Nghiên cứu đề xuất sử dụng bền vững một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp phục vụ công tác quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương - Pdf 13

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

ĐÀO ĐỨC MẪN
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT SỬ DỤNG BỀN VỮNG
MỘT SỐ LOẠI HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
PHỤC VỤ CÔNG TÁC QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
TẠI HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

HÀ NỘI, NĂM 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận án này
đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận án đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận án Đào Đức Mẫn

iii

LỜI CẢM ƠN
Luận án này được thực hiện và hoàn thành tại Trường Đại học Nông nghiệp
Hà Nội.
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án này, tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS. Nguyễn Tất Cảnh và PGS. TS. Hà Thị Thanh Bình -
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội là những người hướng dẫn khoa học đã tận
tình giúp đỡ và định hướng giúp tôi trưởng thành trong công tác nghiên cứu và
hoàn thiện luận án.
Tôi xin ghi nhận và biết ơn sự giúp đỡ quý báu của tập thể các thầy, cô giáo
Bộ môn Quy hoạch đất đai - Khoa Quản lý đất đai, Bộ môn Canh tác học - Khoa
Nông học, Ban Quản lý Đào tạo, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã tận tình
giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án này.
Luận án này được thực hiện với sự hỗ trợ của Tập thể cán bộ Văn phòng Ủy
ban Nhân dân huyện Tứ kỳ, tỉnh Hải Dương; Phòng Tài nguyên và Môi trường,
Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương đã giúp
đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện, nghiên cứu đề tài. Tôi xin trân
trọng cám ơn sự hỗ trợ quý báu đó.
Trong thời gian học tập và nghiên cứu, tôi cũng đã nhận được sự hỗ trợ và
giúp đỡ tận tình từ Lãnh đạo Tổng cục Quản lý đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi
trường và các đồng nghiệp nơi tôi đang công tác đã tạo điều kiện thuận lợi về thời

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở lý luận về sử dụng đất nông nghiệp bền vững 4
1.1.1 Đất và sử dụng đất nông nghiệp 4
1.1.2 Cơ sở khoa học của sử dụng đất bền vững 15
1.1.3 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 22
1.2 Các nghiên cứu sử dụng đất nông nghiệp bền vững phục vụ quy hoạch
sử dụng đất nông nghiệp 29
1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới 29
1.2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 31
1.3 Định hướng phát triển nông nghiệp bền vững 33
1.3.1 Xu hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới 33
1.3.2 Định hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam 35
1.4 Đánh giá đất đai phục vụ nông nghiệp bền vững 38
1.4.1 Đánh giá đất thích hợp theo FAO 38
1.4.2 Đánh giá đất đai ở Việt Nam 39

v
1.5 Ứng dụng toán tuyến tính đa mục tiêu trong công tác quy hoạch sử
dụng đất 42
1.5.1 Bản chất, đặc điểm của bài toán quy hoạch tuyến tính 42
1.5.2 Khả năng ứng dụng bài toán quy hoạch tuyến tính đa mục tiêu 45
1.5.3 Ứng dụng bài toán quy hoạch tuyến tính đa mục tiêu trong quy hoạch
sử dụng đất ở Việt Nam 46
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 49
2.1 Nội dung nghiên cứu 49
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội liên quan đến sử dụng đất 49
2.1.2 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất và hiệu quả của các loại hình sử dụng
đất chủ yếu 49
2.1.3 Đánh giá hiện trạng môi trường đất của các loại hình sử dụng đất chủ yếu 49
2.1.4 Đánh giá thích hợp đất đai cho các loại sử dụng đất 49

3.4 Đánh giá thích hợp đất đai cho các loại sử dụng đất 113
3.4.1 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 113
3.4.2 Đánh giá thích hợp đất đai 120
3.5 Ứng dụng mô hình toán quy hoạch tuyến tính đa mục tiêu đề xuất sử
dụng bền vững một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu
phục vụ quy hoạch sử dụng đất 132
3.5.1 Xác định các mục tiêu và hạn chế trong bài toán tối ưu 132
3.5.2 Xác định các yếu tố đầu vào của bài toán 133
3.5.3 Kết quả chạy bài toán quy hoạch tuyến tính đa mục tiêu 134
3.5.4 Đề xuất loại hình sử dụng đất bền vững đến năm 2020 137
3.5.5 Giải pháp thực hiện các phương án đề xuất 145
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 149
1 Kết luận 149
2 Đề nghị 150
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
PHỤ LỤC 159 vii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BVTV Bảo vệ thực vật
CAQ Cây ăn quả
CN Công nghiệp
CPTG Chi phí trung gian
ĐBSH Đồng bằng sông Hồng
ĐVĐĐ Đơn vị đất đai

