BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN DỆT MAY
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI CẤP BỘ
XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN KỸ THUẬT
VỀ HÀM LƯỢNG FORMALDEHYT
TRÊN SẢN PHẨM DỆT MAY
Chủ nhiệm đề tài : ThS. HOÀNG THU HÀ
Cơ quan chủ trì đề tài : VIỆN DỆT MAY
7673
05/02/2010
2
LỜI NÓI ĐẦU
Formaldehyt là một trong mười hóa chất dùng trong xử lý dệt gây dị ứng cho da.
Tỷ lệ người mắc bệnh viêm da tiếp xúc dị ứng do nhựa xử lý hoàn tất dệt có
formaldehyt được báo cáo là từ 0,2% đến 4,2% sau năm 1990[1]. Formaldehyt có mặt
trong các sản phẩm hóa chất xử lý hoàn tất nhựa cho vật liệu dệt từ xenlulo và các hỗn
hợp của xenlulo với xơ tổng hợp, trong các chất tạo màng cho quá trình in hoa bằng
pigment, trong các chấ
t xử lý hoàn tất chống cháy cho vật liệu dệt và dung dịch
formaldehyt còn được sử dụng trọng quá trình nhuộm len để bảo vệ len dưới tác dụng
của nhiệt độ cao. Có thể nói formaldehyt có mặt trong hầu hết các loại vật liệu dệt
được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày của người tiêu dùng. Nhưng formaldehyt
trong vật liệu dệt lại gây dị ứng cho những cá nhân bị mẫn cảm, tức là formaldehyt ảnh
h
rằng trong giai đoạn 1934-1958 có 26 trường hợp (11% số ca được nghiên cứu) mắc
bệnh viêm da do formaldehyt trong quần áo. Ông cũ
ng báo cáo kết quả nghiên cứu tiến
hành từ 1938-1955 cho thấy 1-3% trong 36.000 bệnh nhân mắc bệnh eczema là mẫn
cảm với formaldehyt[3]. Một tài liệu đã tổng kết lại tỷ lệ người mắc bệnh viêm da do
formaldehyt trên sản phẩm dệt may là từ 8,6% tới 65% các bệnh nhân mẫn cảm với
formaldehyt (dữ liệu từ năm 1959 tới 1982)
[4].
Sự mẫn cảm với formaldehyt xảy ra ở tất cả các lứa tuổi. Phần lớn các trường
hợp mẫn cảm với formaldehyt ở trong lứa tuổi 30-60. Phụ nữ có xu hướng dễ mắc bệnh
viêm da do formaldehyt trong quần áo gây ra hơn là nam giới, có lẽ là do phụ nữ
thường mặc quần áo sát người hơn nam. Tỷ lệ mắc bệnh theo giới tính (nữ/nam) được
ước tính từ 5: 1 tới 3: 14.
Bệ
nh thường gặp ở những vị trí quần áo tiếp xúc với da, nhất là vùng da ẩm.
Vùng nách, hai bên cổ và gáy, cánh tay trên là những vị trí phổ biến. Ngực, lưng và các
bề mặt cơ gấp của khủyu tay là những vị trí thường xuyên bị bệnh. Trong một số
trường hợp thấy phát ban trên mặt, tay và bộ phận sinh dục. Khi quần được may từ vải
có chứa formaldehyt thì bệnh thường phát ở mặt trong của đùi, n
ếp gấp ở mông, và
vùng khoeo chân bị ảnh hưởng nặng nề[4].
