MỤC LỤC
Mục lục 1
Mở đầu 2
Chương 1: Cơ sở lý luận – xã hội hình thành quan điểm "dân bản" của Mạnh Tử 5
1.1. Sơ lược tiểu sử Mạnh Tử 5
1.2. Cơ sở lý luận – xã hội của quan điểm "dân bản" 6
1.2.1. Cơ sở lý luận 6
1.2.2. Điều kiện chính trị - xã hội 8
Chương 2: Quan điểm "dân bản" của Mạnh Tử 11
2.1. Nội dung quan điểm "dân bản" 11
2.2. Từ "dân bản" của Mạnh Tử đến quan điểm lấy dân làm gốc của Hồ Chí Minh 18
Kết luận: 23
Tài liệu tham khảo 25
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nho giáo là một trong những hệ thống triết học có ảnh hưởng lớn
đến tư tưởng cũng như đời sống tinh thần, đời sống chính trị - xã hội Việt
Nam. Mạnh Tử là một trong ba đại nho thời Xuân Thu - Chiến Quốc, ông
là người có nhiều quan điểm khá tiến bộ và tích cực trong hệ thống triết
học Nho giáo. Tìm hiểu quan điểm “dân bản” của ông trên tinh thần ôn cố
tri tân là một trong những cách tiếp cận lịch sử triết học mà chúng ta cần
quan tâm tìm hiểu và nghiên cứu.
Hơn nữa, trên phương diện giá trị, dân chủ với ý nghĩa mong muốn
mang đến tự do, bình đẳng, bác ái cho con người là một trong những giá trị
không những có ý nghĩa với riêng một dân tộc nào mà nó còn mang tính
nhân loại phổ quát, cho nên có thể nói, dân chủ là giá trị mà nhân loại luôn
muốn vươn tới ở mọi thời đại. Riêng ở Việt Nam, ngay từ thời đại của
Nguyễn Trãi, của Hồ Chí Minh đã sớm quan tâm đến dân chủ. Ngày nay,
trong Đại hội IX, phạm trù “dân chủ” đã được Đảng ta chính thức đưa vào
mục tiêu phấn đấu của đất nước trong thời kỳ mới. Để xây dựng một đất
Ngoài phần mở đầu, mục lục và tài liệu tham khảo đề tài gồm có hai
phần chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận – xã hội hình thành quan điểm “dân bản”
của Mạnh Tử.
Chương 2: Quan điểm “dân bản” của Mạnh Tử và sự kế thừa nó
trong thời đại Hồ Chí Minh.
4
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN – XÃ HỘI HÌNH THÀNH QUAN ĐIỂM
“DÂN BẢN ” CỦA MẠNH TỬ
1.1. Sơ lược tiểu sử Mạnh Tử
Mạnh Tử ( 327 – 289 tr CN) là nhà tư tưởng nổi tiếng thời cổ đại của
Trung Quốc, là nhân vật tiêu biểu của Nho gia sau thời Khổng Tử, ông
được xem là người kế thừa chính đối với tư tưởng của Khổng Tử, nên
người đời sau ghép tên hai ông lại và gọi là Nho giáo Khổng - Mạnh. Mạnh
Tử tên thật là Mạnh Kha, tự là Tử Dư, người đất Châu, thuộc miền Nam
tỉnh Sơn Đông ngày nay, ( được người đời sau tôn vinh gọi là Mạnh Tử),
cha là Khích Công Nghi, mẹ là Cừu Thị. Mạnh Tử vừa lên ba tuổi thì cha
chết. Cừu Thị được người đời sau ca tụng là người mẹ rất quan tâm đến
môi trường nuôi dạy con cái, bà đã nuôi dưỡng và giáo dục lễ nghĩa cho
con rất chặt chẽ. Sách “Liệt nữ”có ghi lại rằng lúc Mạnh Tử còn nhỏ, vì
nhà ở gần nghĩa địa, Mạnh Tử hay vào nghĩa địa chơi, ông hay rủ bạn cùng
chơi trò tống táng, bà mẹ không yên tâm, bà dời đến chỗ ở mới, lần này vì
nhà gần phố xá, chợ búa, bà lại thấy con hay chơi rao hàng, bưng bánh, bán
thịt, bà lại không yên tâm, để tránh con bị ảnh hưởng bà lại tiếp tục dọn
nhà đến chỗ khác, lần này nhà ở gần trường học, bà rất vui mừng khi thấy
lúc này con hay bày trò chơi học theo lễ nhạc, khi đó bà mới thực sự yên
tâm về nơi ở mới của gia đình và định cư tại đó. Khi lớn lên Mạnh Kha
theo học một đệ tử của Tử Tư, tên là Khổng Cấp, là cháu nội của Khổng
Tử, cho nên có thể nói Mạnh Tử là người theo phái Nho gia của Tăng Tử,
6
chí thiện, chỉ cần học tập, tồn tâm dưỡng tính, sửa mình theo Nhân, Nghĩa,
Lễ, Trí, Tín thì có thể trở thành người chí nhân, chí thiện.
