di ồ ạt của
người Arya (tộc người nói ngôn ngữ Ấn Âu) từ Nam Au, Đông Địa Trung Hải,… đã làm cho nền
văn minh sống Ấn tàn lụi và dần dần di chuyển sang lưu vực sông Hằng, gọi là nền văn minh sông
Hằng.
Khi người Arya xâm chiếm ấn độ, họ còn sống trong giai đoạn tan rã của công xã thị tộc, trình độ
thấp kèm hơn so với người Đravida, do đó, họ dùng những biện pháp … để cai trị, đồng thời tiếp
thu dần những thành tựu văn minh của họ. Từ những công xã trước đó, hàng loạt tiểu quốc được
thành lập ven bờ sông Hằng. Đến khoảng thế kỷ thứ 6 TCN, vương quốc Magađa triển hùng mạnh
và thống nhất miền bắc Ấn Độ.
Năm 327 TCN, vua Maxêđônia là Alechxăngdrơ trong quá trình chinh phục các vùng đất phía
đông đã tiến vào Ấn Độ. Trong cuộc chiến chống lại quân xâm lược Alechxăngdrơ, chanđra gupta
thủ lĩnh của tầng lớp bình dân chiến thắng. Sau đó, ông thẳng tiến về kinh đô, lật đổ sự thống trị
của Magađa, thành lập vương tiều môria, một vương triều hưng thịnh nhất ở An Độ.
Từ thế kỷ 1 TCN đến thế kỷ 3, Ấn Độ rơi vào tình trạng phân quyền cát cứ. Đến thế kỷ 4, ấn độ
mới thống nhất dưới vương triều mới, vương triều Gupta, đây cũng là bước ngoặt đánh dấu sự kết
thúc của chế độ chiếm hữu nô lệ và bắt đầu của chế độ phong kiến.
- Trung Quốc
Khoảng 3000 năm TCN, Trung Quốc bước vào giai đoạn dân chủ quân sự, là giai đoạn quá độ từ
công xã thị tộc sang xã hội có giai cấp. Năm 2140 TCN, ông Khải là con của Hạ Vũ, không cần
được cộng đồng bầu cử, vẫn lên ngôi kế vị, mở đầu cho thòi kỳ cha truyền con nối, thành lập nhà
Hạ, nhà nước đầu tiên của Trung Quốc. Vua cuối cùng của triều Hạ là Kiệt, hoang dâm, tàn bạo

o Tù binh chiến tranh,
o Nông dân công xã bị phá sản,
o Là con của nô lệ…
• Thân phận:
o Không có quyền chính trị,
o Thuộc quyền sở hữu của chủ nô (chủ nô có quyền bán, chuyển
nhượng, trao tặng hoặc giết nô lệ của mình)
o Bị xem là đồ vật hay công cụ lao động, không được xem là con
người (Họ phải lao động khổ sai không giờ giấc nhưng không
được hưởng những giá trị của cải do họ làm ra)
• Quan hệ nô lệ trong xã hội phương đông cổ đại mang nặng tính gia
trưởng:
o Số lượng nô lệ không chiếm đa số trong xã hội;
o Lực lượng lao động chủ yếu trong xã hội không phải là nô lệ mà là
nông dân công xã, nô lệ chủ yếu làm công việc hầu hạ, phục dịch
trong nhà chủ nô;
o Mâu thuẫn đối kháng giai cấp trong xã hội không phải là mâu
thuẫn giữa chủ nô và nô lệ mà lại là mâu thuẫn giữa chủ nô và
nông dân công xã.
- Nông dân công xã :
• Số lượng chiếm đa số và là lực lượng lao động chủ yếu của xã hội. Sống
trong các công xã nông thôn.
• Phần lớn họ là những người nghèo, ít ruộng đất phải nhận ruộng đất của
nhà nước từ các công xã nông thôn để cày cấy và đóng thuế cho nhà
nước hoặc thuê ruộng của các chủ nô và nộp tiền thuê đất hay hoa lợi thu
hoạch được.
