Luận văn thực tập tốt nghiệp GVHD: Thầy giáo Nguyễn Đình Đỗ
LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số
liệu và tài liệu, kết quả nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực xuất phát
từ tình hình thực tế của đơn vị thực tập.
SVTT: Phạm Công Đức 1 Lớp: CQ47/21.04_HVTC
Luận văn thực tập tốt nghiệp GVHD: Thầy giáo Nguyễn Đình Đỗ
Sinh viên
Phạm Công Đức
MỤC LỤC
Trang bìa…………………………………………………………………………… i
SVTT: Phạm Công Đức 2 Lớp: CQ47/21.04_HVTC
Luận văn thực tập tốt nghiệp GVHD: Thầy giáo Nguyễn Đình Đỗ
BẢNG KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
STT
Ký hiệu viết tắt
Giải thích
1
BHXH
Bảo hiểm xã hội
2
BHYT
Bảo hiểm y tế
3
BHTN
Bảo hiểm thất nghiệp
4
CCDC
Công cụ dụng cụ
5
CP
Sử dụng máy thi công
16
SPXL
Sản phẩm xây lắp
17
SXC
Sản xuất chung
18
SXKD
Sản xuất kinh doanh
19
TK
Tài khoản
20
TSCĐ
Tài sản cố định
SVTT: Phạm Công Đức 3 Lớp: CQ47/21.04_HVTC
Luận văn thực tập tốt nghiệp GVHD: Thầy giáo Nguyễn Đình Đỗ
21
XDCB
Xây dựng cơ bản
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng biểu 2.1 Hóa đơn GTGT
Bảng biểu 2.2 Sổ chi tiết tài khoản 6212
Biểu biểu 2.3 Sổ Cái TK 6212
Bảng biểu 2.4 Bảng phân bổ thời gian làm việc theo dự án
Bảng biểu 2.5 Bảng tính tiền lương
Bảng biểu 2.6 Sổ chi tiết tài khoản 6222
Bảng biểu 2.7 Sổ cái tài khoản 6222
Bảng biểu 2.8 Sổ chi tiết tài khoản 62732
doanh nghiệp tăng rõ rệt. Các doanh nghiệp muốn tồn tại và vươn lên khẳng
định vị trí của mình cần phải năng động trong tổ chức quản lý, điều hành hoạt
động sản xuất kinh doanh, đặc biệt cần làm tốt công tác kế toán chi phí sản
xuất và tính giá thành nhằm giảm thiểu các chi phí từ đó hạ giá thành sản
phẩm song vẫn đảm bảo yêu cầu chất lượng. Ngành xây dựng cơ bản phát
triển như hiện nay ngày càng giữ vai trò trong quá trình tạo ra cơ sở vật chất
cho đất nước và là ngành có số vốn bỏ ra nhiều do đó công tác hạch toán chi
phí lại càng quan trọng nhằm chống thất thoát. Muốn thực hiện được các nhà
quản lý cần phải nhờ đến công cụ kế toán – luôn được xác định là khâu trọng
tâm trong đó kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là bộ phận
quan trọng hàng đầu với mục đích hạ thấp chi phí thông qua việc sử dụng tiết
kiệm đầu vào, tận dụng tốt nguồn lực sản xuất hiện có, kết hợp các yếu tố sản
xuất một cách tối ưu, giúp quản lý chi phí, giá thành theo từng công trình,
từng giai đoạn, từ đó đối chiếu, so sánh với số liệu định mức, tình hình sử
dụng lao động, vật tư, chi phí dự toán để tìm ra nguyên nhân chênh lệch, kịp
thời ra các quyết định đúng, điều chỉnh hoạt động sản xuất kinh doanh theo
mục tiêu đã đề ra.
Chính vì lẽ đó hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành là một phần
cơ bản, không thể thiếu của công tác hạch toán kế toán đối với không chỉ đối
với các doanh nghiệp mà rộng hơn là đối với cả xã hội.