Xuất phát từ quan điểm của Khổng Tử “nhân chi sơ tính dĩ trực”, từ
các quan niệm về nhân, lễ , trí… Mạnh Tử phát triển thành “nhân chi sơ
tính bản thiện”. Sự tiến bộ của Mạnh Tử là ở chỗ ông đã phát triển quan
điểm của Khổng Tử theo một khuynh hướng mới. Theo đó, cả Khổng Tử
và Mạnh Tử đều cho rằng tòan bộ những tố chất này đã có sẵn trong tâm
của mỗi người, vì vậy con người chỉ cần soi rọi trong tâm là biết tất cả.
Đây là phương pháp phản tỉnh nội tâm, là một trong những lý do để Mạnh
Tử xây dựng học thuyết tính thiện, cơ sở lý luận của quan điểm “dân bản”,
chế độ “bảo dân” với chủ trương giáo huấn nội tâm để đưa con người quay
về với bản tính vốn thiện của mình.
Có thể nói đối với Mạnh Tử, quan niệm về bản tính con người, được
kết tinh trong học thuyết tính thiện của ông. Mạnh Tử cho rằng bản tính
của con người vốn thiện, điều đó bắt nguồn từ tứ đoan, bốn đầu mối nằm
sẵn trong tâm của mỗi người là lòng trắc ẩn, tu ố, từ nhượng và thị phi.
Trong người ta ai cũng có lòng thương người: không có lòng trắc ẩn
(không thương xót), không phải là người, không có lòng tu ố (không thẹn
ghét), không phải là người, không có lòng từ nhượng (lòng cung kính),
không phải là người, không có lòng thị phi (phân biệt phải trái), không phải
là người. Lòng trắc ẩn là đầu mối của Nhân, lòng tu ố là đầu mối của
Nghĩa, lòng từ nhượng là đầu mối của Lễ, lòng thị phi là đầu mối của Trí.
Bốn đức đó quan trọng như mầm cây của hạt giống, như tứ chi của con
người vậy. Con người sở dĩ bất thiện là do hòan cảnh tác động, do tự mỗi
con người không có sự phản tỉnh nội tâm, không rèn luyện được, không tự
giữ được mình. Như vậy con người sinh ra là bình đẳng như nhau, đều
7
thiện như nhau. Cho nên trong các học thuyết về chính trị - xã hội, để đảm
bảo trật tự xã hội ổn định thì tốt nhất là nên thực hiện chính sách dùng
cũng là thời kỳ quá độ giữa hai chế độ (chế độ nô lệ suy tàn và sơ kỳ của
chế độ phong kiến), lúc này, tông pháp nhà Chu không còn, đạo lý, nhân
luân đảo lộn, còn chế độ phong kiến thì mới manh nha, chiến tranh giành
đất đai, dân cư, ngôi bá chủ diễn ra liên miên theo xu hướng ngày càng gay
gắt và quyết liệt, những cuộc viễn chinh, thôn tính lẫn nhau làm số phận
của các nước nhỏ và số phận của thần dân các nước trở nên chông chênh,
cơ cực, làm nảy sinh một loạt các vấn đề hết sức cấp thiết trong trên lĩnh
vực chính trị - xã hội như nhu cầu về phương pháp, chính sách nhằm “tề
gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Chính trong sự giao thời, lịch sử xã hội biến
chuyển sôi động giữa hai chế độ đó đã đặt ra những câu hỏi lớn và nhiệm
vụ lịch sử mới cho các nhà lãnh đạo cũng như những nhà tư tưởng trong xã
hội: làm thế nào cho thiên hạ từ lọan thành trị, và làm sao để đẩy xã hội
tiến lên, do vậy các nhà tư tưởng cùng với nhà vua, luôn quan tâm tìm
kiếm và xây dựng những cách thức và phương pháp trị nước, “bình thiên
hạ” sao cho hiệu quả nhất. Đây cũng là một trong những lý do làm cho
triết học Trung Hoa, đặc biệt là thời kỳ này có xu hướng thiên về triết học
đạo đức, triết học chính trị, làm xuất hiện nhiều trường phái triết học lớn,
nhiều nhà tư tưởng lớn và họ tranh luận với nhau hết sức quyết liệt, tạo nên
không khí sôi động trong đời sống tinh thần của xã hội Trung Hoa cổ đại
mà người đời sau gọi đây là thời kỳ “bách gia chư tử” hoặc là thời kỳ
“bách gia tranh minh”.
