Lời nói đầu
Lênin từng nói: Không có thị trờng bên ngoài thì một số nớc t bản
chủ nghĩa không thể sống đợc. Nh vậy, vấn đề thị trờng là một vấn đề quan
trọng để phát triển sản xuất - kinh doanh và để phát triển nền kinh tế.
Thực tế cũng cho thấy, không một quốc gia nào thực hiện đợc mục
tiêu đầy tham vọng là độc lập kinh tế và xây dựng hoàn chỉnh nền kinh tế tự
cung, tự cấp để tránh sự lệ thuộc vào bên ngoài. Bởi vì, không có một quốc
gia nào dù là giàu mạnh đến đâu lại xây dựng một nền kinh tế vô cùng tốn
kém về cả vật chất và thời gian nh vậy.
Xu hớng phát triển của nhiều nớc trong những năm gần đây là thay đổi
chiến lợc từ đóng cửa sang mở cửa từ thay thế nhập khẩu sang hớng về xuất
khẩu.
ở Việt Nam , xuất khẩu có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự
nghiệp phát triển kinh tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Việc mở rộng xuất
khẩu là phơng tiện thúc đẩy cho sự phát triển kinh tế nhằm tăng nguồn thu
ngoại tệ để tạo tiền đề cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, vật chất, kỹ thuật cho
nền kinh tế, khuyến khích sản xuất trong nớc từ đó giúp cho nền kinh tế có sự
tăng trởng nhanh chóng và hiệu quả trong quá trình thực hiện công nghiệp
hoá - hiện đại hoá đất nớc.
Để khắc phục các nguy cơ tụt hậu về kinh tế và thực hiện mục tiêu
phát triển kinh tế xã hội, ngay từ Đại hội Đảng VI, Đảng ta đã khẳng định
xuất khẩu là một trong ba chơng trình cốt lõi của nhiệm vụ kinh tế xã hội....
không những có ý nghĩa sống còn đối với tình hình trớc mắt mà còn là điều
kiện ban đầu không thể thiếu để triển khai công nghiệp hoá xã hội chủ
nghĩa và trong Đại hội Đảng VIII đã khuyến khích và nhất quán thực hiện
Chiến lợc hớng về xuất khẩu từ nay đếna năm 2005. Để góp phần làm sáng
tỏ vấn đề và nhằm cung cấp những yếu tố chung nhất, nổi bật nhất đồng thời
cố gắng tiếp cận vấn đề một cách toàn diện tôi đã lựa chọn đề tài: Chiến l ợc
hớng về xuất khẩu của Việt Nam từ nay đến năm 2005
Đây là một đề tài rất rộng và có nhiều vấn đề rất phức tạp, do khả
năng có hạn nên không tránh khỏi những sai sót. Kính mong đợc sự góp ý
Thứ nhất: việc sản xuất là nhằm tiêu dùng trong nớc các nhà sản xuất
không đợc tiếp xúc với thị trờng bên ngoài nên việc nâng coa trình độ tay
nghề cho công nhân cũng nh cải tiến kỹ thuật, công nghệ và công tác quản lý
không đợc quan tâm, chú trọng. Do đó, cả quy mô lẫn trình độ sản xuất
không có động lực để mở rộng và phát triển.
Thứ hai: chiến lợc thay thế nhập khẩu chỉ chú trọng tới đầu t chiều
rộng mà không quan tâm tới chiều sâu. Tức là chỉ quan tâm mở rộng quy mô
mà không chú trọng tới một ngành nghề cụ thể. Do vậy, không tập trung đợc
nhân tài và vật lực vào những ngành nghề mà trong nớc có điều kiện phát huy
lợi thế. Thị trờng trong nớc đã dần trở nên chật hẹp so với khả năng sản xuất.