• Họ được quyền làm người nhưng là đối tượng bóc lột chủ yếu của giai
cấp chủ nô.
• Ngoài ra, họ còn phải cùng với nô lệ lao động khổ sai để xây dựng các
công trình cho vua và nhà nước.

- Tất cả ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà vua. Vua lập những trang trại lớn của mình,
bắt nô lệ cày cấy.
- Ngoài ra, vua dùng đất để thưởng cho các quan lại, quý tộc. Ruộng thưởng thuộc quyền sở
hữu của quan lại, quý tộc.
Điển hình ở Trung Quốc, thời kỳ nhà Chu, Vua dùng đất đai để phân phong cho
các chư hầu. Các chư hầu nhận đất đai, chức tước từ tông chủ (nhà Chu), có nghĩa vụ
nộp cống và cử lính tham gia quân đội của nhà vua khi có chiến tranh. (chế độ tông
pháp)
- Số ruộng đất ở địa phương Vua giao cho các công xã nông thôn quản lý. Công xã có quyền
chia đất cho nông dân cày cấy. Nông dân phải nộp tô thuế cho nhà nước thông qua công xã.
Ở Trung Quốc, Nhà Chu phân phối đất đai ở địa phương theo chế độ tỉnh điền. Mỗi
hộ nông dân được chia một mãnh ruộng bằng 100 mẫu (2 ha) gọi là một điền. Để chia
ruộng đất thành những phần như vậy và để đẫnn nước vào ruộng, người ta đắp những bờ
vùng, bờ thửa và đảo những con kênh, mương ngang dọc, do dó, tạo thành những hình
như chữ điền – gọi là chế độ tỉnh điền.
III. TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC
Hình thức chính thể: quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền
 Quản lý nhà nước
- Ở trung ương:
• Vua: là người đứng đầu nhà nước, có quyền lực tối cao.
- Mọi mệnh lệnh của vua có giá trị thi hành như pháp luật.
- Vua có quyền quyết định mọi vấn đề quan trọng của quốc gia, quyết định
bổ nhiệm, cách chức, trừng phạt bất cứ ai.
- Vua là người có thẩm quyền xét xử cao nhất
- Vua là chỉ huy quân sự cao nhất
- Bên cạnh đó, vua được thần thánh hoá, vua được xem là con hoặc đại
diện hoặc chính là hiện thân của thần linh.
• Quan đầu triều: Là một vị quan hay một hội đồng thân tín nhất của nhà vua,
nắm giữ các công việc quan trọng trong triều.
• Hệ thống các cơ quan giúp việc: Gồm một số quan lại cao cấp. Tùy từng nơi,

chức vị và quân công
 Tôn giáo
Do trình độ khoa học kỹ thuật hạn chế nên tôn giáo là công cụ hổ trợ đắc lực cho việc quản lý
của nhà nước.
IV. NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ
1. Các nhà nước ở phương đông trong thời kỳ cổ đại xuất hiện “sớm” do sự tác động của công
cuộc xây dựng công trình thủy lợi và các cuộc chiến tranh đến quá trình xuất hiện nhà nước.
2. Về chính thể nhà nước; luôn là hình thức chính thể quânchủ chuyên chế trung ương tập
quyền.
3. Bộ máy nhà nước là bộ máy bạo lực lớn, được thần thánh hóa nhằm bảo vệ giai cấp thống
trị một cách đắc lực nhất. Điều này làm cho bản chất giai cấp của các nhà nước này nổi trội
hơn bản chất xã hội của nó.
4. Sự tồn tại lâu dài của các công xã nông thôn ảnh hưởng đến tổ chức chức bộ máy nhà nước.
Nhà nước quản lý địa phương thông qua công xã nông thôn.