3.2 Hiện trạng sử dụng đất năm 2010 72
3.3 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2010 74
3.4 Hiện trạng sử dụng đất theo đơn vị hành chính năm 2010 75
3.5 Hiện trạng các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu năm 2010 78
3.6 Hiệu quả kinh tế các cây trồng chủ yếu năm 2008 80
3.7 Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất chủ yếu năm 2008 81
3.8 Hiệu quả kinh tế các cây trồng chủ yếu năm 2009 83
3.9 Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất chủ yếu năm 2009 84
3.10 Hiệu quả kinh tế các cây trồng chủ yếu năm 2010 85
3.11 Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất chủ yếu năm 2010 87
3.12 So sánh hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất chủ yếu từ năm
2008 đến 2010 89
3.13 Mức độ sử dụng phân bón cho đất chuyên lúa năm 2010 95
3.14 So sánh mức đầu tư phân bón với khuyến cáo 95
3.15 Mức độ sử dụng thuốc BVTV cho đất chuyên lúa năm 2010 95
3.16 Một số tính chất hóa học đất chuyên lúa 97
3.17 Hàm lượng một số kim loại nặng trong đất chuyên lúa 98
3.18 Mức độ sử dụng phân bón cho các cây trồng trên đất lúa - màu năm 2010 99
3.19 So sánh mức đầu tư phân bón của các cây trồng trên đất lúa - màu
với khuyến cáo 100

ix

3.20 Mức độ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cho các cây trồng trên đất lúa
– màu năm 2010 101
3.21 Một số tính chất hóa học đất lúa - màu 102
3.22 Hàm lượng một số kim loai nặng trong đất lúa-màu 104
3.23 Mức độ sử dụng phân bón cho các cây trồng trên đất chuyên rau màu
năm 2010 105
3.24 So sánh mức đầu tư phân bón của các cây trồng trên đất chuyên rau

3.3 Cơ cấu sử dụng đất năm 2010 73
3.4 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp năm 2010 74
3.5 Cơ cấu các loại hình sử dụng đất chủ yếu 79
3.6 Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất chủ yếu từ 2008 - 2010 90
3.7 Hiệu quả xã hội các loại hình sử dụng đất chủ yếu từ 2008 - 2010 93
3.8 Sơ đồ đơn vị đất đai huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương 119
3.9 Sơ đồ thích hợp đất đai huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương 131
3.10 Sơ đồ sử dụng đất theo đề xuất 1 đến năm 2020 huyện Tứ Kỳ, tỉnh
Hải Dương 141
3.11 Sơ đồ sử dụng đất theo đề xuất 2 đến năm 2020 huyện Tứ Kỳ, tỉnh
Hải Dương 144 1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở nước ta, trong những năm gần đây, các nhà khoa học đã và đang tập trung
nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất, trong đó các đề tài đều hướng tới đánh
giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, đánh giá thực hiện quy hoạch sử dụng đất
nông nghiệp. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu phần lớn mới chỉ dừng ở mức vĩ
mô, những nghiên cứu chi tiết còn chưa được thực hiện nhiều.
Theo Nguyễn Văn Bộ và Đào Thế Anh (2010), Việt Nam có chỗ dựa vững
chắc là nông nghiệp để có thể vượt qua mọi cuộc khủng hoảng. Nếu kích thích cho

