Trung tâm Quan trắc môi trờng
Báo cáo tổng kết đề tài:
Xây dựng và thử nghiệm áp dụng chỉ số xếp hạng
bền vững môi trờng đối với các địa phơng
và các ngành nghề CNđt: Nguyễn Văn Thùy
8816
Đề tài nghiên cứu Khoa học: “XÂY DỰNG VÀ THỬ NGHIỆM ÁP DỤNG CHỈ SỐ XẾP HẠNG BỀN VỮNG MÔI
TRƯỜNG ĐỐI VỚI CÁC ĐỊA PHƯƠNG VÀ NGÀNH NGHỀ 2
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 4
MỘT SỐ THUẬT NGỮ SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI 5
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1. Tính cấp thiết của đề tài 6
2. Mục đích nghiên cứu 7
3. Nhiệm vụ nghiên cứu: 7
4. Phạm vi, giới hạn của đề tài 8
5. Phương pháp nghiên cứu 8
PHẦN 1. CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN XÁC ĐỊNH CHỈ SỐ BỀN
VỮNG MÔI TRƯỜNG 10
1. Một số vấn đề về phát triển bền vững 10
1.1. Định nghĩa về phát triển bền vững 10
1.2. Một số nguyên tắc phát triển bền vững cơ bản 11
2. Khái niệm về bề
n vững môi trường 13
3. Một số vấn đề về xây dựng chỉ số bền vững môi trường 18
3.1. Sự cần thiết xây dựng chỉ số bền vững môi trường 18
3.2. Phương pháp tiếp cận của đại học Yale 22
3.3. Một số đặc điểm của chỉ số bền vững môi trường 28
4. Tổng quan về tình hình xây dựng, ứng d
4.2. Phương pháp tính toán 62
5. Áp dụng thử nghiệm tính chỉ số bền vững môi trường cho địa phương 70
6. Một số phân tích, nhận xét đánh giá 79
7. Tính điểm chỉ số bền vững môi trường cho ngành 86
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Phụ lục 1. PHƯƠNG PHÁP LUẬN TÍNH TOÁN CHỈ SỐ BỀN VỮNG MÔI
TRƯỜNG 90
Phụ lục 2. DANH SÁCH CÁC CHỈ THỊ VÀ THÔNG SỐ ĐỂ XÂY DỰNG
CHỈ SỐ BỀN VỮNG MÔI TRƯỜNG QUỐC GIA (ESI 2005), ĐẠI HỌC
YALE 119
Phụ lụ
c 3. CÁC BẢNG MÔ TẢ CÁC BIẾN SỐ ĐỂ XÂY DỰNG BỘ CHỈ THỊ
VÀ CHỈ SỐ BỀN VỮNG MÔI TRƯỜNG ESI 2005, ĐẠI HỌC YALE 123 Đề tài nghiên cứu Khoa học: “XÂY DỰNG VÀ THỬ NGHIỆM ÁP DỤNG CHỈ SỐ XẾP HẠNG BỀN VỮNG MÔI
TRƯỜNG ĐỐI VỚI CÁC ĐỊA PHƯƠNG VÀ NGÀNH NGHỀ 4
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ANQP An ninh Quốc phòng
BPNN Bình phương nhỏ nhất
BVMT Bảo vệ môi trường
(CSD/UN) (Cousil on Sustainable Development/ United Nations)
Ủy ban về Phát triển bền vững của Liên hợp quốc
CNH Công nghiệp hóa
CNTT Công nghệ thông tin
ĐTM Đánh giá tác động môi trường
ESI (Environmental Sustainability Index): Chỉ số bền vững môi trường
ESIVN Chỉ số bền vững môi trường Việt Nam
Đề tài nghiên cứu Khoa học: “XÂY DỰNG VÀ THỬ NGHIỆM ÁP DỤNG CHỈ SỐ XẾP HẠNG BỀN VỮNG MÔI
TRƯỜNG ĐỐI VỚI CÁC ĐỊA PHƯƠNG VÀ NGÀNH NGHỀ 6
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Năm 1992, Hội nghị Liên Hợp Quốc về Môi trường và phát triển, diễn ra
từ ngày 03/6 đến ngày 14/6 tại Rio De Janeiro (Braxin), đã khẳng định vai trò
quan trọng của các chỉ thị (indicators) và các chỉ số (indices) phát triển bền vững
kinh tế và bảo vệ môi trường của một quốc gia. Chỉ số bền vững môi trường
(Environmental Sustainability Index - ESI) mới nhất đã được đưa ra trong Diễn
đàn Kinh tế Thế giới, tổ chức ở Davos, Thụy Sĩ, tháng 1 năm 2005, giúp xác
định tính chất bền vững môi trường của 146 quốc gia. Nghiên cứu này được
thự
c hiện bởi Trung tâm Pháp luật và Chính sách Môi trường, Đại học Yale và
Đề tài nghiên cứu Khoa học: “XÂY DỰNG VÀ THỬ NGHIỆM ÁP DỤNG CHỈ SỐ XẾP HẠNG BỀN VỮNG MÔI
TRƯỜNG ĐỐI VỚI CÁC ĐỊA PHƯƠNG VÀ NGÀNH NGHỀ 7
Trung tâm Mạng Thông tin Quốc tế về Khoa học Trái đất, Đại học Columbia,
Mỹ, cùng với sự hợp tác của các chuyên gia, nhà lãnh đạo quốc tế tham gia Diễn
đàn Kinh tế Thế giới và Trung tâm Nghiên cứu chung của các nước Châu Âu.