Người ta thấy việc chuyển formaldehyt từ vải vào da mạnh hơn nhiều trong tiếp
xúc trực tiếp của da với dung dịch (ví dụ thông qua mồ hôi) hơn là tiếp xúc gián tiếp
thông qua lớp không khí[5]. Trong một nghiên cứu con tem (patch test) về việc chuyển
formaldehyt từ vải bông và vải bông/polyeste được xử lý bằng DMDHEU có chứa
formaldehyt được đánh dấu bằng cacbon phóng xạ C14 vào da thỏ đ
ã được cạo lông
trong ba điều kiện thử nghiệm khác nhau mô phỏng các điều kiện mặc quần áo thông
thường và ngặt nghèo hơn, người ta thấy tổng lượng cacbon phóng xạ được chuyển từ
lý bằng nhựa ure formaldehyt và melamin formaldehyt với mức phơi nhiễm tới 5
mg/m
3
, 72% số công nhân bị kích thích màng kết, 28% số công nhân bị viêm mũi, da
đỏ và khô ở 11% số công nhân và 22% bị viêm phế quản mãn tính. Thanh tra một nhà
máy may quần áo từ vải được xử lý chống nhàu ở Caliphoocnia (Mỹ) đã thấy mức phơi
nhiễm với formaldehyt từ 0,9 tới 2,7 ppm, và công nhân bị chảy nước mắt, kích thích
họng và đường thở qua mũi[7].
Năm 2004, dựa trên các dữ liệu thu thập được về phơi nhiễm của 11.030 công
nhân ba nhà máy may vớ
i formaldehyt từ vải xử lý chống nhàu, Viện Quốc gia Mỹ về
An toàn và Sức khỏe nghề nghiệp (NIOSH) tiến hành nghiên cứu đã đưa ra kết luận
nguyên nhân gây tử vong của các công nhân may phơi nhiễm với formaldehyt: rủi ro
mắc bệnh ung thư bạch cầu dạng tủy tăng gấp 1,5 lần so với ước tính, còn các công
nhân đã làm việc ở các nhà máy trên 10 năm hoặc phơi nhiễm với formaldehyt từ 20
năm trước, rủ
i ro mắc bệnh ung thư bạch cầu dạng tủy tăng gấp 2 lần[3].
Dữ liệu nghiên cứu tại Đan Mạch cho thấy rằng hàm lượng formaldehyt trên vải
trong khoảng 435-855 µg/g có thể dẫn tới mức formaldehyt trong không khí từ 0,5-0,9
mg/m
3
trong phân xưởng là hơi – là mức gây kích thích nhẹ đường hô hấp trên. Một
nghiên cứu trước đó của Đan Mạch cũng nói rằng hàm lượng formaldehyt trên vật liệu
dệt không được vượt quá 200 µg/g (theo phương pháp thử theo Law 112 của Nhật Bản)
5
để giữ mức formaldehyt trong phòng dưới mức phơi nhiễm nghề nghiệp là 1,2 mg/m
3
(1 ppm) khi các điều kiện không thuận lợi (thông gió kém, độ ẩm tương đối cao, diện
phân phối lớn hàng đầu thế giới về hàng dệt may như Mark&Spencer, Gap, H&M,
Oliver v.v đều hạn chế hàm lượng formaldehyt trên các nhãn hàng d
ệt may của họ.
Trong xu thế hội nhập với mậu dịch dệt may thế giới, chúng ta không thể đứng ngoài
dòng chảy nói trên, khi Việt Nam là một trong những nước trong 10 nước xuất khẩu
hàng đầu về dệt may, đồng thời là thị trường tiêu thụ hàng dệt may lớn. Việc xây dựng
“Quy chuẩn kỹ thuật về hàm lượng formmaldehyt trên sản phẩm dệt may” tuân theo
6
Hiệp định rào cản kỹ thuật với thương mại của Tổ chức Thương mại Thế giới là cần
thiết nhằm:
+ Đảm bảo sức khỏe và an toàn cho người tiêu dùng, ngăn ngừa người tiêu dùng
phơi nhiễm với các hàm lượng formaldehyt gây dị ứng da;
+ Gián tiếp phòng ngừa cho công nhân trong ngành tránh phải phơi nhiễm với
hàm lượng formaldehyt cao có thể gây mắc một số bệnh nghề nghiệp;
+ Đi tiên phong trong vi
ệc tuân thủ với quy định về hàm lượng formaldehyt trên
sản phẩm dệt may tại các thị trường xuất khẩu là một trong các điều kiện để xây dựng
được chuỗi cung cấp dệt bền vững, theo đúng chiến lược phát triển ngành dệt may là
tăng hàm lượng nội địa trong sản phẩm dệt may xuất khẩu;
+ Bảo vệ thị trường và ngành dệt may nội địa trước sự xâm l
ấn của hàng dệt
may nhập khẩu có chứa các hóa chất độc hại với dư lượng cao.
