rủi ro tỷ giá trong kinh doanh ngoại hối và cách phong ngừa - Pdf 13

RỦI RO TRONG KINH DOANH NGOẠI HỐI VÀ NHỮNG QUY TẮC PHÒNG NGỪA
PGS., TS. Nguyễn Văn Tiến
Về bản chất, kinh doanh ngoại hối tự nó chứa đựng rủi ro rất cao. Ngoài các rủi ro thông thường
mà các hoạt động khác cũng phải đối mặt như: rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro
kỹ thuật, rủi ro hoạt động, rủi ro pháp lý, rủi ro quốc gia…, thì kinh doanh ngoại hối còn chịu thêm một
rủi ro đặc biệt, đó là rủi ro tỷ giá. Do tỷ giá biến động thường xuyên và vô lối, nên rủi ro tỷ giá được
xem là rủi ro thường trực, gắn liền và trở thành rủi ro đặc trưng của hoạt động kinh doanh ngoại hối
của các ngân hàng.
1. Nguồn phát sinh rủi ro tỷ giá
Trên thị trường ngoại hối (mua, bán các đồng tiền khác nhau), có ba phương pháp cơ bản để thu
lãi. Chẳng hạn trên thị trường giao ngay, đó là:
- Lãi phát sinh khi nhà kinh doanh tạo trạng thái ngoại hối (Exchange Position): Nhà kinh doanh có
thể tạo trạng thái ngoại hối bằng cách mua bán một đồng tiền nào đó, chờ cho tỷ giá biến động, sau
đó cân bằng trạng thái ngoại hối và thu lãi.
Ví dụ: Nếu nhà kinh doanh dự đoán USD sẽ giảm giá mạnh so với VND trong nay mai, anh ta tiến
hành bán USD vào ngày hôm nay tại tỷ giá 1 USD = 16.000 VND, sau một thời gian, tỷ giá giảm
xuống còn 1 USD = 15.500 VND, tiến hành mua USD để cân bằng trạng thái, lãi kinh doanh ngoại hối
thu được là 500 VND/USD (ở đây ta chỉ tập trung vào yếu tố tỷ giá, mà bỏ qua chênh lệch lãi suất
phát sinh giữa hai đồng tiền). Bằng bảng luồng tiền, ta biểu diễn quy trình kinh doanh như sau (Xem
bảng 1).
Bảng 1:
Thời
điểm
Giao dịch USD VND Tỷ giá áp dụng
t
o
Bán USD lấy VND - 1 + 16.000 1 USD = 16.000 VND
t
1
Dùng VND mua lại USD + 1 - 15.500 1 USD = 15.500 VND
Kết quả kinh doanh 0 + 500

bảng) thì ngoại tệ đó ở trạng thái trường. Khi đồng tiền này lên giá làm phát sinh lãi ngoại hối; và
ngược lại, khi đồng tiền này giảm giá sẽ phát sinh lỗ ngoại ngoại hối. Nếu tổng tài sản có nhỏ hơn
tổng tài sản nợ, thì ngoại tệ đó ở trạng thái đoản. Khi đồng tiền này lên giá làm phát sinh lỗ ngoại hối;
và ngược lại, khi đồng tiền này giảm giá sẽ phát sinh lãi ngoại ngoại hối.
Tóm lại, nếu không duy trì trạng thái ngoại hối mở thì nhà kinh doanh không chịu rủi ro tỷ giá; hoặc
duy trì trạng thái ngoại hối mở nhưng tỷ giá không biến động thì rủi ro tỷ giá cũng không phát sinh.
Tuy nhiên, một thực tế là, đã là nhà kinh doanh ngoại hối (FX Dealer), thì động cơ kiếm lãi chủ yếu là
thông qua việc tạo trạng thái (vì đó là công việc của anh ta) và tỷ giá biến động càng nhanh, càng
mạnh càng khó dự đoán thì cơ hội kiếm lãi dành cho anh ta càng nhiều.