Hiện nay, ở Việt Nam chưa áp dụng chỉ số để đánh giá tổng hợp về mức
độ bền vững của môi trường. Đặc biệt chưa có các tính toán để xếp hạng, đánh
giá về mức độ bền vững môi trường cho cấp tỉnh. Việc này rất quan trọng, có ích
cho các địa phương nhìn nhận, đánh giá về hiện trạng môi trường và công tác
quản lý bảo vệ môi trường của địa phương mình.
Đó cũng chính là lý do cấp thiết của đề tài: “Xây dựng và thử nghiệm áp
dụng chỉ số xếp hạng bền vững môi trường đối với các địa phương và ngành
nghề” nh
ằm áp dụng kinh nghiệm quốc tế trong điều kiện Việt Nam và phù hợp
ở cấp tỉnh.
2. Mục đích nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Đánh giá sự bền vững về môi trường của các tỉnh, ngành
bằng công cụ khoa học, minh bạch, toàn diện nhằm hỗ trợ các nhà quản lý và
cộng đồng các địa phương đánh giá được tình hình môi trường của địa phương
và đề ra các giải pháp một cách kịp thời để bảo vệ môi trường, đảm bảo sự phát
triển bền vững.
- Mục tiêu cụ th
ể:
+ Đề xuất bộ chỉ thị để tính toán chỉ số bền vững môi trường cho cấp tỉnh
chỉ thị và chỉ số bền vững môi trường cho các địa phương và ngành nghề.
+ Thu thập số liệu, tính toán thử nghiệm cho 2 tỉnh và lĩnh vực ngành nghề.
+ Đánh giá tổng hợp.
4. Phạm vi, giới hạn của đề tài
- Phạm vi: Đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu, lựa chọn thông số phù hợp
và xây dựng chỉ số bền vững môi trường cho cấp tỉnh và ngành nghề.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu, đánh giá về lĩnh vực môi
trường, không đánh giá về mặt tài nguyên thiên nhiên.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu, số liệu: Phương pháp này chủ
yếu sử dụng các tài liệu, kết quả nghiên cứu, tài liệu sẵn có của các nhà khoa
học, các cơ quan quản lý, cơ quan khoa học, các tác giả đã có công trình nghiên
cứu từ trước đến nay liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài: về chỉ số
môi trường, chỉ số phát triển bền vững và chỉ số bền vững môi trườ
ng.
- Phương pháp điều tra, khảo sát: Thiết kế và sử dụng phiếu điều tra để thu
thập thông tin dưới hình thức phỏng vấn trực tiếp, gửi phiếu điều tra để thu thập
thông tin. Các kết quả phân tích phiếu điều tra đã hỗ trợ cho đề tài trong đưa ra
những nhận định, cũng như đề xuất các thông số, chỉ thị thích hợp để xây dự
ng
chỉ số bền vững môi trường.
Đề tài nghiên cứu Khoa học: “XÂY DỰNG VÀ THỬ NGHIỆM ÁP DỤNG CHỈ SỐ XẾP HẠNG BỀN VỮNG MÔI
TRƯỜNG ĐỐI VỚI CÁC ĐỊA PHƯƠNG VÀ NGÀNH NGHỀ 9
- Phương pháp chuyên gia: Qua trao đổi quan điểm, ý kiến với các nhà khoa
học và quản lý ở Trung ương và địa phương; qua ý kiến trao đổi, thảo luận tại
hội thảo và các cuộc họp.