hậu ôn hoà, địa hình khá đồng nhất, đất có độ phì khá là tiền đề để phát triển một nền
nông nghiệp hiệu quả. Tuy nhiên, nhiều tiềm năng vẫn chưa được phát huy, khai thác
một cách đầy đủ, cơ cấu cây trồng mùa vụ chưa được xác định phù hợp với điều kiện
của huyện, các xã trên địa bàn huyện. Thị trường tiêu thụ sản phẩm chưa phát triển,
nhất là xuất khẩu nông sản, việc quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp cho phù hợp với
tính chất đất đai và từng loại hình sử dụng đất chưa được quan tâm đúng mức. Các
nguồn lực chưa được khai thác, thể hiện như: đất sản xuất nông nghiệp của các hộ
dân còn manh mún, phân tán; chưa hình thành được các vùng sản xuất tập trung,
chuyên môn hóa nhằm đẩy mạnh sản xuất phát triển, việc tổ chức kinh doanh dịch vụ,
chế biến nông sản chưa gắn với việc sản xuất hàng hóa, chưa có chiến lược quy
hoạch dài hạn gắn quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch phát triển nông nghiệp, đặc
biệt đối với các loại cây trồng, loại hình sử dụng đất là thế mạnh của huyện
Để hướng tới sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả, an toàn, bền vững trên địa bàn
huyện cần có những nghiên cứu đánh giá toàn diện về tiềm năng lợi thế, đồng thời
xác định những điểm yếu đang hạn chế sự phát triển nông nghiệp làm cơ sở cho các
nhà quản lý, quy hoạch sử dụng đất theo hướng công nghiệp hoá nông nghiệp nông
thôn, phù hợp với chính sách pháp triển nông nghiệp của Đảng và điều kiện cụ thể
của huyện. Đề tài “Nghiên cứu đề xuất sử dụng bền vững một số loại hình sử
dụng đất nông nghiệp phục vụ công tác quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp tại
huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương” được thực hiện nhằm góp phần bổ sung cơ sở lý
luận và thực tiễn cho định hướng sử dụng đất hợp lý, bền vững ở huyện Tứ Kỳ.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá tiềm năng, hiệu quả của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chủ
yếu từ đó đề xuất bố trí sử dụng bền vững phục vụ công tác quy hoạch sử dụng đất
trên địa bàn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.

3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu, các kiểu sử dụng đất và các

Chương 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Cơ sở lý luận về sử dụng đất nông nghiệp bền vững
1.1.1. Đất và sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1.1. Đất, vai trò và chức năng của đất
Tài nguyên đất được hình thành dưới tác động của các yếu tố tự nhiên và
hoạt động tích cực của con người, có ý nghĩa rất lớn và toàn diện trong cuộc sống
loài người cũng như phát triển xã hội.
Về mặt thuật ngữ, có rất nhiều “khái niệm hay quan điểm” về tài nguyên đất
và vai trò, ý nghĩa của nó đối với cuộc sống xã hội loài người. Nhìn từ góc độ thổ
nhưỡng học (Nguyễn Mười và cs., 2000) nguồn gốc ban đầu của đất (soil) là từ các
loại đá mẹ nằm trong thiên nhiên lâu đời bị phá hủy dần dần dưới tác động của các
yếu tố lý học, hóa học và sinh học. Theo Vi-li-am (dẫn theo Nguyễn Ngọc Bình,
2007) thì đất là một lớp vật thể tơi xốp trên bề mặt của hành tinh chúng ta, mà thực
vật có thể sinh trưởng được; đồng thời, các tác giả cũng đều cho rằng đất là một thể
tự nhiên, được hình thành lâu đời, do các kết quả tác động tổng hợp của 5 yếu tố: đá
mẹ, sinh vật, khí hậu, địa hình và thời gian (tuổi).
Về quan điểm sinh thái và môi trường (Lê Văn Khoa, 2000) đất là một vật
thể sống, một “vật mang” của các hệ sinh thái tồn tại trên trái đất, con người tác
động vào đất cũng chính là tác động vào các hệ sinh thái mà đất “mang” trên mình
nó. Cùng quan điểm, Vũ Thị Bình (2003), cho rằng đất là tài nguyên không tái tạo,
là vật mang của hệ sinh thái. Đất là thành phần của môi trường thiên nhiên, của sinh
quyển và có mối quan hệ mật thiết với các tài nguyên thiên nhiên khác (như nước,
thực vật, ) (Blume et al., 1998).
Theo Vũ Thị Bình (2003), đất đai là một vùng đất có ranh giới, có vị trí cụ
thể và có các thuộc tính tổng hợp của các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội như thổ
nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chất, thuỷ văn, thực vật, động vật và hoạt