9
Tư tưởng của những triết gia thời kỳ này không chỉ nổi tiếng đương
thời mà cái bóng của họ còn bao trùm xã hội ở nhiều thời kỳ, nhiều quốc
gia lân cận trong đó có Việt Nam.
Các trường phái triết học phát triển rất phong phú, đa dạng và khá
sâu sắc, họ đã tìm ra nhiều cách trị nước khác nhau: nhân trị, pháp trị, lễ
trị… và quan điểm của Nho giáo Khổng - Mạnh chủ trương theo “nhân
trị”, quan điểm “ dân bản” của Mạnh Tử cũng xuất phát từ tinh thần của
thời đại ấy.
như tấm lòng mình. Vua xem bề tôi như chó ngựa, thì bề tôi xem vua như
người dưng trong nước. Vua xem bề tôi như đất như cỏ thì bề tôi coi vua
như giặt thù…vì vậy phải biết quan tâm đến nhân dân. Trên cơ sở quan
điểm đó, Mạnh Tử có lời khuyên đối với các bậc vua chúa là: Người ưa sắc
11
đẹp không hại, ưa thích của cải nhiều cũng không hại, ưa thích ruộng đất,
đi săn bắn cũng không hại, ưa thích âm nhạc, du ngoạn cũng không hại.
Nhưng trong lúc ưa thích sắc đẹp, ngài nên nhớ trong nước đang còn cảnh
vợ chồng phân ly; trong lúc ưa thích của cải nhiều, ngài nên nhớ rằng trong
nước đang còn cảnh lầm than đói rét; trong lúc ngài xua quân đi săn bắn
ngài nên nhớ rằng đang còn cảnh cha con anh em, vợ chồng chia ly, đau
khổ. Nói tóm lại, ngài nên suy xét chín chắn việc làm của ngài. Nghĩa là
cần phải quan tâm đến việc chính trị, trị nước chăn dân như thế nào để luôn
đảm bảo trong nước gia đình no ấm hòa thuận, hạnh phúc sum vầy, ấy mới
là ông vua tốt. Nghĩa là lấy sự yên bình của muôn dân làm tiêu chí để đánh
giá về sự thống trị của chế độ và sự anh minh sáng suốt của vua, nghĩa là
một ông vua tốt thì phải lo trước cái lo của dân và vui sau cái vui của dân.
Coi dân là của báu của quốc gia, nên trong khi thực hành các chính
sách, bậc vua chúa phải coi trọng nhân dân, tôn trọng dân chúng, đồng thời
cũng phải luôn giữ mình khiêm cung, sinh họat tiết kiệm, gia huệ với bề
tôi. Có như thế thì mới đảm bảo tạo được sự an lành cho dân chúng, có như
thế thì vua mới chiếm được lòng tin và kính trọng của nhân dân.
Với quan điểm “dân bản”, xem nhân nhân dân là gốc của nước,
Mạnh Tử chủ trương trong việc chính trị, vua phải lấy điều nhân nghĩa làm
gốc, một ông vua trị nước mà không dựa vào nhân nghĩa, không biết xem
trọng, chăm lo cho dân, chỉ vui thú hưởng lợi lộc riêng, sống tà dâm, bạo
ngược, để dân lầm than, đó khổ, thì đó là ông vua bất nhân, là “bá đạo” chứ
không phải là “vương đạo”.
Chế độ chính trị theo quan điểm "dân bản" tốt nhất theo Mạnh Tử là
chế độ thực hành chính trị theo nhân trị, trong đó ngôi thiên tử phải thuộc
Tuy quan điểm của Mạnh Tử ít nhiều còn chịu chi phối bởi lợi ích
của giai cấp quý tộc đương thời, nhưng nó là tấm gương phản ánh khá rõ
nét thực trạng xã hội, xu thế thời đại, cuộc sống khắc khoải và ước vọng
sâu xa của quần chúng nhân dân lao động Trung Hoa trong thời kỳ Xuân
Thu - Chiến Quốc đầy biến động.