II.2 Tổng hợp, đánh giá hiện trạng của các văn bản luật có liên quan
Trước yêu cầu của tình hình thực tế là cần có một quy định mang tính pháp lý
để để phục vụ việc quản lý nhà nước về tính an toàn của sản phẩm dệt may, vào tháng
6/2009, Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Công Thương) đã soạn thả
o thông tư “Quy
định tạm thời về giới hạn cho phép đối với hàm lượng formaldehyt, các amin thơm có
thể giải phóng ra từ thuốc nhuộm azo trong các điều kiện khử trên sản phẩm dệt may”.
Quy chuẩn kỹ thuật áp dụng cho các
sản phẩm có ý định tiếp xúc trực tiếp
với da người, gồm vật liệu dệt, da và
giày v.v
Vật liệu dệt cho trẻ em bé: 20 mg/kg
Vật liệu dệt tiếp xúc trực tiếp với da:
100 mg/kg
Vật liệu dệt không tiếp xúc trực tiếp
với da: 400 mg/kg.
3 Hà Lan Quy chuẩn kỹ thuật (Đạo
luật về hàng hóa ) của Hà
Lan về formaldehyt trên
vật liệu dệt (tháng 7 năm
2000)
Vật liệu dệt tiếp xúc trực tiếp với da
phải mang nhãn “Giặt trước khi sử
dụng lần đầu” nếu có chứa trên 120
mg/kg formaldehyt và sản phẩm
phải không chứa quá 120 mg/kg
formaldehyt sau khi giặt.
4 Áo Formaldehydeverodnung,
BGBL số. 194/1990
Vật liệu dệt có chứa 1500 mg/kg
hoặc hơn phải mang nhãn.
5 Phần Lan Nghị định về lượng
formaldehyt tối đa trong
các sản phẩm dệt nào đó
(nghị định 210/1988)
Vật liệu dệt cho trẻ em dưới 2 tuổi:
30 mg/kg
Vật liệu dệt tiếp xúc trực tiếp với da:
75 mg/kg
Giới hạn formaldehyt trên sản phẩm dệt may trong một số tiêu chuẩn tự nguyện
như trong bảng 2.
Bảng 2 – Giới hạn hàm lượng formaldehyt trong một số tiêu chuẩn tự nguyện
TT Tiêu chuẩn Giá trị giới hạn
1 Tiêu chuẩn Oeko-Tex
100[9]
- Vật liệu dệt cho trẻ em bé: không phát hiện được
(giá trị phát hiện là 16 ppm)
- Vật liệu dệt tiếp xúc trực tiếp với da: 75 mg/kg
- Vật liệu dệt không tiếp xúc trực tiếp với da: 300
mg/kg
- Vật liệu dệt trang trí: 300 mg/kg
2 Tiêu chuẩn sinh thái EU
Flower[10]
- Vật liệu dệt tiếp xúc trực tiếp với da: 30 ppm
- Các vật liệu dệt khác: 300 ppm
3 Danh sách các chất bị hạn
chế của Hiệp hội may và
giày dép Mỹ (AFFA)[11]
- Từ 0-36 tháng tuổi: 20 ppm
- Từ 36 tháng tuổi trở lên (có tiếp xúc trực tiếp với
da: 75 ppm
- Từ 36 tháng tuổi trở lên (không tiếp xúc trực
tiếp với da: 300 ppm
4 Tuyên bố chính sách an
toàn của Chính phủ về các
làm ba nhóm là:
- Sản phẩm dệt may cho trẻ em dưới 2 (hoặc 3) tuổi;
- Sản phẩm dệt may tiếp xúc trực tiếp với da; và
- Sản phẩm dệt may không tiếp xúc trực tiếp vớ
i da.