5

6
cơ sở của quá trình sản xuất, hình thành cân bằng sinh thái, kho tàng lưu trữ và cung
cấp nguồn nước, không gian của sự sống, trung gian để bảo tồn, bảo tàng lịch sử và
là vật mang sự sống (Đoàn Công Quỳ, 2006).
Theo Nguyễn Mười và cs. (2000), đối với các công trình xây dựng, đất chỉ là
nguyên liệu chịu lực, còn trong sản xuất nông nghiệp đất là cơ sở sinh sống và phát
triển cây trồng. Trong các điều kiện vật chất cần thiết, nhiều tác giả đều cho rằng
đất đai là điều kiện đầu tiên, là cơ sở thiên nhiên của mọi quá trình sản xuất, nơi tìm
được công cụ, nguyên liệu lao động, khoảng không gian lãnh thổ cần thiết đối với
mọi ngành kinh tế và là nơi sinh tồn, hoạt động của con người (Nguyễn Đức Minh,
1994; Đoàn Công Quỳ, 2006).
Đất có ý nghĩa vô cùng quan trọng không chỉ đối với sản xuất nông lâm
nghiệp mà còn với nhiều ngành khác như xây dựng, giao thông, ngư nghiệp, diêm
nghiệp Do tầm quan trọng đặc biệt đối với nền kinh tế quốc dân, đất là tài sản bất
khả xâm phạm của mỗi quốc gia.
Tuy nhiên, vai trò và ý nghĩa (chưa đề cập đến giá trị kinh tế) của đất đai đối
với từng ngành rất khác nhau. Đối với các ngành phi nông nghiệp, đất đai giữ vai
trò thụ động với chức năng là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao
động, là kho tàng dự trữ trong lòng đất (khoáng sản). Quá trình sản xuất và sản
phẩm tạo ra không phụ thuộc vào đặc điểm và các tính chất của đất. Trong khi đối
với các ngành nông - lâm nghiệp, đất đai là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất, là
điều kiện vật chất - cơ sở không gian, đồng thời là đối tượng lao động (luôn chịu tác
động trong quá trình sản xuất như cày, bừa, xới xáo ) và công cụ hay phương tiện
lao động (sử dụng để trồng trọt, chăn nuôi ). Quá trình sản xuất nông - lâm nghiệp
luôn liên quan chặt chẽ với độ phì nhiêu và quá trình sinh học tự nhiên của đất
(Nguyễn Đức Minh, 1994; Võ Tử Can, 1998).
Với vai trò quan trọng như vậy, nhưng đất lại rất có hạn. Toàn lục địa diện
tích đóng băng vĩnh cửu (1.360 triệu ha), chỉ có 13.340 triệu ha, trong đó đất có khả
năng canh tác là 3.030 triệu ha (hiện có 1.475 triệu ha), 3.200 triệu ha đất đồng cỏ


đổi khác xưa, đồng thời cũng là nguyên nhân gây nên những hậu quả nghiêm trọng
về nhiều mặt, mà trước hết là ô nhiễm môi trường với khối lượng chất thải khổng lồ