2. Giải pháp hạn chế rủi ro tỷ giá trong kinh doanh ngoại hối
Một thực tế là, để kinh doanh ngoại tệ có lãi thì nhà kinh doanh phải tạo trạng thái ngoại hối mở và
tỷ giá phải biến động. Muốn tránh hoàn toàn rủi ro tỷ giá thì nhà kinh doanh chỉ việc không tiến hành
bất kỳ giao dịch ngoại hối nào; hoặc nếu đã tạo trạng thái ngoại hối thì tiến hành đóng trạng thái ngoại
hối bằng các giao dịch đối ứng (offsetting transactions) để làm cân bằng trạng thái. Tuy nhiên, là
Dealer thì việc tạo trạng thái ngoại hối và hy vọng tỷ giá biến động theo chiều hướng có lợi là công
việc hằng ngày của anh ta. Vấn đề đặt ra là: Tỷ giá luôn biến động thất thường và không giới hạn làm
cho cơ hội kiếm lãi trở nên thường xuyên và vô cùng hấp dẫn. Điều này cũng nói lên một điều rằng,
trong kinh doanh ngoại hối, nếu anh thu được lãi thì phải có một ai đó chịu thua lỗ, bởi vì không thể
tất cả đều được hoặc đều mất cùng một lúc! Nói cách khác, tiềm năng thu lãi và tiềm ẩn rủi ro trong
kinh doanh ngoại hối là đồng hành với nhau. Một điều cần chú ý là lãi lỗ trong kinh doanh ngoại hối có
thể phát sinh cùng với quy mô biến động tỷ giá, trong khi tỷ giá biến động là không giới hạn nên có
thể làm cho lãi lỗ phát sinh là rất lớn. Điều này buộc ngân hàng phải có một cơ chế quản lý và giám
sát hoạt động kinh doanh ngoại tệ (chủ yếu là hoạt động đầu cơ) một cách chặt chẽ.
Sau đây xin nêu một số quy tắc chung về cơ chế quản lý và giám sát rủi ro tỷ giá tại ngân hàng
thương mại (NHTM):
2.1- Tổ chức hoạt động kinh doanh ngoại tệ
Thông thường, một ngân hàng tích cực trong kinh doanh ngoại tệ thường có 3 phòng liên quan
mật thiết đến hoạt động này đó là:
- Phòng kinh doanh (Dealing Room): Tại đây, các nhà kinh doanh trực tiếp tham gia mua bán trên
Interbank, nghĩa là họ phải đối mặt với thị trường, đối thủ cạnh tranh… Đây cũng là nơi thể hiện năng

còn những đồng tiền biết động mạnh thì hạn mức thấp.
c/ Hạn mức cho các loại nghiệp vụ cụ thể, ví dụ hạn mức giao ngay, kỳ hạn, tương lai hoán đổi và
quyền chọn.
Sau đây là phương pháp quản lý và đánh giá đối với một số trạng thái chính:
- Trạng thái giao ngay:
Do đặc thù của thị trường giao ngay là chịu sự tác động bởi các yếu tố ngắn hạn lên tỷ giá. Những
tin đồn, những cuộc giao dịch lớn, can thiệp của ngân hàng trung ương, những biến cố bất ngờ xảy
ra… đều có thể ảnh hưởng nhanh chóng và mạnh mẽ lên sự biến động tỷ giá. Những biến động đến
ngạc nhiên của tỷ giá chỉ diễn ra trong vài phút, do đó, nhà kinh doanh phải nhanh chóng và thường
xuyên thay đổi trạng thái kinh doanh để chớp cơ hội kiếm lãi hoặc thoát khỏi rủi ro.
Tại bất kỳ thời điểm nào, nếu nhà kinh doanh duy trì trạng thái giao ngay (trạng thái mở) đều phải
chịu rủi ro tỷ giá. Tỷ giá biến động càng mạnh thì rủi ro càng lớn. Để quản lý tiềm năng thu lãi và tiềm
ẩn lỗ vốn, người ta sử dụng kỹ thuật định giá cuối mỗi ngày giao dịch. Căn cứ vào trạng thái cuối
ngày, từng nhà kinh doanh phải định giá kết quả kinh doanh của chính mình theo tỷ giá đóng cửa của
ngày giao dịch. Kết quả này phải được báo cáo cho nhà kinh doanh chính và lãnh đạo kinh doanh đối
ngoại.