Đề tài nghiên cứu Khoa học: “XÂY DỰNG VÀ THỬ NGHIỆM ÁP DỤNG CHỈ SỐ XẾP HẠNG BỀN VỮNG MÔI
TRƯỜNG ĐỐI VỚI CÁC ĐỊA PHƯƠNG VÀ NGÀNH NGHỀ 10
PHẦN 1. CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN XÁC ĐỊNH
lịch sử phát triển nhân loại, mà trước hết là mâu thuẫn phát sinh cơ bản giữa nhu
cầu phát triển xã hội và khả năng đáp ứng, rồi đến các mâu thuẫn cơ
bản giữa
các lợi ích về kinh tế-xã hội và môi trường theo cơ chế thị trường.
Xét một cách tổng quát, có thể hiểu phát triển bền vững là sự phát triển
bền vững trên cả ba lĩnh vực: bền vững kinh tế, bền vững xã hội và bền vững
môi trường. Và để đảm bảo cho độ bền vững trong phát triển của ba lĩnh vực
trên, vấn đề môi trường luôn đượ
c xét đến như một điều kiện cần và đủ tạo nên
Đề tài nghiên cứu Khoa học: “XÂY DỰNG VÀ THỬ NGHIỆM ÁP DỤNG CHỈ SỐ XẾP HẠNG BỀN VỮNG MÔI
TRƯỜNG ĐỐI VỚI CÁC ĐỊA PHƯƠNG VÀ NGÀNH NGHỀ 11
sự phát triển bền vững cho một quốc gia, một vùng, một địa phương hay thậm
chí một ngành/nghề nào đó. Vậy làm thế nào để có thể xác định được mức độ
bền vững về môi trường của một quốc gia? Nếu muốn đo sự phát triển về
kinh tế, chúng ta có thể căn cứ vào các chỉ số kinh tế như chỉ số GDP, chỉ số giá
tiêu dùng CPI, ch
ỉ số đo mức độ lạm phát (CPI, PPI, PCE) hay căn cứ vào chỉ số
xã hội như chỉ số HDI – chỉ số phát triển con người. Tuy nhiên, chỉ số liên quan
đến bền vững môi trường cho đến nay vẫn còn được coi là một khái niệm khá
mới mẻ không chỉ với riêng Việt Nam mà còn với rất nhiều nước trên thế giới.
1.2. Một số nguyên tắc phát triển bền vững cơ bản
1) Phát triể
n kinh tế - xã hội phải gắn liền với việc khai thác sử dụng hợp lý các
nguồn tài nguyên thiên nhiên:
Quá trình phát triển KT-XH cần sử dụng tài nguyên thiên nhiên hoặc tài
nguyên nhân văn, trong đó có nguồn tài nguyên tái tạo và có nguồn tài nguyên
không có tái tạo (hoặc tái tạo sau thời gian dài hàng triệu năm). Vì vậy, việc khai
thác, sử dụng hợp lý và từng bước thay thế các nguồn tài nguyên thiên nhiên
mới là nguyên tắc hàng đầu của PTBV, mà nguyên tắc này nhằm đảm bảo lưu
lại cho các thế
ồn tính đa dạng sinh học và văn
hoá:
Các biện pháp thực hiện nguyên tắc này là :
- Tôn trọng tính đa dạng của thiên nhiên và văn hoá xã hội.
- Quy hoạch phát triển gắn với bảo tồn tính đa dạng của thiên nhiên và văn
hoá xã hội.
- Duy trì “khả năng chịu tải” ( carrying capacity) của môi trường.
- Khuyến khích phát triển các ngành nghề truyền thống.
- Đóng góp một phần lợi ích thu được thông qua ho
ạt động phát triển KT-
XH vào duy trì tính đa dạng của môi trường.