Thứ ba: mục tiêu thay thế hàng nhập khẩu bằng bất cứ giá nào nhằm
hạn chế nhập khẩu, tiết kiệm ngoại tệ đã dẫn tới tình trạng lãng phis lao
động sống và lao động vật hoá. Do đó, nếu tính ra chi phí sản xuất trong nớc
sẽ tốn kém rất nhiều khi thực hiện nhập khẩu.
Thứ t: việc lập hàng rào bảo hộ và thực hiện các chính sách trợ giúp
cho các doanh nghiệp sản xuất đã dẫn tới tình trạng ỷ lại, chờ đợi và dẫn tới
độc quyền trong buôn bán.
Thứ năm: với chính sách này, hàng hoá trong nớc khó có thể cạnh
tranh với hàng hoá bên ngoài nên nguồn thu ngoại tệ ngày một giảm làm ảnh
hởng tới nhu cầu về ngoại tệ để thực hiện công nghiệp hoá.
Với những nhợc điểm và hạn chế nh vậy đã đặt ra cho các nớc một câu
hỏi liệu chính sách này có phù hợp không? Chính sách mới phải đợc xây
dựng nh thế nào và họ đã tìm ra một chiến lợc mới phù hợp hơn với sự nghiệp
công nghiệp hoá của mình. Đó là chiến lợc hớng về xuất khẩu.
1.2. Chiến lợc hớng về xuất khẩu
Ngày nay, các nớc tham gia một cách tích cực vào quá trình phân công
lao động quốc tế và tham gia vào hoạt động thơng mại quốc tế. Nhng với các
nớc đang phát triển và kém phát triển gặp phải một số vấn đề khó khăn lớn
là:
+ Trình độ kinh tế - kỹ thuật thấp kém
triển các ngành chế biến giảm tỷ trọng hàng thô trong cơ cấu xuất khẩu. Và
khi nền kinh tế phát triển đến một giai đoạn (thời kỳ) nhất định đất nớc sẽ
chuyển sang thành một nớc công nghiệp hiện đại với sự chiếm u thế của các
ngành đòi hỏi hàm lợng kỹ thuật cao, đầu t nhiều chất xám.
Để thực hiện đợc chiến lợc này thì Nhà nớc phải có những chính sách
vĩ mô chủ yếu.
+ Chính sách về ngoại hối: Lựa chọn cho mình nên áp dụng chính sách
đa tỷ giá hay đơn tỷ giá? Thực hiện việc áp dụng tỷ giá cố định hay tỷ giá thả
hồi? Để sao cho hàng hoá trong nớc có tính cạnh tranh hơn so với các nớc
khác cùng điều kiện.
+ Chính sách về tài chính, tín dụng: Nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp
tham gia vào hoạt động xuất khẩu và để hạn chế các rủi ro doanh nghiệp có
thể gặp phải.
+ Chính sách khuyến khích và bảo hộ đầu t nớc ngoài, bằng việc Nhà
nớc thể chế hoá trong Luật đầu t nớc ngoài.
+ Xây dựng lên các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu kỹ thuật cao
nhằm mục tiêu xuất khẩu và thu hút đợc vốn, kỹ thuật và cung cách quản lý
hiện đại.
+ Ngoài ra, Nhà nớc còn giúp các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu
về đào tạo, về khuyếch trơng sản phẩm....
Chiến lợc này đã đem lại tốc độ tăng trởng nhanh và ổn định cho nền
kinh tế, giúp cho việc nâng cao địa vị kinh tế của quốc gia trên trờng quốc tế.
Do đó, nó có sức hấp dẫn cao đối với các nớc đang và kém phát triển trong
đó có Việt Nam trong việc áp dụng.
2. Mục tiêu của chiến lợc hớng về xuất khẩu
Công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu là nhằm thực hiện một mục tiêu
quan trọng đó là quá trình chuyển dịch nền kinh tế từ cơ cấu nông nghiệp
sang cơ cấu công nghiệp , từ công nghiệp chế biến dựa trên lao động thủ
công là chủ yếu đến công nghiệp chế tạo dựa trên yêu cầu về vốn cao, kỹ
thuật hiện đại.