Giả sử trong ngày, nhà kinh doanh tiến hành các giao dịch như bảng dưới đây. Căn cứ vào các
giao dịch này ta tính được trạng thái cuối ngày; và căn cứ vào tỷ giá đóng cửa ta tính được kết quả
kinh doanh trong ngày như sau (Xem bảng 2).
Bảng 2:
Giao dịch USD EUR Tỷ giá
Mua USD + 1 000 000 - 894 854,6 1 EUR = 1,1175 USD
Bán USD - 1 000 000 + 894 294,4 1 EUR = 1,1182 USD
Mua USD + 500 000 - 447 347,2 1 EUR = 1,1177 USD
Trạng thái cuối ngày + 500 000 - 447 907,4
Định giá cuối ngày - 500 000 + 446 987,3 1 EUR = 1,1186 USD
(tỷ giá đóng cửa)
Kết quả kinh doanh trong
ngày
0 - 920,1

(USD)
Tỷ giá
hợp đồng
CAD
trong HĐ
Tỷ giá
định giá
CAD
định giá
Lãi, lỗ/ngày
1/2 3/2 -
1.000.00
0
1,1900 +1.190.000 1,2000 -1,200.000 -10.000
3/5 +1.000.0
00
1,2000 -1.200.000 1,2110 +1.211.000 +11.000
-10.000 +11.000 +1.000
2/2 3/2 -
1.000.00
0
1,1900 +1.190.000 1,2000 -1.200.000 -10.000
3/5 +1.000.0
00
1,2000 -1.200.000 1,2090 +1.209.000 +9.000
-10.000 +9.000 -1.000
1. Lỗ trong ngày 2/2 so với cuối ngày 1/2 -2.000
2. Lãi trong ngày 1/2 +1.000
3. Lỗ cuối ngày 2/2 so với thời điểm ký hợp đồng 1/2 -1.000
Bảng 3 cho thấy kết quả định giá cuối ngày của các trạng thái kỳ hạn. Cuối ngày 1/2, các trạng thái

rằng, giao dịch có thể được thực hiện từng phần hay phải thực hiện toàn bộ lệnh tại cùng một thời
điểm.
(2) At - the - market order: Giao dịch phải được thực hiện ngay lập tức theo tỷ giá tốt nhất hiện
hành có sẵn trên thị trường.
(3) Stop - loss order: Nhà kinh doanh có thể đang ở trạng thái trường hay đoản đối với một đồng
tiền nào đó, muốn giới hạn các khoản lỗ tiềm tàng. Bản chất của lệnh này là nhằm phòng ngừa rủi ro
lớn có thể xảy ra. Lệnh Stop - loss order chưa được thực hiện chừng nào tỷ giá trên thị trường biến
động chưa đến tỷ giá giới hạn cho phép. Mức tỷ giá mà tại đó lệnh được thực hiện có thể là mức tỷ
giá tiếp theo đã vượt ngoài giới hạn cho phép. Hơn nữa, nếu tại mức tỷ giá tiếp theo mà lệnh vẫn
chưa được thực hiện hoàn toàn, thì có thể áp các mức tỷ giá xảy ra tiếp theo.
(4) Take - profit order:. Nhà kinh doanh có thể đang ở trạng thái trường hay đoản đối với một đồng
tiền nào đó, muốn thoát khỏi trạng thái ngoại hối này khi đạt được một mức lãi nhất định. Tương tự
như lệnh Stop - loss order, Take - profit order được thiết kế, khi thị trường biến động đến một mức độ
nhất định nào đó, thì lệnh được thực hiện.
(5) Open or good - until - canceled orders: Những lệnh này luôn có hiệu lực cho đến khi được thực
hiện thì mới thôi; hoặc là bị hủy bỏ bởi chính người ra lệnh.