4) Khai thác tài nguyên phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH,
lồng ghép chặt chẽ với bảo vệ môi trường:
Phương án khai thác tài nguyên thiên nhiên phải phù hợp với quy hoạch
phát triển KT-XH của quốc gia, vùng và mỗi địa phương. Mỗi phương án và dự
án phát triển KT-XH cần phải thông qua việc thực hiện công tác ĐMC, ĐTM để
lồng ghép chặt chẽ
các vấn đề môi trường,
5) Phát triển KT-XH phải gắn liền với lợi ích, trách nhiệm của cộng đồng địa
phương:
Trong quá trình khai thác tài nguyên phục vụ cho hoạt động của mình,
chủ đầu tư (có thể là nhà nước, ngành, tập thể, cá thể hoặc tư nhân, cá nhân) cần
tuân thủ nguyên tắc chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương. Việc tham gia của
cộng đồng địa phương vào hoạt
động khai thác tài nguyên phục vụ quá trình
phát triển KT-XH không chỉ giúp họ tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống, mà
còn nâng cao trách nhiệm của họ đối với bảo vệ tài nguyên và môi trường. Đây
là một nguyên tắc quan trọng trong PTBV. Sự tham vấn, tham khảo ý kiến của
các chủ đầu tư đối với cộng đồng địa phương là cần thiết và quan trọng nhằm
tranh thủ sự ủng hộ của địa ph
BVMT, nhất là khi đã vượt qua ngưỡng phát triển. Nhìn chung, các nhu
cầu đầu tư cho BVMT và PTBV sẽ cần được quy hoạch lồng ghép chặt
chẽ trong nhu cầu chung về phát triển KT-XH, không thể tách riêng.
- Việc cân nh
ắc kỹ các yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường và văn hóa phải
được thực hiện ở mọi khâu, ngay từ lúc xây dựng chủ trương các quyết
định theo câu hỏi khóa là “Có lợi gì và hại gì cho môi trường nói chung
và cho con người nói riêng, xét về trước mắt và lâu dài? Chọn quyết định
thế nào để có những giải pháp tối ưu?”.
2. Khái niệm về bền vững môi trường
Thực tế, trong hơn 2 thập kỷ qua nhất là sau Hội nghị LHQ Rio DeJaneiro
năm 1992, sự quan tâm tới môi trường được thể hiện rõ trên toàn thế giới và tại
mọi quốc gia, trước hết do lợi ích của chính mình và do đòi hỏi của dân chúng,
vì mọi người đều ngày càng nhận thức rõ hơn về hậu quả của các hoạt động của
con người đối với môi trường. Thí dụ:
Đề tài nghiên cứu Khoa học: “XÂY DỰNG VÀ THỬ NGHIỆM ÁP DỤNG CHỈ SỐ XẾP HẠNG BỀN VỮNG MÔI
TRƯỜNG ĐỐI VỚI CÁC ĐỊA PHƯƠNG VÀ NGÀNH NGHỀ 14
- Đã có nhiều nỗ lực ở các nước phát triển nhằm giảm mức độ ô nhiễm
không khí như: các quốc gia ở Bắc Âu, Tây Âu, Ấn Độ đang tăng nhanh
tỷ trọng các nguồn năng lượng tái tạo, nhất là năng lượng gió trong tổng
sản lượng sản xuất về năng lượng. Các công nghệ sạch, công nghệ thân
thiện môi trường được sử dụng ngày càng nhiều hơn. Các biệ
n pháp tiết
kiệm năng lượng cũng được áp dụng trong nhiều lĩnh vực sản xuất và tiêu
dùng. Tỷ lệ các chất thải được sử dụng, tái chế cũng tăng lên đáng kể,
sinh thái công nghiệp được áp dụng ngày càng phổ biến.
- Tại các nước đang phát triển, ngoài việc áp dụng các công nghệ sạch hơn
để giảm thiểu ô nhiễm, đã tập trung nhiều nỗ lực cho vi
ệc giảm phá rừng,
bảo tồn đa dạng sinh học, kiểm soát sự gia tăng dân số, cải thiện điều kiện
TRƯỜNG ĐỐI VỚI CÁC ĐỊA PHƯƠNG VÀ NGÀNH NGHỀ 15
Vì vậy, con đường phát triển thoát nghèo duy nhất là phải tăng trưởng
kinh tế gắn liền với thực hiện quá trình CNH, HĐH và đô thị hoá. Nhưng chính
những quá trình này lại gây ra các vấn đề môi trường cấp bách. Vậy nên, vấn đề
ở đây là cùng với việc tăng trưởng KT-XH và bảo đảm an ninh quốc phòng cần
phải cân nhắc đến những khả năng có thể nhằm thực hiện tốt công tác bảo vệ
môi trường và bảo tồn thiên nhiên; giảm thiểu các sự cố môi trường; cố gắng
duy trì sự ảnh hưởng xấu tới môi trường ở “mức độ có thể chấp nhận được”,
đảm bảo khả năng phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường một cách dễ
dàng. Đây thực chất chỉ là một giải pháp cuối cùng, buộc phải áp dụng khi
không còn giải pháp nào khác và giống nh
ư một sự chấp nhận cho cái giá phải
trả cho phát triển KT-XH để đảm bảo sự hài hoà giữa phát triển và môi trường.