Đã từ lâu Đảng ta đã xác định muốn đa đất nớc tiến lên thì phải thực
hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc. Sự nghiệp công nghiệp hoá của
nớc ta vẫn còn trong tình trạng nghèo nàn, lạc hậu. Trong khi đó các nớc
trong khu vực nh Thái Lan, Mailaixia, Singapore... và một số nớc Đông á
khác nh Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc.... đã và đang đạt đợc một sự phát
triển liên tục với mức tăng trởng cao và ổn định (Trong số này đặc biệt phải
kể tới Trung Quốc). Điều này cho thấy nếu cứ duy trì mãi chính sách, công
cụ... cũ thì nguy cơ tụt hậy so với các nớc là không thể tránh khỏi.
Để không tụt hậu thì nền kinh tế Việt Nam phải có một mức tăng trởng
thuộc loại cao nhất, liên tục trong một khoảng thời gian tơng đối dài. Nói
cách khác nền kinh tế Việt Nam phải tạo ra sự tăng trởng thần kỳ mới hơn
cả sự thần kỳ mà các nớc Đông á đã làm đợc trong 3 - 4 thập niên trớc
đây.
Từ thực tiễn hiện nay cho thấy, muốn tăng trởng nhanh và lâu bền cần
phải quan tâm tới lĩnh vực xuất khẩu mà cụ thể là tạo ra sự tăng trởng xuất
khẩu. Nhng không phải bất cứ sản phẩm xuất khẩu nào cũng đợc mà các sản
phẩm xuất khẩu ở đây phải là các sản phẩm chế tạo, các sản phẩm đòi hỏi
đầu t nhiều chất xám. Nhng ta cũng phải căn cứ vào tình hình thực tại của đất
nớc để từ đó xây dựng nên một chiến lợc sao cho phù hợp. Với các nớc Đông
á, tình hình thế giới lúc đó đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho họ trong việc
nhận đợc nguồn vốn từ Mỹ - nớc muốn lôi kéo về bên mình các đồng minh
để tạo ra cục diện thế giới nh ý muốn của Mỹ. Đồng thời, các nớc Đông á đ-
ợc Mỹ bảo đảm về quốc phòng và an ninh, do đó các nớc này chỉ tập trung
vào một việc duy nhất là đầu t phát triển kinh tế.
Trong khi vào giai đoạn hiện nay, củng cố quốc phòng và an ninh xây
dựng kinh tế, vừa phải dựa vào bản thân là chính. Chính vì vậy, lựa chọn đ-
ờng lối, chiến lợc để đạt đợc những tăng trởng cho nền kinh tế Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay phải làm sao cho phù hợp. Hay nói cách khác phải
dựa vào tính quy luật, tức là phải xem xét tới yêu cầu và khả năng thực hiện,
cụ thể là:
lao động Việt Nam rất cần cù, có tinh thần vợt khó, thông minh sáng tạo, có
khả năng nắm bắt khoa học - kỹ thuật hiện đại cộng với giá rẻ đã tạo nên một
lợi thế lớn so với các nớc.
b. Về tài nguyên:
Tài nguyên của nớc ta đa dạng, phong phú nhiều chủng loại; khí hậu
rất thuận lợi cho việc tạo ra các nguồn năng lợng phục vụ cho sản xuất và đời
sống nhân dân. Ta có thể nói rằng tài nguyên thiên nhiên cũng là một thế
mạnh của Việt Nam cần đợc khai thác và phát huy.
c. Về địa lý:
Việt Nam có vị trí thuận lợi, là cầu nối của nhiều nút giao thông về
hàng hải cũng nh hàng không quốc tế. Hệ thống giao thông đờng bộ cũng
đang dần đợc xây dựng và cải tạo để nâng cao vai trò và vị thế quan trọng của
Việt Nam trong các tuyến giao thông quốc tế.