(6) Good - until - specified - time orders: Các lệnh này sẽ tự động hết hạn, nếu như không được
thực hiện cho đến một thời điểm nhất định nào đó.
(7) Day/night orders: Những lệnh ban ngày (day orders) có hiệu lực cho đến khi ngày giao dịch
hôm đó đóng cửa. Những lệnh ban đêm (night orders) có hiệu lực cho đến khi ngày giao dịch hôm
sau mở của.
(8) Fill or kill orders: Thường là các lệnh có hiệu lực trong thời gian rất ngắn. Hơn nữa, các lệnh
cho phép thực hiện toàn bộ hay bất cứ phần nào của lệnh. Phần còn lại chưa được thực hiện trong
thời gian hiệu lực của lệnh tự động hết hạn.
(9) Any - part orders: Tại mức tỷ giá đã xác định, bất cứ phần nào của lệnh nếu có thể thực hiện
được thì tiến hành thực hiện. Phần còn lại chưa thực hiện vẫn có hiệu lực cho đến khi nào thực hiện
xong thì thôi, hoặc là được hủy bỏ bởi chính người ra lệnh.
(10) All - or - none orders: Tại mức tỷ giá đã xác định, hoặc là toàn bộ lệnh được thực hiện, hoặc
là không một phần nào được thực hiện cả.
(11) Either/or orders: Loại lệnh này liên quan đến hai lệnh, nếu một lệnh đã được thực hiện, thì

một bộ phận cán bộ NHTM đã dành phần lớn kinh nghiệm, năng lực và trí tuệ của mình vào việc “lách
luật” để thực hiện các phi vụ mạo hiểm. Đây là điều trái với đạo lý kinh doanh phổ thông trong kinh tế
thị trường. Xuất phát từ thực tế này, việc NHNN chỉ quy định trạng thái ngoại tệ tại thời điểm cuối
ngày đã trở thành khe hở để những nhà kinh doanh thực hiện các phi vụ mua bán mạo hiểm quá mức
có thể diễn ra trong ngày. Nghĩa là trong ngày, nhà kinh doanh có thể mua bán bao nhiêu cũng được,
miễn sao đến cuối ngày cân bằng được trạng thái theo quy định của NHNN.
Nhằm hạn chế rủi ro trong kinh doanh ngoại tệ trong thời gian tới, đề nghị:
- Đối với NHNN: nên chuyển từ quy định quản lý trạng thái ngoại tệ tại thời điểm cuối ngày sang
quản lý trạng thái ngoại tệ thường xuyên tại bất kỳ thời điểm nào.
- Đối với NHTM: phải nâng cao nhận thức về rủi ro ngoại hối, trên cơ sở đó thiết lập một mô hình
quản lý và hệ thống các công cụ nhằm giám sát và phòng ngừa rủi ro hiệu quả như đã trình bày ở
trên.
- Kinh doanh ngoại hối là một lĩnh vực mới mẻ và phức tạp, nên việc đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ
thưỡng xuyên (trong và ngoài nước) là rất cần thiết.
Tài liệu tham khảo:
- ThS. Trần Sỹ Mạnh: Trạng thái ngoại tệ - phương thức quản lý rủi ro của NHTM. Tạp chí Ngân
hàng, số 1 + 2, năm 2000.
- Paul Bishop, Don Dixon: Foreign Exchange Handbook - Managing Risk & Opportunity in Global
Currency Markets; McGraw-Hill, Inc.,1992.
- Steve Anthony: Foreign Exchange in Practice; The Law Book Company Limited, 1994.
- Heinz Riehl, Rita M. Rodriguez: Foreign Exchange and Money Markets - Managing Foreign and
Domestic Currency Operations; McGraw-Hill Book Company, 1983.
- Maurice D. Levi: International Finance-The Markets & Financial Management of Multinational
Business; McGraw-Hill, Inc.; 1996.
- Alan C. Shapiro: Multinational Financial Management; Brentina Hill International, Inc., 1996.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status