Thứ hai, chế độ “bảo dân”.
Trước hết, một ông vua tốt thì phải biết quan tâm, chăm lo đời sống
kinh tế của nhân dân, đảm bảo cho dân ấm no, hạnh phúc. Mạnh Tử chủ
trương thực hiện chế độ “hằng sản” “hằng tâm”, cải cách kinh tế, thi hành
chế độ điền địa và thuế khóa công bằng nhằm mục đích cuối cùng là cải
thiện và nâng cao đời sống nhân dân.
Mạnh Tử khuyên các bậc vua chúa: Ngài vui cái vui của dân thì dân
cũng vui cái vui của mình, ngài lo cái lo của dân thì dân cũng lo cái lo của
mình, vì thiên hạ mà vui, vì thiên hạ mà lo, thế thì sẽ được làm vưong trong
thiên hạ vậy.
Trong chế độ bảo dân, trước hết phải thực hiện chế độ "hằng sản"
"hằng tâm", để chăm lo đời sống của dân phải dựa vào việc thực hành phép
chính trị nhân đức đối với dân. Vua nhân từ, đức độ và anh minh trước hết
phải lo cho dân có sản ngiệp riêng. Sở dĩ Mạnh Tử chủ trương thực hiện
chính sách "hằng sản" "hằng tâm", vì theo lý luận của ông thì, trong cuộc
sống, chỉ khi con người có được vật chất đầy đủ thì họ mới có đạo đức luân
lý (đây là quan điểm duy vật khá tiến bộ). Cho nên theo đó, Mạnh Tử cho
rằng: nói đạo đức, khuyến khích tinh thần mà không quan tâm đến đời sống
vật chất thì là vô nghĩa và thiếu cơ sở.
14
Tinh thần của quan điểm "hằng sản" "hằng tâm" là chỉ khi nhà vua
xây dựng được đời sống ấm no cho nhân dân thì mới mong có được những
thần dân tốt, vì người không no đủ thì dễ sinh ra gian tà, từ đó Mạnh Tử
cho rằng: Thánh nhân cai trị thiên hạ phải làm cho dân có đậu thóc cũng
nhiều như nước lửa, khi đậu thóc cũng nhiều như nước lửa thì dân chẳng
cung tự cấp khá hiệu quả. Theo ông, với mô hình đó, nếu nhân dân siêng
năng, chăm chỉ thì không thể đói khát, thiếu ăn mà ngược laị sẽ ngày càng
có đời sống ấm no, sung túc, từ đó xây dựng được nền kinh tế của đất nước
cũng phồn thịnh.
Thứ ba, trong chế độ bảo dân, ngoài việc chăm lo đời sống cho nhân
dân còn phải tiến hành giáo hoá dân, đó cũng là một trong những nhiệm vụ
trọng yếu của phép trị nước.
Theo Mạnh Tử, cần phải quay laị thời kỳ nhà Chu, mở các tường tự,
hiệu, học, là hệ thống các trường học từ làng xã đến kinh đô để dạy cho
nhân dân về moị mặt. Trong đó, tường là trường daỵ cho dân ở trình độ sơ
đẳng nhất về đaọ lý, phong tục, về sự kính nhường và phụng sự người già
cả. Tự là trường dạy cho dân về võ nghệ, về phép bắn cung, rèn luyện sức
khoẻ, thể lực. Hiệu là trường daỵ cho dân về các vấn đề phong hóa, đaọ
đức, nhân luân. Còn học là trường quốc học, ở taị kinh đô, là cấp độ đaò
taọ có quy mô lớn nhất trong cả nước. Thực ra ở tất cả các trường, xuyên
suốt mọi bậc học, người ta đều daỵ cho dân về đạo lý nhân luân, bởi theo
Mạnh Tử, để bảo tồn và phát triển tâm tính của con người thì luôn cần
phải có sự rèn luyện, giáo dục đạo lý cho con người. Trong giáo dục đạo
16
lý, nhân nghĩa thì phải có những tiêu chuẩn, và chuẩn mực ấy không có gì
khác hơn là đức độ, đạo lý của thánh hiền gọi là “pháp tiên vương”,
Ở lĩnh vực này Mạnh Tử đã từng rút ra kết luận, trong sách Mạnh
Tử, ông viết: chính trị hay thì dân sợ mà tuân theo, giáo hoá hay thì dân
yêu mà kính phục. Chính trị hay thì được của dân, giáo hoá hay thì được
lòng dân.