SVTT: Phạm Công Đức 7 Lớp: CQ47/21.04_HVTC
Luận văn thực tập tốt nghiệp GVHD: Thầy giáo Nguyễn Đình Đỗ
Với các doanh nghiệp, thực hiện công tác hạch toán kế toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm làm cơ sở để giám sát các hoạt động, từ đó
khắc phục những tồn tại, phát huy những tiềm năng đảm bảo cho doanh
nghiệp luôn đứng vững trong cơ chế thị trường luôn tồn tại cạnh tranh và
nhiều rủi ro như hiện nay.
Với nhà nước, công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành ở
doanh nghiệp cơ sở để nhà nước kiểm soát vốn đầu tư XDCB và kiểm tra việc
chấp hành chế độ, chính sách tài chính của các doanh nghiệp.
1.1. Sự cần thiết phải tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm trong công ty xây dựng
1.1. Đặc điểm của hoạt động xây lắp và ảnh hưởng của nó đến công tác tập hợp
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại các doanh nghiệp xây lắp
Xây lắp là ngành sản xuất vật chất độc lập, quan trọng mang tính chất
công nghiệp nhằm tạo ra cơ sở vật chất cho nền kinh tế quốc dân. Song sản
phẩm và quá trình tạo ra sản phẩm ngành xây lắp có những đặc thù riêng chi
phối nhiều đến công tác hạch toán kế toán của mỗi doanh nghiệp trong ngành,
đặc biệt là trong hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Cụ thể
đó là:
- Sản phẩm xây lắp là các công trình, vật kiến trúc có quy mô lớn, kết cấu
phức tạp, mang tính đơn chiếc, thời gian xây dựng thường dài .Trong quá
trình xây lắp chưa tạo ra sản phẩm cho xã hội nhưng lại sử dụng nhiều vật tư,
nhân lực, vốn. Do đó, việc quản lý đòi hỏi phải lập dự toán thiết kế và dự toán
thi công để theo dõi, kiểm tra quá trình sản xuất, thi công, đảm bảo sử dụng
vốn tiết kiệm đảm bảo chất lượng công trình.
- Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất, các điều kiện sản xuất: vật
liệu, lao động, xe máy thi công phải di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm
công trình. Đặc điểm này làm cho công tác quản lý rất phức tạp. Công tác kế
toán phải tổ chức tốt khâu hạch toán ban đầu, thường xuyên kiểm kê vật tư tài
sản nhằm phát hiện những thiếu hụt, hư hỏng để có biện pháp xử lý kịp thời.
SVTT: Phạm Công Đức 10 Lớp: CQ47/21.04_HVTC
Luận văn thực tập tốt nghiệp GVHD: Thầy giáo Nguyễn Đình Đỗ
- Sản phẩm xây lắp được thực hiện theo đơn đặt hàng do đó thường được
tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá cả thoả thuận với chủ đầu tư từ trước, vì vậy
tính chất hàng hoá của sản phẩm thể hiện không rõ.
- Quá trình từ khi khởi công xây dựng cho đến khi công trình hoàn thành
bàn giao đi vào sử dụng thường dài, phụ thuộc vào quy mô và tính chất phức
tạp về kỹ thuật của từng công trình. Quá trình thi công được chia thành nhiều
giai đoạn, mỗi giai đoạn gồm nhiều công việc khác nhau mà việc thực hiện
lương theo quy định của công nhân lao động trực tiếp sản xuất, công nhân
điều khiển xe, máy thi công và nhân viên quản lý ở các phân xưởng, tổ, đội
• Chi phí khấu hao TSCĐ: là toàn bộ số tiền trích khấu hao tài sản cố định (máy
móc, thiết bị thi công, thiết bị phục vụ và quản lý) sử dụng cho hoạt động sản
xuất của doanh nghiệp trong kỳ.
• Chi phí dịch vụ mua ngoài: là số tiền phải trả cho các loại dịch vụ mua ngoài
phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (như chi phí
điện, nước, điện thoại).
• Chi phí bằng tiền khác: là các khoản chi phí bằng tiền phát sinh trong quá
trình sản xuất kinh doanh ngoài các yếu tố chi phí nói trên.