5. Tuy nhiên, trong quá trình phục vụ cho giai cấp của mình, nhà nước chiếm hữu nô lệ
phương đông đã làm nồng cốt cho nhân dân sáng tạo, xây dựng và phát triển văn hóa. Do
đó, các quốc gia phương đông cổ đại đã đạt nhiều thành tựu huy hoàng về văn hoá trở thành
một trong những trung tâm của văn minh thế giới cổ đại.
BÀI 2
PHÁP LUẬT PHƯƠNG ĐÔNG CỔ ĐẠI
I. GIỚI THIỆU CÁC BỘ LUẬT CỔ Ở PHƯƠNG ĐÔNG
1. BỘ LUẬT HAMMURAPI
a. Đặc điểm của luật Hammurapi

Bộ luật Hammurapi được các nhà khảo cổ người Pháp tìm ra vào năm 1901 - đây là
bộ luật thành văn sớm nhất được phát hiện trong lịch sử nhân loại. Luật được khắc trên tảng
đá Bazan cao 2 mét. Phần trên cùng của tấm đá có hình Hammurapi đứng trước thần mặt
trời Samat (vị thần bảo vệ tòa án). Điều này chứng tỏ Hammurapi đã ý thức được hiệu quả
của việc kết hợp giữa vương quyền, thần quyền và pháp quyền để tiến hành cai trị dân
chúng.

Thiếu 1 trong 3 điều kiện trên, hợp đồng không có giá trị, người vi phạm sẽ bị xử
phạt bằng hình phạt.
• Hợp đồng vay mượn
o Quy định mức lãi suất khác nhau đối với từng loại: vay thóc và vay tiền (đ 89)
o Nếu người cho vay lấy lãi suất cao hơn mức quy định thì sẽ mất vật cho vay (đ
91)
o Dùng thân thể con người làm vật bảo đảm hợp đồng (đ 115, 116, 117)
• Hợp đồng lĩnh canh ruộng đất
o Quy định mức thu tô đối với từng loại lĩnh canh: vườn và ruộng.( đ 46 và đ 64)
o Quy định trách nhiệm của người lĩnh canh trong từng trường hợp không
chuyên cần canh tác. (đ 42, 43,44)
o Quy định mức bồi thường thiệt hại đối với người lĩnh canh nếu làm thiệt hai
hoa màu trên ruộng người bên cạnh (đ 53, 554, 55, 56)
 Có dấu hiệu của sự phân biệt lỗi cố ý và vô ý.
• Hợp đồng gởi giữ
o Khi gởi giữ phải có người làm chứng (đ 122) nếu không, người nhận giữ sẽ bị
xem là ăn trộmvà bị xử tử (đ 7).
o Mức thù lao gởi giữ (đ 121)
- Chế định hôn nhân gia đình
o Thủ tục kết hôn: phải có giấy tờ ( đ 128)
o Công khai thừa nhận sự bất bình đẳng giữa nam và nữ. Đề cao vai trò và bảo vệ
quyền lợi của người chồng. Người vợ bị xem là tài sản của người chồng ( đ
141, 143, 129)
o Tuy nhiên trong một số trường hợp, luật cũng bảo vệ quyền lợi của người phụ
nữ (đ 130, 148)
o Ngoài ra, luật còn bảo vệ một số giá trị đạo đức trong xã hội (155)
- Chế định thừa kế
o Có 2 hình thức thừa kế: theo luật và theo di chúc ( đ 165)
o Căn cứ để chia thừa kế theo cha, không theo mẹ ( đ 162, 163, 167)
o Có sự phân biệt trong việc hưởng thừa kế giữa con trai, con gái, con của nữ nô

o Đối với ruộng đất: giống như phần chế độ ruộng đất đã trình bày. Đối với đất
thuộc quyền sở hữu của tư nhân thì được quyền mua bán nhưng phải chịu sự
giám sát của nhà nước (nếu người bán động sản nhận được số tiền nhiều hơn
giá quy định thì nhà nước sẽ thu hồi số tiền dư đó)
o Đối với những tài sản khác, nhà nước chỉ thừa nhận quyền sở hữu khi có chứng
cứ cụ thể chỉ rõ nguồn gốc của nó (mua bán, thừa kế, ban thưởng).