Mặc dù vậy, việc xác định "mức độ chấp nhận được" cũng còn nhiều ý kiến
khác nhau.
Tại các nước kém phát triển, cũng không thể chỉ nói một cách đơn giản là:
"Vì vấn đề môi trường sẽ phải giảm tốc tăng trưởng", mà ngược lại sẽ v
ẫn cần
tiếp tục tăng trưởng như đầu tàu của nền kinh tế thế giới. Nếu không, điều này sẽ
hạn chế chính sự phát triển của các nước nghèo do tính chất ngày càng phụ
thuộc lẫn nhau của các nền kinh tế có xu thế toàn cầu hoá. Mặt khác, chính sự
tăng trưởng và phát triển nói chung tại các nước phát triển cũng có ý nghĩa rất
quan trọng đối với việc triển khai r
ộng rãi các công nghệ thân thiện môi trường
và góp phần giải quyết các vấn đề môi trường chung của thế giới. Vấn đề ở đây
là phải có sự thay đổi trong phương thức sản xuất và lối sống, chứ không chỉ
đơn thuần là chú ý tới gia tăng về số lượng. Cần phải quan tâm nhiều đến chất
lượng và phải xây dựng mô hình PTBV phù hợp trong các điều kiện phát triển
quá độ
đều phải hướng tới việc sử dụng các công nghệ thân thiện môi trường. Vì có rất
nhiều lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, cho nên công nghệ sử dụng hết sức đa dạng,
nhưng yếu tố cơ bản và tiêu biểu nhất cho mọi công nghệ chính là kh
ả năng sử
dụng năng lượng, nước và nguyên vật liệu thô như thế nào? Vì nó liên quan đến
các chu trình sản xuất sản phẩm và phát sinh các chất thải khép kín. Ví dụ như:
việc sử dụng khí thiên nhiên, công nghệ sạch về đốt than, xăng không pha chì và
các bộ biến đổi xúc tác,… có thể giảm tới 99% sự phát thải các hạt bụi gây ô
nhiễm không khí; hoặc việc sử dụng nước theo chu trình khép kín từ chỗ sử
dụ
ng tuần hoàn trong công nghệ sẵn có, đến việc tái sử dụng nước thải thông
qua quá trình xử lý hợp tiêu chuẩn, sẽ làm giảm đến 90% tình trạng ô nhiễm các
nguồn tiếp nhận; hoặc như việc áp dụng công nghệ sinh thái công nghiệp sẽ tiết
kiệm rất nhiều các nguyên liệu thô và giảm thiểu chất thải gây ô nhiễm.
Đặc biệt có chỉ thị rất đáng chú ý là lượng năng lượng sử dụng cho mộ
t
đơn vị sản phẩm. Thí dụ, để sản xuất ra 100 USD của GNP, thì Nhật Bản cần 15
kg dầu quy đổi, trong khi đó ở Đức là 29, Mỹ là 38, Canada là 54 kg. Nếu tất cả
các nước phát triển đều đạt hiệu suất sử dụng năng lượng như Nhật Bản, thì tổng
năng lượng sử dụng trên thế giới sẽ giảm 2.343 triệu tấn dầu quy đổi, tức là bằ
ng
36% tổng năng lượng tiêu thụ. Như vậy, có thể tư duy được ý nghĩa của vấn đề
kèm theo, đó là sự giảm bớt sử dụng tài nguyên, hạ giá thành sản phẩm và giảm
bớt biết bao tác động tiêu cực đến môi trường, cũng như các đầu tư cần thiết cho
BVMT.
Trong các quyết định, nhất là đối với các chủ trương đầu tư quan trọng,
hoặc các chính sách chủ y
ếu về sử dụng tài nguyên, phải tìm cách phản ánh
được các giá trị của môi trường, kể cả cái giá phải trả cho sự bồi hoàn, khắc
phục và cải thiện chất lượng môi trường. Thông thường, mà trong đó có những
Vậy vấn đề đặt ra là, liệu có thể đo được mức độ bền vững môi trường
không? Chúng ta đều nhận thức được rằng, việc “đo” tính bền vững môi trường
là một công việc đòi hỏi nhiều thách thức. Bởi lẽ, bền vững môi trường là một
khái niệm có tính trừu tượng. Tuy nhiên, điề
u đó không có nghĩa là tính bền
vững môi trường không thể được đo bằng những chỉ số cụ thể. Trên thực tế,
“Sức khỏe” cũng là một khái niệm trừu tượng, tuy nhiên, tổ chức Y tế Thế giới
đã đưa ra được các chỉ số xuyên quốc gia về những hệ số sức khỏe tổng hợp.
