LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT THẾ GIỚI
I/ Nhà nước chiếm hữu nô lệ Phương Đông
•
Các yếu tố dẫn đến sự hình thành nhà nước chiếm hữu nô lệ Phương Đông
( Yếu tố kinh kế - xã hội, các yếu tố thúc đẩy như: trị thủy, thủy lợi , chiến
•
•
tranh)
Lý giải tại sao nhà nước phương đông hình thành sớm.
Một số đặc trưng về tổ chức bộ máy nhà nước Phuong đông ( Tổ chức đơn
giản, hình thức chính thể là chính thể tuyệt đối, nhà nước mang nặng tính
giai cấp..).
II/ Pháp luật phương đông cổ đại
•
•
•
•
Lý giải về tính chất “ hình sự hóa” về pháp luật phương đông cổ đại.
Lý giải về tính giai cấp của pháp luật phương đông cổ đại.
Đặc trưng về tính “ trọng hình khinh dân” của pháp luật phương đông cổ đại
Đặc trưng về tính “đồng thái phục thù” của pháp luật phương đông cổ đại.
III/ Nhà nước chiếm hữu nô lệ Phương Tây
•
Các yếu tố dẫn đến sự hình thành nhà nước chiếm hữu nô lệ Phương Tây
minh cho lập luận trên? lý giải vì sao nhà nước ở Phương Tây lại ra đời muộn hơn
ở Phương Đông?].
2. Tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất
Ở Phương Đông, nhà nước Phương Đông ra đời trên cơ sở lực lượng sản xuất phát
triển thuộc giai đoạn đồ đồng. Kinh tế tự nhiên, trong đó nông nghiệp chiếm vai
trò chủ đạo. Ở Phương Tây, nhà nước ra đời trên cơ sở lực lượng sản xuất đã phát
triển thuộc giai đoạn đồ sắt [Sự khác nhau về tính chất và trình độ của lực lượng
sản xuất nói lên điều gì?].
3. Thời điểm xuất hiện nhà nước
Các nhà sử học cho rằng khoảng thế kỷ 7 TCN, tức là mãi sau hơn 2000 năm, sau
sự xuất hiện của nhà nước Phương Đông cổ đại, nhà nước Phương Tây mới ra
đời (Cụ thể: nhà nước thành bang của Hy Lạp xuất hiện sớm nhất vào khoảng thế
kỷ VIII - VI TCN trong khi đó nhà nước Phương Đông lại xuất hiện rất sớm từ cuối
thiên niên kỷ thứ IV TCN) [Dựa vào đâu mà người ta xác định được thời điểm xuất
hiện nhà nước? Tiêu chí nào để biết rằng nhà nước ra đời? Liệu có một cái mốc cụ
thể rằng nhà nước năm này hay năm kia ra đời không?].
4. Thành thị
2
Nhà nước Phương Đông cổ đại tồn tại và phát triển trên cơ sở nền kinh tế tự
nhiên, kinh tế hàng hoá chậm phát triển nên không xuất hiện những trung tâm kinh
tế lớn.[Tại sao kinh tế hàng hóa lại chậm phát triển ở Phương Đông?].
Ở Phương Tây, nền kinh tế vẫn mang tính chất tự nhiên, nhưng khác với Phương
Đông là kinh tế công thương nghiệp ở Phương Tây rất phát triển, nên ở Phương
Tây đã sớm xuất hiện những thành thị, những khu tập trung buôn bán, trao đổi
hàng hóa.
Khác cơ bản với thành thị ở Phương Đông mang nhiều yếu tố "tĩnh" chủ yếu là
trung tâm chính trị, ngược lạithành thị Phương Tây mang nhiều yếu tố "động", vừa
là trung tâm chính trị vừa là trung tâm kinh tế. Hoạt động lưu thông tiền tệ, kinh tế
vua và các lãnh chúa [Còn có những nguyên nhân nào khác không?].