1.1.2.2.2. Phân loại CPSX theo công dụng kinh tế của chi phí
Theo cách phân loại này, CPSX được chia thành các khoản mục sau:
• Chi phí NVL trực tiếp : bao gồm giá trị thực tế của vật liệu chính, vật liệu
phụ, các cấu kiện hoặc các bộ phận rời, vật liệu luân chuyển tham gia cấu
thành lên thực thể sản phẩm xây lắp hoặc giúp cho việc thực hiện và hoàn
thành khối lượng xây lắp.
• Chi phí nhân công trực tiếp : bao gồm tiền lương, các khoản phải trả trực tiếp
và các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất thuộc doanh
nghiệp và số tiền trả cho người lao động trực tiếp thuê ngoài.
SVTT: Phạm Công Đức 12 Lớp: CQ47/21.04_HVTC
Luận văn thực tập tốt nghiệp GVHD: Thầy giáo Nguyễn Đình Đỗ
• Chi phí sử dụng máy thi công : bao gồm chi phí cho cỏc mỏy thi công nhằm
thực hiện khối lượng công tác xây, lắp bằng máy. Máy móc thi công là loại
máy trực tiếp phục vụ xây, lắp công trình, gồm những máy móc chuyển động
bằng động cơ hơi nước, diezen, điện…(kể cả loại máy phục vụ xây, lắp).
Chi phí sử dụng máy thi công bao gồm: Chi phí thường xuyên và chi
phí tạm thời.
- Chi phí thường xuyên sử dụng máy thi công gồm: Lương chính, lương phụ
của công nhân điều khiển máy, phục vụ máy…; chi phí vật liệu; chi phí công
cụ, dụng cụ; chi phí khấu hao TSCĐ; chi phí dịch vụ mua ngoài (chi phí dịch
thành đến giai đoạn quy ước đã nghiệm thu, bàn giao và được chấp nhận
thanh toán.
.1.3.2. Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp
Có rất nhiều cách phân loại giá thành sản phẩm xây lắp. Tùy theo tiêu
chí lựa chọn mà giá thành sản phẩm có thể được phân loại thành các trường
hợp sau:
.1.3.2.1. Phân loại giá thành SPXL theo thời điểm tính và nguồn số liệu tính
giá thành
Theo cách phân loại này thì chi phí được chia thành giá thành dự toán, giá
thành kế hoạch, giá thành định mức và giá thành thực tế.
• Giá thành dự toán:
Giá thành dự toán là chỉ tiêu giá thành được xây dựng trên cơ sở thiết
kế kỹ thuật đã được duyệt, các định mức kinh tế kỹ thuật do Nhà nước quy
định, tính theo đơn giá tổng hợp cho từng khu vực thi công và phân tích định
mức.
Căn cứ vào giá trị dự toán, ta có thể xác định được giá thành của sản
phẩm xây lắp theo công thức:
Giá thành dự toán sản
phẩm xây lắp
=
Giá trị dự toán
sản phẩm xây lắp
- Lãi định mức
Trong đó:
SVTT: Phạm Công Đức 14 Lớp: CQ47/21.04_HVTC
Luận văn thực tập tốt nghiệp GVHD: Thầy giáo Nguyễn Đình Đỗ
- Lãi định mức: trong XDCB được Nhà nước quy định trong từng thời
kỳ
- Giá trị dự toán sản phẩm xây lắp: được xây lắp được xác định dựa
vào định mức đánh giá của các cơ quan có thẩm quyền và dựa trên
công công trình, dự án hoặc từng hạng mục dự án hoàn thành dựa trên cơ sở
chi phí thực tế phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm.