- Chế định hợp đồng
o Quy định điều kiện có hiệu lực của hợp đồng:
• Không được ký với người điên, người say rượu, người già yếu, người
chưa đến tuổi thành niên.
• Không được lừa dối hay dùng áp lực để ký hợp đồng.
• Phải được ký công khai.
o Đề cập nhiều đến hợp đồng vay mượn, cầm cố:
• Trong đó quy định mức lãi tối đa phải trả mỗi tháng, mức lãi suất này
tùy thuộc theo từng đẳng cấp trong xã hội.
• Bà la Môn: 2%
• Ksatơria: 3%
• Vaisia: 4%
• Suđra: 5%
• Nếu con nợ không trả được nợ thì bị biến thành nô lệ.
• Nếu con nợ có khả năng trả nợ nhưng không chịu trả thì chủ nợ có quyền
đánh đập, hành hạ con nợ cho đến khi đòi được nợ.
- Chế định hôn nhân gia đình
o Hôn nhân mang tính chất mua bán. Người vợ được chồng mua về và tất cả của
hồi môn của người vợ thuộc quyền sở hữu của chồng.
o Thừa nhận sự bất bình đẳng trong quan hệ vợ chồng:
• Lúc nào người phụ nữ cũng phải chịu sự bảo hộ của đàn ông (tam
tòng)
• Vợ không được quyền ly dị chồng trong mọi trường hợp. Người
chồng dù tàn bạo, ngoại tình vợ cũng phải tôn trọng và xem như một

• Người làm chứng phải cùng đẳng cấp và giới tính với bị can.
• Khi có sự mâu thuẫn giữa các chúng cứ thì chứng cứ của đẳng cấp trên
thì có giá trị hơn so với đẳng cấp dưới.
3. PHÁP LUẬT TRUNG QUỐC
Đến ngày nay, người ta vẫn chưa tìm thấy bộ luật cổ đại nào ở trung quốc. Người ta chỉ biết
đến nó thông qua các sách sử cổ.
a. Thời Hạ, Thương:
- Hình thức pháp luật chủ yếu là mệnh lệnh của nhà vua.
- Hình pháp đã rất được chú trọng với nhiều hình phạt dã man như: đóng dấu nung đỏ, cắt
mũi, gông cùm, xữ tử bằng các hình thức: chôn sống, mổ bụng, xẻo từng mãnh nhỏ bỏ vào
nước sôi, bỏ vào cối giã.
b.Thời nhà Chu
 Pháp luật
- Do cơ chế chính trị nhà Chu dựa trên chế độ tông pháp (quan hệ đẳng cấp huyết thống) nên
Nhà Chu đặt ra Lễ. Lễ dùng để phân biệt sang hèn, trật tự tôn ty trong xã hội, những nghi
thức về ăn, ở, hội họp, ma chay cúng lễ, cưới xin… do đó, người ta làm theo lễ một cách tự
nguyện. Lễ trở thành quy tắc sử xự của mọi người trong xã hội, nếu ai không tuân theo lễ sẽ
bị cười chê là không có chính nghĩa, không biết lễ…
Hệ thống Lễ gồm 5 loại, gọi là Ngũ Lễ:
• Cát lễ: lễ tế các thần linh
• Cung lễ:lễ cúng tế, ma chay, mất mùa
• Quân lễ: lễ ra quân
• Tân lễ: lễ tiếp đón các chư hầu
• Gia lễ: lễ hôn nhân, lễ đặt con trưởng.
- Chính vì đặc điểm đó của lễ nên Nhà Chu dựa vào lễ để quản lý xã hội và hình pháp lúc này
dùng để trừng trị những ai không tuân theo Lễ. Dần dần Lễ trở thành một cơ chế chính trị
trong nhà Chu.