7. Hình thức nhà nước
Hình thức chính thể ở Phương Đông hầu hết là hình thức quân chủ (Nêu ví
dụ?). Vua đứng đầu nhà nước, có quyền lực cao nhất về mọi mặt, vua được thần
thánh hoá, được coi là vị thần vĩ đại, là thiên tử hoặc tăng lữ tối cao [Ở nhà nước
nào? Người đứng đầu nhà nước thời kỳ này ở Phương Đông có những đặc điểm gì
giống và khác so với người đứng đầu nhà nước ở những giai đoạn sau đó? Cho ví
dụ?]. Quần chúng nhân dân phải phục tùng vô điều kiện giai cấp thống trị và hầu
như không được tham gia bất cứ sinh hoạt chính trị nào của đất nước [Dẫn
chứng?].
4
Phương Tây :
Hình thức chính thể cộng hòa: cộng hòa dân chủ chủ nô Aten, Cộng hòa quý tộc
chủ nô Spac
8. Vấn đề "nô lệ" và "kiểu nhà nước"
Ở Phương Tây, theo học thuyết Mác - Lênin, chế độ nô lệ là điển hình (hay còn gọi
là kiểu nhà nước chiếm hữu nô lệ điển hình). Sự điển hình thể hiện ở tính chất, số
lượng và vai trò nô lệ trong các ngành sản xuất. Hy Lạp và La Mã là nơi mà số
lượng nô lệ hết sức đông đảo, là lực lượng lao động chính tạo ra của cải và sự giàu
có cho chủ nô. Ví dụ: Ở Hy lạp trong thời kỳ chiến tranh Ba Tư, con số nô lệ ở Caran-tơ lên đến 46 vạn, ở E-gi-i-nơ lên đến 47 vạn, tức là tính theo dân số thì trung
bình cứ 10 nô lệ mới có 1 người tự do [Tại sao chế độ nô lệ ở Phương Tây thì được
coi là "điển hình", còn ở Phương Đông thì không được coi là "điển hình"? Học
thuyết Mác - Lênin về hình thái kinh tế xã hội có hạn chế không? Nếu có ở điểm
nào?].
Kiểu nhà nước ở Phương Đông thời cổ đại nhiều nhà khoa học đặt tên là kiểu nhà
nước Châu Á (hay Phương thức sản xuất châu Á) mang những đặc trưng
riêng. Khác với Phương Tây, chế độ nô lệ Phương Đông là chế độ nô lệ không điển
thẩm phán được bầu, hoạt động thường xuyên theo các nhóm với quy chế hoạt
động chặt chẽ. [Vậy ở nhà nước Hy Lạp thời cổ đại có sự tách biệt này không?].
10. Pháp luật
6
NHỮNG NÉT TƯƠNG ĐỒNG CƠ BẢN GIỮA PHƯƠNG ĐÔNG VÀ
PHƯƠNG TÂY
1. Về nhà nước
- Tương đồng về bản chất: theo học thuyết Mác - Lênin, quyền lực chính trị trong
các nhà nước ở Phương Đông và Phương Tây cổ đại thuộc về giai cấp chủ nô. Cơ
cở kinh tế của nhà nước là dựa trên chế độ chiếm hữu của chủ nô đối với toàn bộ tư
liệu sản xuất và nô lệ. Cơ sở xã hội là một hệ thống kết cấu giai cấp khá phức tạp
trong đó về cơ bản có hai giai cấp chủ nô và nô lệ [Tiếp tục nghiên cứu và phân
tích những quan điểm khoa học không phải theo học thuyết Mác - Lênin về vấn đề
này? Nhận xét, đánh giá?].
- Tương đồng Về chức năng: Hoạt động chủ yếu của nhà nước thời kỳ này là bảo
vệ, củng cố chế độ sở hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất, tiến hành các cuộc
chiến tranh xâm lược, đồng thời phòng thủ, bảo vệ đất nước và tiến hành các hoạt
động ngoại giao, buôn bán với các quốc gia khác [Ngoài những chức năng trên nhà
nước Phương Đông cổ đại còn có những chức năng nào khác? Nêu dẫn chứng?].