d. Về chuyển giao công nghệ:
Với việc kiện toàn Luật đầu t nớc ngoài, Việt Nam đã và đang thi
hành các chính sách nhằm thu hút vốn, công nghệ, khoa học - kỹ thuật, ph-
ơng thức quản lý... của các nớc t bản phát triển để từ đó nâng cao nền sản
xuất trong nớc, tạo ra sự cạnh tranh cho các sản phẩm của mình trên trờng
quốc tế. Từ chỗ các sản phẩm máy móc, thiết bị phải nhập khẩu hoàn toàn thì
cho tới nay Việt Nam có thể sản xuất các sản phẩm cho riêng mình và đang
mở rộng thị trờng tới các nớc (tivi, thiết bị điện tử...).
Ngoài ra, ta còn phải kể đến các thuận lợi về tình hình kinh tế, chính
trị, xã hội, các chủ trơng chính sách của Đảng. Tình hình chính trị của Việt
Nam tơng đối ổn định đã tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế - xã hội cộng
với chính sách mở cửa nền kinh tế, Việt Nam đã tham gia vào nhiều tổ chức
kinh tế - xã hội của khu vực và trên thế giới với mong muốn làm bạn với các
nớc đã tạo ra một thị trờng rộng khắp cho các doanh nghiệp trong nớc có cơ
hội xâm nhập và khẳng định chỗ đứng của mình.
2.2. Thách thức
Trên con đờng đa nền kinh tế nớc ta đạt tới sự tăng trởng mạnh mẽ và
Trong giai đoạn hiện nay, khi mà nền kinh tế của các nớc đang có sự
chững lại, cầu thị trờng đang dần ổn định trong khoi đó cung thị trờng tiếp
thị tăng đã dẫn tới sự d thừa các sản phẩm sản xuất ra. Nh vậy, các nhà đầu
t có xu hớng thu hồi lại vốn đầu t hoặc họ xoá bỏ các dự án đầu t vì họ không
thu đợc nhiều lợi nhuận từ việc đầu t. Điều này đã dẫn tới sự khan hiếm về
vốn ở các nớc đang phát triển vì họ rất cần vốn lớn để xây dựng cơ sở hạ
tầng, đầu t cho công nghệ, thực hiện các phúc lợi... và Việt Nam cũng không
nằm ngoài tác động này.
Trên đây là một số thách thức mà khi xây dựng ra một chiến lợc cụ thể
chúng ta cần phải tính đến để chúng ta có thể hạn chế tới mức thấp nhất đến
để chúng ta có thể hạn chế tới mức thấp nhất những ảnh hởng cuả các yếu tố
này tới hiệu quả của chiến lợc.
3. Kinh nghiệm của các nớc đi trớc
Việc xem xét kinh nghiệm của các nớc đi trớc là cần thiết để từ đó ta
có thể rút ra cho mình một cách đi phù hợp và đúng đắn nhất. ở đây xem xét
việc thực hiện chiến lợc công nghiệp hoá của một số nớc mà đã thu đợc các
thành công lớn.
a. Kinh nghiệm của Nhật Bản
Sau chiến tranh, số lợng thất nghiệp ở Nhật Bản tăng lên một cách
nhanh chóng. Để thu hút hết số lao động thất nghiệp này, Chính phủ Nhật
Bản đã phát triển một cơ cấu công nghiệp với công nghiệp nặng về hoá chất
có đặc điểm hớng vào xuất khẩu và cần nhiều lao động làm chủ đạo, Chính
phủ Nhật tiến hành hỗ trợ bằng các khoản tín dụng u đãi và các dịch vụ hỗ
trợ đặc biệt, Chính phủ cũng chú trọng vào plt các xí nghiệp vừa và nhỏ.
b. Kinh nghiệm của Hàn Quốc