“Nghèo đói” cũng là một khái niệm rất trừu tượ
ng, song Chỉ số nghèo tổng hợp
(Human Poverty Index – HPI) cũng đã được xây dựng và áp dụng nhằm đánh
giá và xếp hạng các nước nghèo trên thế giới. Có thể liệt kê thêm một vài ví dụ
khác như “Tham nhũng”, “Dân chủ” hay “Nhân quyền”, Do vậy, không có lý
do gì đề khẳng định rằng “Môi trường” có điểm gì khác với các khái niệm trừu
tượng khác.
Đề tài nghiên cứu Khoa học: “XÂY DỰNG VÀ THỬ NGHIỆM ÁP DỤNG CHỈ SỐ XẾP HẠNG BỀN VỮNG MÔI
TRƯỜNG ĐỐI VỚI CÁC ĐỊA PHƯƠNG VÀ NGÀNH NGHỀ 18
3. Một số vấn đề về xây dựng chỉ số bền vững môi trường
3.1. Sự cần thiết xây dựng chỉ số bền vững môi trường
Đã có rất nhiều nỗ lực nhằm định lượng sự bền vững môi trường và một
trong những nỗ lực đó là việc đưa ra khái niệm về chỉ số bền vững môi trường
ESI (Environmental Sustainability Index). Khái niệm này được đề cập đến lần
đầu tiên trong bản đánh giá môi trường mang tên “Chỉ số bền vữ
ng môi trường
2005: Tiêu chuẩn cho quản lý môi trường quốc gia” (2005 Environmental
Sustainability Index: Benchmarking National Environmental Stewardship) do
Trung tâm Luật và Chính sách Môi trường của Đại học Yale và Trung tâm
Mạng lưới thông tin khoa học trái đất quốc tế (CIESIN) của trường Đại học
Columbia xây dựng từ năm 1999 đến năm 2005. Theo đó, chỉ số ESI nhằm cụ
thể hóa khái niệm bền vững môi trường mà định nghĩa là việc duy trì lâu dài các
xác định nhóm quốc gia thích hợp nào có thể làm chuẩn cho các kết quả môi
trường và các chính sách.
Chỉ số bền vững môi trường là một chỉ số phức hợp, đánh giá tập hợp các
chỉ số kinh tế xã hội, môi trường và thể chế
khác nhau, đặc trưng và tác động
đến tính bền vững của môi trường ở quy mô quốc gia.
Chỉ số bền vững môi trường kết hợp các yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến
tính bền vững của môi trường, bao gồm cả các vấn đề của tự nhiên và các vấn đề
do con người gây ra. Đây là cách tiếp cận lượng hóa và có tính hệ thống, hỗ trợ
cho công tác hoạch định chính sách môi trường. Phân tích này cũng cho thấy
nhiều yếu tố quan trọng tác động đến hiệu quả bảo vệ môi trường của một quốc
gia.
Kết quả áp dụng các chỉ số bền vững môi trường cho thấy có sự khác biệt
rõ về tính chất bền vững của môi trường giữa các quốc gia. Một số đặc trưng
chung của các quốc gia có chỉ số môi trường bền vững cao là:
1) Nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào;
2) Mật
độ dân số thấp;
3) Quản lý tốt môi trường và các vấn đề phát triển.
Các nước phát triển đang phải đối mặt với các vấn đề liên quan đến công
nghiệp hóa như vấn đề suy giảm tài nguyên thiên nhiên và ô nhiễm. Các nước
đang phát triển đang gặp những thách thức về tăng dân số quá mức và không có
sự cam kết về bảo vệ môi trường. Còn các nước kém phát triển thì phải đối mặt
với nh
ững vấn đề do nghèo đói gây ra. Tuy nhiên, không có một quốc gia nào
thực hiện tốt tất cả 21 chỉ thị, điều này cho thấy, các quốc gia còn có thể cải
thiện tình hình và cần học hỏi kinh nghiệm của các nước khác.