8
của các khu, cụm công nghiệp và khu tập trung dân cư. Theo thống kê, hàng năm có
khoảng gần 12,0 triệu ha rừng nhiệt đới bị tàn phá, nhiều nhất là ở châu Mỹ La Tinh
và châu Á (Braxin hàng năm bị mất 1,7 triệu ha, Ấn Độ 1,5 triệu ha, Inđônêxia
900.000 ha và Thái Lan gần 400.000 ha). Ngoài ra, việc tàn phá rừng đã kéo theo sự
huỷ diệt của nhiều loài động vật, thực vật và làm mất dần tính đa dạng sinh học của
tự nhiên. Thế cân bằng sinh thái bị phá vỡ, hàng triệu ha đất canh tác bị mất khả
năng canh tác. Thành phần khí quyển thay đổi làm thay đổi cân bằng nhiệt lượng,
khí CO
2
đã gây ra những trận mưa a xít ở nhiều nơi, chất chlorofluoro cacbon
(CFC) tăng lên đã gây hiệu ứng nhà kính làm thủng tầng ôzôn có khả năng cản trở
các tia tử ngoại và bảo vệ sự sống trên trái đất (Ferrero and Nigrelli, 1998; Phạm
Đình Phê và Cao Thị Lan, 2001; Nguyễn Đình Bộ, 2010).
Người ta ước tính có đến 15% tổng diện tích đất trên trái đất bị thoái hoá do
những hành động của con người gây ra. Ít nhất tới nay đã có khoảng 66 triệu ha đất
được tưới tiêu đã bị nhiễm mặn thứ cấp, hàng năm có từ 6-7 triệu ha đất nông nghiệp
không sản xuất được do bị xói mòn (tỷ lệ này lớn hơn 2 lần so với 3 thế kỷ trước).
Ngoài ra mỗi năm còn thêm gần 2 triệu ha đất ngập úng, chua, mặn làm giảm sức sản
xuất. Thoái hoá đất đang ngày càng trầm trọng và lan rộng trên toàn thế giới (Trần
Thị Áng, 1995; Trần Kông Tấu, 2002; Phan Thị Trúc Giang, 2008).
Báo cáo nghiên cứu về tài nguyên đất cũng đã đánh giá việc áp dụng các biện
pháp thâm canh như: sử dụng phân bón, quản lý, bảo vệ không hợp lý sẽ là nguyên
nhân dẫn đến suy giảm môi trường đất cũng như chất lượng môi trường tại khu vực
sản xuất (Lê Thạc Cán, 1994; Nguyễn Đình Bộ, 2010).
Theo kết quả nghiên cứu của FAO (1990, 1995), dự trữ đất canh tác ở các
nước đang phát triển còn khá lớn, song phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở châu

- Trồng rừng (FAO, 1988).
1.1.1.4. Sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam
a) Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Trên thế giới, diện tích đất có khả năng canh tác khoảng 3.190 triệu ha, tập
trung nhiều ở Châu Phi 734 triệu ha, Nam Mỹ 681 triệu ha, Châu Á 627 triệu ha
(Nguyễn Quang Học, 2000; Nguyễn Đình Bộ, 2010).

10

Bảng 1.1. Tiềm năng đất đai và diện tích đất canh tác trên thế giới
ĐVT: triệu ha
Lục địa Tổng diện tích
Diện tích có khả
năng canh tác
Diện tích đất
canh tác
1. Châu Phi
2. Châu Á
3. Châu Đại Dương

4. Châu Âu
5. Bắc Mỹ
6. Nam Mỹ
7. Liên xô (cũ)
2.964
2.679
843
473
2.138
1.753

diện
tích
Khả năng
trồng trọt
được
Hiện
đang
trồng
Còn lại
Diện
tích
Tỷ lệ
(%)
Năm
1995
Năm
2010
(Triệu ha)
1. Việt Nam
2. Inđônêxia
3.Thái Lan
4. Philippin
5. Lào
6. Campuchia
Tổng

74
195
60
70

66
6
35
8
5
6
7
67
42,8
60,3
29,6
29,4
85,7
70,0
50,3
Nguồn: FAO (2004).

11

Trước đây, khi dân số còn ít thì việc khai thác đất đai để đáp ứng nhu cầu của
con người còn dễ dàng, chưa có những ảnh hưởng lớn đến tài nguyên đất đai. Trong
vài thập kỷ gần đây, dân số không ngừng tăng nhanh qua các năm, đặc biệt là ở các
nước đang phát triển, thì vấn đề đảm bảo an ninh lương thực đã trở thành sức ép rất
lớn đối với đất đai. Quỹ đất nông nghiệp ngày càng cạn kiệt do đó để đáp ứng nhu
cầu ngày càng tăng, con người phải tiếp tục khai phá các vùng đất không thích hợp
cho sản xuất. Nạn phá rừng đã gây ra các quá trình thoái hoá, rửa trôi và phá hoại đất
một cách nghiêm trọng (Lê Văn Khoa và cs., 2000; Nguyễn Đình Bộ, 2010).
Bảng 1.3. Biến động về dân số và diện tích đất canh tác
trên thế giới (1960- 2050)
Năm

1.510
1.513
1.540
1.570
1.602
1.650
1.695
1.730
1.755
0,46
0,38
0,34
0,29
0,27
0,25
0,23
0,21
0,20
0,21
0,20
0,20
Nguồn: FAO (2004, 2005). *: Số liệu dự kiến