- Hình phạt của nhà Chu rất tàn bạo, gồm 5 thang bậc, gọi là phép Ngũ Hình:
• Mặc: thích chữ vào trán
• Tỵ : cắt mũi

giai cấp thống trị áp dụng. Về sau, đến đời Hán Võ Đế, Nho giáo mới trở thành quốc giáo. Còn
thuyết pháp trị thích ứng với tình hình lúc bấy giờ nên được giai cấp thống trị sử dụng và thể
chế thành đường lối chính sách pháp luật của nhà nước.
Thuyết pháp trị đề cao vai trò của pháp luật. Về nội dung, nó gồm 3 yếu tố: pháp, thế,thuật.
o Pháp: pháp luật và mệnh lệnh của vua phải rõ ràng, mạch lạc. Việc chấp pháp phải
nghiêm minh.
o Thế: uy quyền của nhà vua.
o Thuật: phương pháp điều hành, quản lý con người: bổ nhiệm (căn cứ vào tài năng để bổ
nhiệm, không kể đến dòng dõi), khảo hạch (căn cứ vào trách nhiệm để kiểm tra hiệu quả
công viêc) và thưởng phạt (căn cứ vào kết quả khảo hạch, thưởng nhiều, phạt nặng)
Theo Pháp Gia, với 3 yếu tố pháp, thế, thuật vua có thể trở thành một vị vua tốt mà không cần
nhân nghĩa, không cần trí tuệ,…
II. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁP LUẬT PHƯƠNG ĐÔNG CỔ ĐẠI
1. Nền kinh tế
Kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp => giao thương mua bán ít => pháp luật về dân sự,
thương mại không phát triển.
2. Chế độ chính trị
Với nền quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền, vua là người có quyền ban hành
pháp luật => không có trí tuệ tập thể, không dân chủ.
Với chế độ chiếm hữu nô lệ => quyền lợi của chủ nô được bảo vệ tối đa.
3. Tôn giáo
Các giáo sĩ có ảnh hưởng lớn đến nội dung của pháp luật. Đặc biệt là ở Ấn Độ, các giáo
sĩ Bà La Môn căn cứ vào những quy định của tôn giáo, vào quyền lợi của giáo phái mà ban
hành, điều chỉnh pháp luật.
4. Lễ và các hệ tư tưởng chính trị
Điều này chúng ta thấy rõ nhất là ở trung quốc. Lễ và hệ tư tưởng chính trị đã ảnh
hưởng rất lớn đến pháp luật.
III. NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ
- Công khai thừa nhận sự bất bình đẳng trong quan hệ giai cấp, đẳng cấp bảo vệ quyền lợi và
địa vị của giai cấp chủ nô và những người thuộc đẳng cấp trên trong xã hội nhằm củng cố sự

- Thời kỳ hôme
+ Xã hội đang là xã hội thị tộc mạt kỳ
+ Cuối thời đại này, xã hội xuất hiện sự phân hoá giai cấp. Chế độ nô lệ hình
thành nhưng còn mang tính gia trưởng
- THỜI KỲ THÀNH BANG
+ Kinh tế phát triển mạnh, làm cho chế độ tư hữu diễn ra nhanh chóng, tư hữu cả
về ruộng đất làm cho phân hoá xã hội diễn ra mạnh mẽ:
• Những gia đình có thế lực trong công xã thị tộc trước kia như tù trưởng, thủ
lĩnh quân sự chiếm nhiều ruộng đất và tư liệu sản xuất, ngày càng trở nên
giàu có trở thành giai cấp quý tộc thị tộc ( còn gọi là quý tộc chủ nô ruộng
đất hay quý tộc cũ)
• Thương nhân, thợ thủ công, bình dân trong quá trình tìm vùng đất thực dân
… ngày càng trở nên giàu có. Khi chế độ tư hữu ruộng đất xuất hiện, họ tậu
được nhiều ruộng đất, nô lệ… trở thành tầng lớp quý tộc chủ nô công
thương nghiệp hay còn gọi là quý tộc mới.