SVTT: Phạm Công Đức 15 Lớp: CQ47/21.04_HVTC
Luận văn thực tập tốt nghiệp GVHD: Thầy giáo Nguyễn Đình Đỗ
Giá thành thực tế là chỉ tiêu phản ánh kết quả thực tế phấn đấu của
doanh nghiệp, là cơ sở để xác định kết quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Để đảm bảo các doanh nghiệp kinh doanh có lãi, các loại giá thành trên
phải tuân thủ theo nguyên tắc sau:
Giá thành dự toán
≥
Giá thành kế hoạch
≥
Giá thành thực tế
.1.3.2.2. Phân loại giá thành SPXL theo phạm vi phát sinh chi phí
Theo cách phân loại này, giá thành sản phẩm xây lắp được phân biệt
theo các loại sau:
• Giá thành sản xuất của SPXL:
Giá thành sản xuất xây lắp là loại giá thành trong đó bao gồm toàn bộ
chi phí sản xuất (chi phí NVLTT, chi phí NCTT, chi phí sử dụng MTC, chi
phí SXC) tính cho khối lượng, giai đoạn xây lắp hoàn thành hoặc công trình,
hạng mục công trình hoàn thành.
• Giá thành toàn bộ của SPXL:
Giá thành toàn bộ của công trình hoàn thành và hạng mục công trình
hoàn thành là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan
đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm xây lắp.
Giá thành
toàn bộ sản
phẩm xây lắp
=
nghiệp đã bỏ ra để tiến hành hoạt động xây lắp.
• Sự khác nhau:
- Chi phí sản xuất: giới hạn cho một thời kì nhất đinh, không phân biệt cho loại
sản phẩm nào, đã hoàn thành chưa.
- Giá thành sản phẩm: xác định một lượng CPSX cho một đại lượng kết quả
hoàn thành.
- CPSX là cơ sở để tính giá thành sản phẩm:
Z = Dđk + C - Dck
Trong đó:
Z: Giá thành sản phẩm hoàn thành trong kỳ
C: CPSX phát sinh trong kỳ
Dđk, Dck: CPSX dở dang đầu kỳ, CPSX dở dang cuối kỳ
SVTT: Phạm Công Đức 17 Lớp: CQ47/21.04_HVTC
Luận văn thực tập tốt nghiệp GVHD: Thầy giáo Nguyễn Đình Đỗ
Trong trường hợp chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ và cuối kỳ bằng
nhau hoặc ở các ngành sản xuất không có sản phẩm dở dang thì giá thành sản
phẩm hoàn thành trong kỳ bằng tổng chi phí phát sinh trong kỳ.
1.1.5 Nhiệm vụ của công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm tại các doanh nghiệp xây lắp
Để tổ chức tốt kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm, đáp
ứng tốt yêu cầu quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành ở doanh nghiệp, kế
toán chi phí sản xuất và tính giá thành cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
- Xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành sản
phẩm phù hợp với đặc điểm và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp.
- Tổ chức vận dụng các tài khoản kế toán để hạch toán chi phí sản xuất và
giá thành sản phẩm phù hợp với phương pháp kế toán doanh nghiệp đã lựa
chọn.
- Tổ chức tập hợp, kết chuyển hoặc phân bổ chi phí theo đúng đối tượng
kế toán tập hợp chi phí sản xuất đã xác định, theo các yếu tố chi phí và khoản
chức tốt công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất, phục vụ tốt cho việc tăng
cường quản lý chi phí sản xuất và phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm
được chính xác kịp thời. Từ khâu ghi chép ban đầu, tổng hợp số liệu, tổ chức
tài khoản vào sổ chi tiết đều phải theo đúng đối tượng kế toán tập hợp chi phí
sản xuất đã xác định.
1.2.2. Đối tượng tính giá thành sản phẩm xây lắp
SVTT: Phạm Công Đức 19 Lớp: CQ47/21.04_HVTC
Luận văn thực tập tốt nghiệp GVHD: Thầy giáo Nguyễn Đình Đỗ
Trong các doanh nghiệp xây lắp, đối tượng tính giá thành thường trùng
với đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, nó có thể là công trình, hạng mục công
trình hay khối lượng xây lắp hoàn thành bàn giao (đạt đến điểm dừng hợp lý).
Ngoài ra đối tượng tính giá thành có thể là từng giai đoạn công trình
hoặc từng giai đoạn hoàn thành quy ước, tuỳ thuộc vào phương thức bàn giao
thanh toán giữa đơn vị xây lắp và chủ đầu tư.