Báo cáo của đại học Yale giới thiệu về Chỉ số bền vững môi trường (ESI) –
một chỉ số nhằm cung cấp một hồ sơ hoàn chỉnh về quản lý môi trườ
ng quốc gia
không được tiến hành thường xuyên và các số liệu còn thiếu. Dù không phải là
một chỉ số hoàn hảo song ESI sẽ giúp lấp đầy khoảng trống vốn đã tồn tại trong
một thời gian dài trong đánh giá việc thực hiện bảo vệ môi trường. Chỉ số này sẽ
là một bước tiến nhỏ trong việc hướng đến một phương pháp tiếp cận mạnh mẽ
hơn và mang tính định lượng hơn trong việc ra các quyết định liên quan đến vấn
đề môi trường.
Chức năng quan trọng nhất của chỉ số ESI đó là nó được coi như một
công cụ chính sách để xác định các vấn đề được quan tâm nhất trong phạm vi
các chương trình bảo vệ môi trường quố
c gia và những vấn đề xã hội một cách
tổng quát hơn. Chỉ số ESI đồng thời cũng đưa ra cách xác định quốc gia nào dẫn
đầu trong từng chủ đề/lĩnh vực riêng (trong số 5 chủ đề để tính ra chỉ số ESI).
Thông tin này rất hữu ích trong việc tìm ra “quốc gia tốt nhất” và có thể giúp
cho việc cân nhắc những vấn đề nào cần có trong quá trình hoạch định chính
sách.
Khi phân tích về các hành động tốt nhất và chính sách môi trườ
ng thành
công không có nghĩa rằng chỉ có duy nhất một cách tiếp cận về sự bền vững.
Các quốc gia hiện nay đang phải đối mặt với hàng loạt các vấn đề môi trường và
các vấn đề liên quan đến chính sách môi trường khi cố gắng cải thiện môi
trường. Câu trả lời hợp lý sẽ phụ thuộc vào tình hình cụ thể về môi trường, kinh
Đề tài nghiên cứu Khoa học: “XÂY DỰNG VÀ THỬ NGHIỆM ÁP DỤNG CHỈ SỐ XẾP HẠNG BỀN VỮNG MÔI
TRƯỜNG ĐỐI VỚI CÁC ĐỊA PHƯƠNG VÀ NGÀNH NGHỀ 21
tế và xã hội của từng quốc gia, và cả các yếu tố bên ngoài như chính sách môi
trường của các quốc gia láng giềng. Việc lựa chọn từng chính sách phải được
tính toán và đánh giá trong bối cảnh này. Chỉ số ESI có thể hỗ trợ quá trình phân
tích bằng cách xác định (a) những vấn đề cơ bản nhất mà một nước đang phải
đối mặt (b) các nước tương tự đã giải quyết thành công những vấ
n đề này như
ầu. Tuyên bố Thiên niên kỷ (The Millennium
Declaration) và Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGs) đã đưa ra cam kết một
cách rất rõ ràng với cộng đồng thế giới trong việc tạo ra những tiến bộ nhằm đạt
được sự bền vững môi trường trong bối cảnh một chương trình nghị sự toàn cầu
rộng lớn hơn nhằm vào việc giảm nghèo, suy dinh dưỡng, phổ cập giáo dục và
chăm sóc y tế (UN 2000).
Đề tài nghiên cứu Khoa học: “XÂY DỰNG VÀ THỬ NGHIỆM ÁP DỤNG CHỈ SỐ XẾP HẠNG BỀN VỮNG MÔI
TRƯỜNG ĐỐI VỚI CÁC ĐỊA PHƯƠNG VÀ NGÀNH NGHỀ 22
Một số MDGs đã thiết lập được những phương pháp đo hiệu quả hỗ trợ
cho việc đạt được những mục tiêu này. Mục tiêu số 7 của MDGs là “Đảm bảo
môi trường bền vững”, tuy nhiên lại không có các chỉ số cần thiết để đo tiến độ
thực hiện mục tiêu đầy tham vọng này do thiếu một bộ các số liệu phù hợp. Chỉ
số ESI s
ẽ là bước khởi đầu trong việc phát triển một bộ các phép đo như thế.
Nói tóm lại, ESI - với chủ đề nổi bật là đưa ra sự xếp hạng tương đối giữa
các quốc gia - sẽ cung cấp một cơ chế cho việc thành lập nội dung và làm rõ hơn
điều gì là cần thiết và có thể cho một chính sách.