Thực ra trong quan điểm về giaó hoá dân vẫn cò chịu ảnh hưởng của
sự phân chia giai cấp. Xuất phát từ trong quan điểm chính trị - xã hội,
Mạnh Tử chgo rằng trong xã hội chia ra thành hai hạng người: những
người lao tâm và những người lao lực. Hạng người thứ nhất là quý tộc, vua
chúa, lo việc trị dân và sống dựa vào sức lao động của dân. Hạng người lao
Trên cơ sở chung là xem trọng dân, điểm gặp nhau của Mạnh Tử và
Hồ Chí Minh là lấy dân làm gốc, chăm lo đời sống cho dân, là dạy cho dân
biết, mở mang tri thức cho nhân dân, là giáo hoá dân, là chống chiến tranh,
chống giặc đói, giặc dốt, đem lại đời sống tự do, ấm no và hạnh phúc cho
dân.
Sở dĩ tác giả nói “điểm gặp nhau” của Mạnh Tử và Hồ Chí Minh,
bởi ở đây mang hai khả năng, cũng có thể là một sự gặp nhau ngẫu nhiên
của hai nhà tư tưởng nhân văn, biết lấy dân làm của báu của một quốc gia
dân tộc; hoặc cũng có thể quan điểm lấy dân làm gốc của Hồ Chí Minh sau
này có tiếp thu trên tinh thần lọc bỏ biện chứng, có cải biến đối với quan
điểm "dân bản" của Mạnh Tử. Tác giả thiên về khả năng thứ hai hơn bởi lẽ,
chúng ta đều biết rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh của tinh hoa
18
văn hoá nhân loại từ cổ chí kim, từ đông sang tây là điều không thể phủ
nhận. Nhưng cần đặc biệt lưu ý rằng Hồ Chí Minh là một người Việt Nam
(quốc gia chịu ảnh hưởng sâu rộng của Nho giáo), bản thân Hồ Chí Minh
lại là một người rất giỏi Nho học, cho nên quan điểm của Người có dấu ấn
của Nho giáo, trong đó có quan điểm của Mạnh Tử là một điều hoàn toàn
có thể.
Tuy nhiên, trên tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, Hồ Chí Minh
đã vận dụng, kế thừa và phát triển một cách linh hoạt những quan điểm và
tư tưởng của Nho giáo trong thời đại mới, phù hợp với điều kiện và tình
hình cụ thể của đất nước Việt Nam.
Dù là gặp nhau theo khả năng thứ nhất hay thứ hai, nghiên cứu quan
điểm "dân bản" của Mạnh Tử và quan điểm lấy dân làm gốc của Hồ Chí
Minh, cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn, quan điểm của Hồ Chí Minh
đều thể hiện sự phát triển và hoàn thiện, triệt để hơn Mạnh Tử.
Trên phương diện lý luận, không riêng gì quan điểm "dân bản", hầu
hết toàn bộ Nho giáo đã được Hồ Chí Minh lĩnh hội và phát triển lên một
trình độ mới như các vấn đề về tam cương, ngũ thường …
chúa và thần dân của họ. Theo đó, suy cho cùng thì nhân dân lao động chỉ
có một con đường duy nhất là phải chuyên tâm lao động sản xuất tạo ra của
cải cho xã hội, phục vụ nhu cầu của quý tộc phong kiến và chuyên tâm
phục tùng mọi mệnh lệnh của họ, dễ thấy tính cải lương, lý thuyết và hình
thức trong quan điểm "dân bản" của Mạnh Tử, bởi khi lý giải trong thực
tiễn xã hội thì trật tự, thứ bậc giữa các giai cấp, sự định vị xã hội và bản
20
chất bóc lột của xã hội vẫn luôn được khẳng định, bảo vệ và duy trì. Xét
trong toàn bộ tư tưởng của Mạnh Tử thì có nhiều mâu thuẫn, quan điểm
tiến bộ đan xen với quan điểm bảo thủ, đây là mâu thuẫn trong quan điểm
"dân bản" nói riêng, là mâu thuẫn trong tư tưởng triết học Mạnh Tử, trong
Nho giáo nói chung, hay cũng chính là những mâu thuẫn, những trăn trở,
giằn xé trong tâm can của những nhà tư tưởng tiến bộ nhưng vẫn chưa
hoàn toàn thoát khỏi quan điểm bảo thủ của cả một thời đại, một ý thức hệ
Nho giáo.