1.2.1.3. Mối quan hệ giữa đối tượng tập hợp CPSX và đối tượng tính giá
thành sản phẩm xây lắp
• Sự giống nhau:
Đều là những giới hạn, phạm vi để tập hợp chi phí.
• Sự khác nhau:
Đối tượng tập hợp chi phí có phạm vi rộng hơn đối tượng tính giá thành
(vì đối tượng tập hợp chi phí là nơi phát sinh chi phí và nơi chịu chi phí còn
đối tượng tính giá thành chỉ là nơi chịu chi phí).
• Mối quan hệ:
- Một đối tượng tập hợp CPSX tương ứng phù hợp với 1 đối tượng tính giá
thành.
- Một đối tương tập hợp CPSX tương ứng phù hợp với nhiều đối tượng tính giá
thành.
- Nhiều đối tượng tập hợp CPSX nhưng chỉ có 1 đối tượng tính giá thành.
- Nhiều đối tương tập hợp CPSX tương ứng phù hợp với nhiều đối tượng tính
giá thành.
Luận văn thực tập tốt nghiệp GVHD: Thầy giáo Nguyễn Đình Đỗ
Hay: H =
T
C
- Bước 2: Xác định chi phí cần phân bổ cho từng đối tượng cụ thể:
C = T x H
Trong đó:
- C
i
: là phần chi phí phân bổ cho đối tượng i
- T : là đại lượng tiêu chuẩn dùng để phân bổ chi phí cho từng đối
tượng i
- H: là hệ số phân bổ
1.1.2. Phương pháp kế toán chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai
thường xuyên tại các doanh nghiệp xây lắp
1.1.1.Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
• Nội dung:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là những chi phí vật liệu chính, vật
liệu phụ, các bộ phận kết cấu công trình, vật liệu luân chuyển thẳng cấu thành
thực thể sản phẩm xây, lắp hoặc giúp cho việc thực hiện và hoàn thành khối
lượng sản phẩm xây, lắp (không kể vật liệu phụ cho máy móc, phương tiện thi
công và những vật liệu chính trong chi phí chung).
• Nguyên tắc hạch toán:
SVTT: Phạm Công Đức 22 Lớp: CQ47/21.04_HVTC
152
111,112,141,331
133
141
Giá trị NVL xuất kho
621
Tiền lương và phụ cấp
lương phải trả cho công nhân trực Aếp
Quyết toán tạm ứng
Trích trước Aền lương nghỉ
phép của công nhân trực Aếp sản xuất
Kết chuyển chi phí nhân
công trực Aếp
Chi phí nhân công trực Aếp
vượt trên mức bình thường
Luận văn thực tập tốt nghiệp GVHD: Thầy giáo Nguyễn Đình Đỗ
• Nội dung:
Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản tiền phải trả cho người lao
động trực tiếp thực hiện công việc xây dựng, lắp đặt (kể cả lao động thuê
ngoài) bao gồm tiền công, tiền lương chính, lương phụ, các khoản phụ lương
cấp, các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN).
Trong các doanh nghiệp xây lắp, hình thức trả lương thường được áp
dụng đối với công nhân trực tiếp sản xuất là hình thức trả lương theo thời
gian, theo sản phẩm hoặc theo khối lượng công việc giao khoán.
• Chứng từ sử dụng
Bảng chấm công, Bảng thanh toán tiền lương, Hợp đồng giao khoán,
Bảng nghiệm thu khối lượng hoàn thành, Bảng phân bổ tiền lương và
BHXH
• Tài khoản sử dụng
Tài khoản này dùng để phản ánh chi phí lao động trực tiếp tham gia vào
quá trình hoạt động xây dựng. Tài khoản này được mở trực tiếp cho từng
công trình, hạng mục công trình.
• Trình tự kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Sơ đồ hạch toán tài khoản 621 – nhân công trực tiếp:
(trang sau)
Sơ đồ 1.2: Kế toán chi phí nhân công trực tiếp