• Cùng với sự giàu có của quý tộc chủ nô là sự bần cùng của nông dân, họ
giải quyết sự bần cùng của mình bằng 3 cách sau đây:
 Lĩnh canh ruộng đất của chủ nô để cày cấy hoặc đi làm thuê và trở
thành tầng lớp bình dân Đêmôt
 Một số quá nghèo, bán mình làm nô lệ.
 Một số rời bỏ quê hương tìm vùng đất khác sinh sống. Họ vượt biển
đến các đảo và vùng Tây Tiểu A, dần dần họ biến những vùng đất này
thành thuộc địa, là nơi cung cấp nguyên vật liệu cho các ngành sản
xuất trong nước và tiêu thụ hàng hoá từ chính quốc. Do đó, những
người này ngày càng giàu có và gia nhập vào tầng lớp quý tộc chủ nô
công thương nghiệp, làm cho tầng lớp này ngày càng đông hơn.
+ Do phân hóa giai cấp diễn ra mạnh mẽ nên mâu thuẫn giai cấp trở nên rất gay
gắt. Trong đó, giai cấp chủ nô bóc lột sức lao động của nô lệ là chủ yếu. Quan
hệ nô lệ ở hy lạp nói riêng và ở phương tây nói chung mang tính chất điển hình.
Giai cấp nô lệ phản kháng lại sự áp bức bóc lột bằng nhiều cuộc nổi dậy, để

Khi tham gia đại hội, các công dân nam của mỗi Curi sẽ tập hợp lại thành
một đơn vị. Khi biểu quyết, mỗi curi được quyền có một lá phiếu.
• Viện nguyên lão (Senat) : gồm thủ lĩnh của 300 thị tộc. Mỗi thị tộc cử 1
người tham gia, thông thường là những người thuộc những gia đình giàu có,
danh vọng nhất trong thị tộc. Viện nguyên lão có thẩm quyền quyết định các
công việc quan trọng giữa hai kỳ họp của Đại hội nhân dân, thảo luận các
đạo luật trước khi trình trước đại hội công dân.
Về sau, quyền lực của Viện nguyên lão dần dần lớn mạnh và trở thành
cơ quan chính quyền trọng yếu của La Mã.
• Vua (rex): do Đại hội Curi bầu ra, thực tế chỉ là tù trưởng liên minh bộ lạc.
Thời chiến là tổng tư lệnh quân đội, thời bình chỉ lo việc tế lễ và xét xử.
+ Thời kỳ này còn là thời kỳ dân chủ quân sự.
- THỜI KỲ CỘNG HOÀ
+ Vào thế kỷ ……….., người La Mã bị người Êtrucxơ thống trị. Do đó, các vua
đều là người Êtrucxơ.
+ Do sự phát triển kinh tế hàng hoá và chính sách mở rộng xâm lược, nhiều cư
dân mới đến sinh sống trên lãnh thổ La Mã. Những cư dân này không thuộc bộ
tộc nào của người La Mã, do đó, không được xem là dân La Mã chính gốc nên
họ không được hưởng bất kỳ quyền lực chính trị nào cả. Tuy nhiên, thân phận
của họ không giống như nô lệ, họ là dân tự do, phải nộp thuế và đi lính cho
người La Mã, có quyền tự do kinh doanh, được quyền sở hữu ruộng đất. Họ
chính là tầng lớp bình dân Pơlep.
+ Khi lực lượng này lớn mạnh về kinh tế và quân đội, họ đấu tranh để đòi hưởng
quyền chính trị. Trước tình thế đó, người La Mã phải nhượng bộ, thực hiện cải
cách để đáp ứng yêu cầu của họ.
+ Giữa thế kỷ thứ 6 TCN, vua Xecvius Lutius tiến hành cải cách xã hội với
những nội dung như sau:
• Ba bộ lạc trước kia bị xoá bỏ, thay vào đó là 4 bộ lạc mới, thực chất là 4 khu
vực hành chính.