Kết quả điều tra 2005 của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP)
và Trung tâm Thông tin tài nguyên đất Quốc tế (ISRIC) đã chỉ ra rằng: tổng diện
tích đất đai của thế giới là 13,4 tỉ ha, thì có khoảng 2 tỉ ha đã bị thoái hoá ở các mức

12

độ khác nhau. Trong đó diện tích đất thoái hoá ở châu Á và châu Phi là 1,24 tỉ ha

đồng bằng sông Hồng có 6,5 triệu dân ở nông thôn, đất công chiếm 230.000 ha, tức
1/5 diện tích đất nông nghiệp. Thời kỳ cải cách ruộng đất và tập thể hoá, giai đoạn

13

1953 đến năm 1958, ở miền Bắc, ruộng đất của các tầng lớp “bóc lột” (địa chủ, phú
nông, thực dân Pháp, nhà thờ Cơ đốc) và đất công được chia cho các tầng lớp nông dân
lao động (trung nông, bần nông, cố nông), diện tích 810.000 ha chia cho hơn 2 triệu gia
đình. Sau năm 1958, Nhà nước Việt Nam phát động phong trào tập thể hoá nền kinh tế
nông thôn qua các hợp tác xã Nông nghiệp, có 85,8% các hộ nông dân được tập hợp
trong các hợp tác xã. Từ đó, đất đai là tài sản của tập thể, nông dân trở thành những
người làm công ăn lương của các hợp tác xã. Tuy nhiên, vẫn còn một tỷ lệ trung bình
5% đất canh tác (gọi là đất 5%) dùng để chia cho các hộ nông dân sử dụng để canh tác
riêng, (Vũ Thị Bình và cs., 2005; Nguyễn Đình Bộ, 2010).
Đây là thời kỳ sản xuất nông nghiệp theo cơ chế bao cấp, hiệu quả kém, thiếu
đói lương thực trầm trọng… Để khắc phục tình trạng đó Nhà nước đã có Chỉ thị 100
(năm 1981) và Chỉ thị khoán 10 (1988) giao quyền tự chủ về đất đai cho các hộ nông
dân trực tiếp quản lý, sử dụng. Đồng thời ban hành Luật Đất đai năm 1993 quy định
mức độ tối đa về thời gian giao đất đối với đất trồng cây hàng năm là 20 năm, đối với
cây lâu năm là 50 năm. Quyền sử dụng đất giao cho nông dân, Nhà nước vẫn giữ
quyền sở hữu đất đai về mặt luật pháp (Vũ Thị Bình và Quyền Đình Hà, 2003).
Bảng 1.4. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp và đất canh tác ở Việt Nam
Chỉ tiêu ĐVT
Năm
1994 2000 2010
1. Đất nông nghiệp
- Đất canh tác
- Đất lúa
1000 ha
1000 ha
1.014,00
752,00

984,50
686,50

882,20
587,60
Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2000.

14

Việt Nam là quốc gia có truyền thống trồng lúa nước trong khu vực và trên
thế giới. Đất trồng lúa của nước ta được hình thành trải qua hàng nghìn năm với
công sức của bao thế hệ người dân Việt Nam. Hầu hết đất trồng lúa của nước ta là
đất phù sa thuộc 2 vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long, là loại
đất tốt của thế giới. Hiện nay diện tích đất trồng lúa cả nước có khoảng 4,1 triệu ha,
ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của 70% dân số cả nước. Thực tế trong 10 năm
qua, đã có gần 350 nghìn ha đất lúa (đất lúa nước khoảng 270 nghìn ha) được
chuyển cho các mục đích khác, trong đó nhiều diện tích đất lúa thuộc khu vực
đồng bằng là dạng “bờ xôi ruộng mật” đã chuyển sang để phát triển đô thị, khu
công nghiệp và các cơ sở sản xuất phi nông nghiệp khác. Khi diện tích đất lúa đã
chuyển sang đất phi nông nghiệp thì khả năng sử dụng trở lại trồng lúa là rất khó,
trong khi đó khả năng khai hoang, mở rộng diện tích đất trồng lúa để bù đắp vào
diện tích đất lúa mất đi là rất hạn chế và tốn kém (Chính phủ, 2011).
Để đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa
và hiện đại hóa, thì việc chuyển đất trồng lúa cho các mục đích phi nông nghiệp sẽ
không tránh khỏi. Theo tính toán đến năm 2020 sẽ có khoảng 300 nghìn ha đất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status