Những nhà hoạch định chính sách đang rất nóng lòng chờ đợi những công
cụ
mà có thể giúp họ tìm ra những vấn đề, nắm bắt những xu hướng, thiết lập
những ưu tiên, hiểu được các chính sách thoả hiệp, sự phối hợp, đầu tư môi
trường theo định hướng, đánh giá các chương trình và tập trung vào những giới
hạn chính trị. Chỉ số ESI chính là một công cụ đáp ứng được những yêu cầu đó.
3.2. Phương pháp tiếp cận của đại học Yale
Lý tưởng nhất, khi phép đo độ bền vững môi trường bao gồm phạm vi đầy
đủ các vấn đề để cho phép đánh giá tổng hợp về tình trạng môi trường của từng
quốc gia. Nội dung trong phần này sẽ đề cập vấn đề: thế nào là một chỉ số ESI
hoàn chỉnh? (theo quan điểm của các tác giả thuộc Đại học Yale) và những khó
khăn, cản trở nhằm
đạt đến sự hoàn thiện trong thu thập số liệu và tính toán.
t, rất ít nước báo cáo về
chất lượng nước cho các cơ quan quốc tế. Thứ hai, rất khó để thực hiện so
sánh số liệu giữa các quốc gia bởi vì sự khác nhau trong việc áp dụng các
phương pháp đo. Một số lưu vực sông có độ đục tự nhiên; một số khác lại
không. Độ đục cao trong loại sông thứ nhất (loại sông có độ đục tự nhiên)
thì lại không phải là một d
ấu hiệu cho thấy sự ô nhiễm, trong khi đó, nếu
độ đục cao ở loại sông thứ hai thì có thể được xem là một dấu hiệu của sự
ô nhiễm.
• Chất lượng không khí: gồm số liệu đo về các chất ô nhiễm như SO
2
, NOx,
TSP, O
3
và các chất hữu cơ bay hơi (VOCs) và ôzôn. Một số nước thu
thập các số liệu đo này bằng các phương pháp mang tính so sánh và cũng
chỉ có một vài số liệu báo cáo về các chất này ở khu đô thị. Thậm chí, một
trong những hình thức ô nhiễm không khí nghiêm trọng và phát tán rộng
nhất - nồng độ các chất ô nhiễm trong nhà từ việc đốt cháy nhiên liệu
trong các hộ gia đình – lại không được đo.
• Cảnh quan: bao gồm các s
ố liệu đo về sự đô thị hóa, tình trạng phá rừng,
sự luân canh trong nông nghiệp và sự biến đổi về địa lý, địa mạo. Trong
tất cả những yếu tố này, tình trạng suy giảm rừng nhận được sự quan tâm
nhiều nhất.
• Đa dạng sinh học: gồm có các số liệu đo về cả sự đa dạng về gen và số
lượng cũng như
sự bảo tồn các loài thực vật quý hiếm và sự bảo toàn của
hệ sinh thái. Có rất ít số liệu về các yếu tố này có khả năng so sánh giữa
các quốc gia.
người đối với hệ sinh thái nước ngọt, mặt đất và biển. Có một vài số liệu
đo mang tính so sánh có thể được tính đến trong phạm vi này. Châu Âu đã
phát triển một hệ thống rất hiệu quả để quan trắc phạm vi bị axit hóa của
hệ sinh thái đất và nước; cũng có nhiều nỗ lực toàn cầu trong việc lượng
hóa tình trạng suy giảm rừng. Những nỗ lực tương tự
như vậy đối với việc
lượng hóa sự can thiệp đối với thủy quyển hay còn gọi là môi trường nước
(gồm cả nước biển và ven biển) lại không có.
• Chất thải và tiêu thụ: gồm các số liệu đo về tổng lượng chất thải rắn,
lượng rác thải chôn lấp, tổng lượng rác thải nguy hại, việc xứ lý rác thải
không an toàn và sự tiêu thụ nguồ
n tài nguyên so với khả năng cung cấp.
Hiện tại không hề có các số liệu đo phù hợp và có tính so sánh về những
chỉ số này, mặc dù công trình nghiên cứu về những vấn đề này mang tên
“The Ecological Foot-print Index” (Chỉ số Dấu vết sinh thái) do
“Wackernagel and colleagues” xây dựng đã đưa ra một khả năng có thể
lượng hóa sự tiêu thụ nguồn tài nguyên một cách hiệu quả hơn trước rất
nhiều.
• Phát thải các chất độ
c hại, chất gây ung thư, các chất phá hủy tuyến nội
tiết và các hóa chất khác, được gọi các chất thải nguy hại. Hiện nay chưa