- Tương đồng Về hình thức nhà nước: Trước hết xét về hình thức chính thể thì các
nhà nước ở Phương Đông cổ đại được tổ chức theo chính thể quân chủ chuyên chế
chủ nô với các mức độ tập trung quyền lực khác nhau(Ví dụ: Trung Quốc cổ đại,
Ấn Độ cổ đại, Ai cập cổ đại, Lưỡng Hà cổ đại). Ở Phương Tây cổ đại, các nhà
nước được tổ chức chủ yếu theo chính thể quân chủ và cộng hòa chủ nô [Vì sao
hình thức chính thể cộng hòa lại xuất hiện ở Phương Tây?]. Các nhà nước cộng
hòa chủ nô tồn tại dưới hai dạng thức là cộng hòa dân chủ chủ nô và cộng hòa quý
xuất đã dần dần giàu lên); giai cấp nông dân, thị dân nghèo, họ có chút ít tài
sản; giai cấp nô lệ (tù binh chiến tranh và nông dân, thị dân nghèo bị phá
•
sản).
Những lợi ích căn bản giữa chủ nô và nô lệ đối lập nhau, vì thế mâu thuẫn
giai cấp hết sức gay gắt tới mức không thể điều hòa được, đấu tranh giai cấp
diễn ra quyết liệt. Các hình thức tổ chức xã hội trong xã hội nguyên thủy
không thể giải quyết được thực trạng đó và nó không còn phù hợp để tồn tại.
Giai cấp chủ nô cần phải có một tổ chức mới để củng cố và tăng cường địa
8
vị của mình. Đó là bộ máy bạo lực, gồm các quan chức hành chính, tòa án,
nhà tù, quân đội, cảnh sát để đàn áp người lao động. Tổ chức đó gọi là Nhà
•
•
nước.
Đặc trưng của Nhà nước:
Thống trị dân cư theo khu vực hành chính, đập tan cơ sở huyết thống của xã
hội thị tộc;
Hình thành bộ máy quyền lực công cộng, một bộ máy quan liêu ở trung
ương và ở địa phương, một lực lượng quân sự to lớn để trấn áp nhân dân và
tiến hành chiến tranh xâm lược hoặc chống xâm lược.
- Các chức năng của Nhà nước: gồm 2 chức năng cơ bản
+ Chức năng đối nội:
•
chiến tranh qui mô lớn thôn tính và cướp bóc các quốc gia khác, kết quả là
La Mã trở thành đế chế hùng mạnh nhất châu Âu thời bấy giờ. Chiến tranh
xâm lược làm cho quan hệ giữa các nhà nước chủ nô luôn trong tình trạng
căng thẳng và là nhân tố làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giai cấp trong xã hội,
•
là nguyên nhân bùng nổ nhiều cuộc khởi
Chức năng trấn áp nô lệ và các tầng lớp bị bóc lột khác : Mọi sự phản kháng
của nô lệ và dân nghèo đều bị Nhà nước chiếm hữu nô lệ (NNCHNL) đàn áp
bằng các biện pháp bạo lực, đây là một hoạt động cơ bản và thường xuyên
nhất của các NNCHNL. Nhà nước sử dụng rộng rãi bộ máy quân đội, cảnh
sát, tòa án, nhà tù để đàn áp dã man những cuộc khởi nghĩa của nô lệ cũng
như mọi sự phản kháng. Bên cạnh trấn áp bằng bạo lực, NNCHNL còn trấn
áp cả về tinh thần đối với nô lệ và dân nghèo bằng công cụ Thần quyền.