Về phương diện thực tiễn, Hồ Chí Minh cho rằng dân là gốc, dân là
chủ và dân làm chủ, và dân chủ là nói và làm, là tư tưởng và hành động
phải nhất quán. Từ lý thuyết lấy dân làm gốc, Người đã cố gắng không mệt
mỏi tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, tiến
tới giải phóng con người. Tiến hành xây dựng thể chế xã hội và phương
pháp thực hành dân chủ để đảm bảo vị trí làm chủ cho đại đa số quần
chúng nhân dân, giải phóng giai cấp. giải phóng con người, mà trước hết và
quan trọng nhất là giải phóng cho dân tộc khỏi ách ngoại xâm, giải phóng
nhân dân lao động khỏi áp bức bóc lột, khỏi quan hệ xã hội bất bình đẳng,
bất công.
Trong việc chăm lo cho đời sống nhân dân, Mạnh Tử chỉ dạy cho
dân chăm cày sâu cuốc bẩm với mục đích nuôi sống bản thân và phục tùng
giai cấp thống trị, và ông quy trách nhiệm cho dân, là dân có lỗi nếu không
làm tròn trách nhiệm bổn phận phục tùng của mình trước giai cấp thống trị.
Còn Hồ Chí Minh, đối lập hoàn toàn, Người lại quy trách nhiệm cho cán
Thứ nhất, trong hệ thống quan điểm duy tâm chủ nghĩa của triết học
Nho giáo với tinh thần cơ bản là bảo thủ, cực đoan, và đặc biệt là sự phân
biệt đẳng cấp thì quan điểm "dân bản" và chế độ "bảo dân" của Mạnh Tử là
một trong những tư tửơng khá tiến bộ, có tính dân chủ, tuy còn nữa vời
nhưng vẫn thể hiện được khá rõ tính nhân văn trong tư tưởng Mạnh Tử. Về
cơ bản, những quan điểm trong học thuyết chính trị -xã hội với học thuyết
nhân chính và quan điểm "dân bản", có thể xem đây là một trong những
quan điểm đặc sắc nhất trong triết học Mạnh Tử nói riêng và triết học nho
giáo nói chung. Quan điểm "dân bản" cùng với những biện pháp cải cách,
xây dựng nền kinh tế khá thiết thực và cụ thể của ông đã thực sự có ý nghĩa
tích cực đối với đời sống xã hội đương thời. Quan điểm của ông đã ít nhiều
thể hiện được tiếng nói và khát vọng của nhân dân lao động trong xã hội
Trung Hoa thời kỳ đó. Vì vậy, xét trong tính lịch sử - cụ thể của nó thì với
hệ thống triết học, lý luận về các vấn đề chính trị - xã hội của mình, Mạnh
Tử xứng đáng được tôn vinh là bậc Á thánh của Nho giáo và là một trong
những triết gia lớn của hệ thống triết học Trung Hoa nói riêng và triết học
phương Đông nói chung.
Thứ hai, trên cơ sở có kế thừa những tư tưởng tiến bộ của Mạnh Tử,
Hồ Chí Minh đã kết hợp với tinh thần của thời đại, xây dựng quan điểm
dân chủ khá triệt để. Tiếp đó Người suốt đời chiến đấu vì nền hoà bình, độc
23
lập và dân chủ cho nhân dân, đã bước đầu định hình và hoạch định chiến
lược xây dựng một nền kinh tế, một thể chế chính trị mà mọi lợi ích cũng
vì dân, mọi quyền lợi đều vì dân, một nhà nước của dân, do dân và vì dân
nhằm đem lại đời sống ấm no, hạnh phúc cho dân.
Thứ ba, thiết nghĩ, theo logic phát triển đó, ngày nay, những thế hệ
sau Hồ Chí Minh cần thực hiện triệt để hơn nữa, thành công và thiết thực
hơn nữa những lý luận của Người. Phát triển, hoàn thiện quan điểm dân
chủ trên phương diện lý luận và đặc biệt là trên phương diện thực tiễn,
triển khai thành công vấn đề thực hành dân chủ, xây dựng một thể chế xã
25