• Căn cứ theo tài sản, ruộng đất, ông chia dân cư thành 5 đăng cấp, cứ 5 năm

+ Do đặc điểm về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế nên chế độ tư hữu về
ruộng đất sớm ra đời, là nguyên nhân hình thành nền chính thể cộng hòa ở các
quốc gia chiếm hữu nô lệ phương tây.
II. TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC
1. Nhà nước Hy Lạp
a. Thành bang Spac
 Tổ chức xã hội
- Nhà nước Spac có quá trình hình thành khác biệt hơn so với đại đa số các thành
bang còn lại của Hy Lạp, do đó, tổ chức bộ máy nhà nước của nó cũng khác so với
các thành bang khác, đặc biệt là thành bang Aten.
- Vào giữa thế kỷ thứ 9 TCN, bộ lạc người Đôrian xâm nhập vào vùng đồng bằng
Lacôni thuộc bán đảo Pêlôpône nơi sinh sống của người Akêan. Khi xâm nhập vào
đây, người Đôrian có trình độ văn hoá, xã hội thấp kém hơn so với người Akêan,
nhưng với đội quân hùng mạnh, được rèn luyện trong chiến đấu và cuộc sống du
mục gian khổ, nên họ chiến thắng được người Akêan và làm chủ vùng đất này. Họ
dồn đuổi một bộ phận khác đến miền trung và bắc Pêlôpône và nô dịch một bộ
phận người Akêan:
+ Đất đai, dân cư vùng Lacôni thuộc quyền sở hữu chung của người chiến thắng.
Mỗi gia đình người Đôrian được chia một mãnh đất bằng nhau (khoảng 20 ha).
+ Người Đôrian chủ trương duy trì tổ chức công xã thị tộc để thống trị những
người có trình độ văn hoá cao hơn mình.
- Sau khi đã củng cố vững chắc nền thống trị ở vùng Lacôni, giữa thế kỷ 8 TCN,
người Đôrian lại xâm nhập sang vùng đồng bằng Métxini và biến toàn bộ dân cư ở
đây thành nô lệ, gọi là nô lệ Hillôt.
- Lúc này, trong xã hội Spac hình thành 3 hạng người khác nhau:
+ Người Spac (người Đôrian): là giai cấp thống trị, công việc của họ là cai trị và
đánh giặc. Họ không phải lao động, tuy nhiên họ được nô lệ Hillôt nuôi sống
bằng việc nộp lại ½ số hoa màu thu hoạch được trên phần đất được công xã
chia. (người Spac không được quyền sở hữu mãnh đất mà họ được chia, họ chỉ
được quyền hưởng hoa lợi thu trên mãnh đất đó). Toàn bộ đất đai và nô lệ

chỉ có quyền lực vể mặt hình thức, trên thực tế, quyền lực thuộc về Hội đồng
trưởng lão.
- Hội đồng 5 quan giám sát :
+ Về sau, do mâu thuẫn quý tộc và bình dân Spac ngày càng gay gắt, thể hiện
thông qua mâu thuẫn giữa Hội đồng trưởng lão và Đại hội nhân dân. Giai cấp
quý tộc Spac (Hội đồng trưởng lão) nắm quyền lực thực tế (quyền phân chia
ruộng đất, quyền lực kinh tế…) nên trong cuộc đấu tranh này, giai cấp quý tộc
Spac bảo vệ quyền lợi cho mình bằng cách thành lập một cơ quan mới, có
nhiệm vụ chủ yếu là bảo vệ chế độ chiếm hữu nô lệ, bảo vệ nền cộng hoà quý
tộc chủ nô, cơ quan đó là Hội đồng năm quan giám sát.
+ Thành viên của cơ quan này là những quý tộc bảo thủ nhất, danh vọng nhất của
giai cấp quý tộc.