10
1/ Quy luật chung và những nét đặc thù về sự ra đời nhà nước ở phương Đông
và phương Tây thời cổ đại
•
•
•
•
•
Quy luật chung: Ra đời trên sự tan rã của xã hội cộng sản nguyên thủy
Ở phương Tây: do 2 nguyên nhân chính là
Tư hữu tư liệu sản xuất (tiền đề kinh tế)
Phân chia giai cấp(tiền đề xã hội)
Vua là người nắm toàn bộ đất đai, chủ sở hữu tối cao, là người tổ chức bộ
máy nhà nước, bổ nhiệm quan lại, gây chiến tranh hay hòa bình do vua
•
quyết định.
Quan đầu triều:là 1 vị quan hay hội đồng thân tín của nhà vua, nắm giữ các
•
công việc quan trọng.
Quan giúp việc: hệ thống các quan lại cao cấp. Tùy từng nơi, từng thời kì mà
•
có sự phân công nhiệm vụ, quyền hạn.
Về quân đội: Do thường xuyên xảy ra chiến tranh nên phát triển quân đội rất
•
mạnh. Chỉ huy tối cao là nhà vua. Lực lượng quân đội đông và đa dạng.
Ở địa phương tổ chức bộ máy là thu nhỏ của trung ương, sao chép đơn giản.
Kết luận: Bộ máy nhà nước là bộ máy bạo lực lớn, được thần thánh hóa
nhằm bảo vệ lợi ích cho giai cấp thống trị một cách triệt để.
11
+) Pháp luật phương Đông
•
3/ Điểm khác biệt cơ bản giữa nhà nước và PL phương Đông và phương
Tây cổ đại
a/Nhà nước:
Phương Đông
Phương Tây
-Các nhà nước ra đời sớm ở lưu vực -Nhà nước ra đời muộn,hình thành trên các
các con sông lớn.
bán đảo.
-Thuận lợi phát triển nông nghiệp.
- Không thuận lợi phát triển nông nghiệp
mà thuận lợi pt thủ công nghiệp, thương
nghiệp.
-Kinh tế hàng hóa chậm phát triển nên-Phát triển thương nghiệp nên xã hội thành
không có trung tâm kinh tế lớn.
thị, trung tâm lớn.
-Ruộng đất thuộc quyền sở hữu nhà-Ruộng đất chủ yếu thuộc về tư nhân
nước.
-Hình thức quân chủ chuyên chế tập-Hình thức đa dạng.Dân chủ chủ nô, cộng
12
quyền
hòa quý tộc, quân chủ chuyên chế
-Hình thức cấu trúc là các nước đơn-Hình thức cấu trúc: Có xuất hiện nhà
nhất.
nước thành bang
-Kiểu nhà nước chiếm hữu nô lệ-Kiểu nhà nước chiếm hữu nô lệ điển hình.
không điển hình, mang nặng tính gia
trưởng
cổ đại.
13
•
Kinh tế phát triển mạnh, do các quốc gia cổ đại phương tây chủ yếu là ven
biển,đất đai lại không phù hợp với nông nghiệp do vậy xu hướng buôn bán
thương nghiệp rất phát triển, cùng với đó là thủ công nghiệp cũng phát triển
rực rỡ làm cho chế độ tư hữu diễn ra nhanh chóng, tư hữu về ruộng đất làm
•
cho phân hóa xã hội diễn ra mạnh mẽ:
Những gia đình có thế lực trong xã hội thi tộc trước kia như tù trưởng, thủ
lĩnh quân sự chiếm nhiều ruộng đất và tư hữu tư liệu sản xuất, ngày càng trở
lên giàu có trở thành giai cấp quý tộc thị tộc (hay còn gọi là quý tộc chủ nô
•
ruộng đất)
Thương nhân, thợ thủ công, bình dân trong qua trình tìm vùng đất thực
dân… ngày càng trở lên giàu có. Khi chế độ tư hữu ruộng đất xuất hiện, họ
tậu được nhiều ruộng đất, nô lệ.. trở thành tầng lớp quý tộc chủ nô công
•
thương nghiệp hay còn gọi là quý tộc mới.
Cùng với sự giàu có của quý tộc chủ nô là sự bần cùng hóa của nông dân, họ