+ Có chức năng và quyền hạn rất lớn, là cơ quan lãnh đạo tối cao, nhằm tập trung
quyền lực vào tay giai cấp quý tộc chủ nô:
• Giám sát vua, hội đồng trưởng lão.
• Triệu tập và chủ trì cuộc họp hội đồng trưởng lão, hội nghị công dân.
• Giải quyết mọi công việc quan trọng (ngoại giao, tài chính, tư pháp…)
• Kiểm tra tư cách công dân.
 Nhận xét
- Qua tổ chức bộ máy nhà nước, chúng ta có thể khẳng định rằng nhà nước Spac là
nhà nước được tổ chức theo hình thức chính thể Cộng hoà Quý tộc Chủ nô.
b. Thành bang Aten
 Tổ chức xã hội
- Aten là một thành bang gồm 4 bộ lạc chung sống với nhau trên vùng đồng bằng
Attic.
- Ban đầu nhà nước Aten cũng được tổ chức theo chính thể Cộng hoà Quý tộc Chủ
nô, quyền lực tập trung vào tay giai cấp quý tộc thị tộc (quý tộc ruộng đất).
- Khi kinh tế phát triển, đặc biệt là kinh tế công thương nghiệp dần dần chiếm vai
trò chủ đạo thì thế lực của quý tộc chủ nô công thương cũng dần phát triển theo.
Họ liên kết với nông dân tự do đấu tranh với giai cấp quý tộc thị tộc để nắm quyền

 Đẳng cấp 3: thu nhập hàng name từ 200 đến 300 mêđim thóc.
Đẳng cấp 2 và 3 được quyền ứng cử vào hội đồng 400 người.
 Đẳng cấp 4: có ít hoặc không có ruộng đất, đẳng cấp này chỉ được
quyền tham gia vào hội nghị công dân, không được quyền tham gia
vào các cơ quan khác.
• Thành lập toà án công dân. Tại toà án này, mọi công dân đếu được quyền
bào chữa và kháng án.
+ Cải cách của clixten:
• Bỏ 4 bộ lạc cũ và chia dân cư theo 3 khu vực. Mỗi khu vực chia thành 10
phân khu, và cứ 3 phân khu hợp lại thành một liên khu. Như vậy, ở aten lúc
bấy giờ có tất cả là 10 liên khu.
• Vì 4 bộ lạc trước kia không cón nữa , do đó hội đồng 400 người cũng bị huỷ
bỏ theo. Thay vào đó, clixten thành lập hội đồng 500 người. Mỗi một liên
khu sẽ cử 50 người tham gia, không kể thuộc đẳng cấp nào.
• Thành lập Hội đồng 10 tướng lĩnh
• Để bảo vệ nền Cộng hoà Dân chủ và chống lại âm mưu thiết lập nền độc tài
nên Clixten cón đặt ra luật bỏ phiếu bằng vỏ sò. Theo đó, nếu ai bị ghi tên
trên hơn 6000 vỏ sò, tức bị hơn 6000 ý kiến cho là có âm mưu thiết lập nền
độc tài thì sẽ bị trục xuất ra khỏi Hy Lạp trong vòng 10 năm.
• Bên cạnh đó, ông còn khuyến khích mọi người tham gia bảo vệ chế độ dân
chủ bằng cách khen thưởng hoặc sẽ giải phóng thân phận cho nô lệ thành
kiều dân hoặc từ kiều dân được công nhận là công dân Aten.
+ Cải cách của Pêriclet:
• Trả lương cho những người tham gia vào cơ quan nhà nước. Điều này tạo
điều kiện cho dân nghèo có thể tham gia quản lý nhà nước.
• Thay chế độ bầu bằng chế độ bóc thăm để chọn ra nhân viên nhà nước.
 Tổ chức bộ máy nhà nước:
- Hội nghị công dân :
+ Thành viên: toàn thể công dân nam người aten (có cha và mẹ đều là người
aten) từ 18 tuổi trở lên.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status