Đối với giá trị giới hạn tối đa của formaldehyt trên các nhóm sản phẩm dệt may,
có thể thống kê thấy:
- Sản phẩm dệt may cho trẻ em dưới 2 (hoặc 3) tuổi: 16 ppm (Nhật Bản và
tiêu chuẩn Oeko-Tex 100), 20 ppm (Trung Quốc và Pháp) và 30 ppm (các
quy định còn lại);
- Sản phẩm dệt may tiếp xúc trực tiếp với da: 75 ppm, hoặc 100 ppm hoặc 120
ppm (Hà Lan);
- Sản phẩm dệt may không tiếp xúc trực tiếp vớ
i da: 300 ppm hoặc 400 ppm
(Pháp).
Nhật Bản và Trung Quốc có quy định nghiêm ngặt nhất, đặc biệt là cho nhóm
sản phẩm dệt may cho trẻ em và sản phẩm dệt may tiếp xúc trực tiếp với da.
Đối với các giá trị formaldehyt áp dụng cho sản phẩm dệt may trẻ em có thể giải
thích như sau:
Làn da trẻ em bé (dưới 2-3 tuổi) rất nhạy cảm, nhất là khi hệ miễn dịch của các
bé chưa phát triển đầy đủ. Đây là ch
ủ thể dễ bị tác động bởi các dị nguyên (chất gây dị
ứng). Trong một thí nghiệm để tìm ra ngưỡng phản ứng dị ứng trên những người mẫn
10
cảm với formaldehyt, người ta đã thấy giá trị 30 ppm khi phơi nhiễm với chế phẩm
formaldehyt ở vùng nách thông qua thử nghiệm băng hút giữ trong 48 giờ. Thực
nghiệm từ các phòng thí nghiệm của châu Âu chỉ ra rằng hàm lượng 10 ppm
formaldehyt trên sản phẩm dệt may dành cho trẻ em có thể giải thích là do mức
formaldehyt có sẵn trong tự nhiên (background formaldehyt level) không liên quan đến
của các nhóm này là:
-
Sản phẩm dệt may cho trẻ em dưới 3 tuổi: 20 mg/kg ;
- Sản phẩm dệt may tiếp xúc trực tiếp với da: 75 mg/kg;
- Sản phẩm dệt may không tiếp xúc trực tiếp với da: 300 mg/kg.
11
III.2.2 Xác định phương pháp thử
Phương pháp thử được lựa chọn là TCVN 7421-1: 2004 (ISO 17184-1: 1998)
Vật liệu dệt – Xác định formaldehyt. Phần 1 – Formaldehyt tự do và bị thủy phân
(Phương pháp chiết trong nước).
Phương pháp này xác định formaldehyt tự do và formaldehyt được chiết một
phần bằng quá trình thủy phân (phản ứng với nước) bằng phương pháp chiết trong
nước. Phương pháp này được dùng để xác định formaldehyt tự do và thủy phân trên vải
trong khoảng từ 20 ppm tới 3500 ppm. D
ưới 20 ppm thì kết quả được báo cáo là không
phát hiện được.
Phương pháp thử này được chấp nhận trên thế giới để thử formaldehyt tự do và
thủy phân trên sản phẩm dệt may; và được quy định trong tất cả các quy chuẩn kỹ thuật
lẫn các tiêu chuẩn sinh thái dệt trên thế giới để xác định formaldehyt tự do và thủy
phân trên sản phẩm dệt may.
III.3 Tiếp thu góp ý cho dự thảo “Quy chuẩn kỹ thuật đối với hàm lượ
ng
formaldehyt trên sản phẩm dệt may”
Bản dự thảo I của Quy chuẩn, sau khi hoàn thành, đã được gửi cùng với bản
thuyết minh quy chuẩn tới các cơ quan hữu quan để lấy ý kiến đóng góp như Phòng
Tiêu chuẩn 5 của Tổng cục Đo lường – Tiêu chuẩn – Chất lượng; Vụ Khoa học và
Công nghệ (Bộ Công Thương), Ban Khoa học Công nghệ và Môi trường (Vinatex),
văn phòng TBT Việt Nam, Viện Dệt May…, và một số cá nhân có kinh nghiệ
m trong
Điểm 1.1 Phạm vi điều chỉnh
Cần nêu rõ “đưa ra các quy định về giới
hạn cho phép của hàm lượng
formaldehyt trên sản phẩm dệt may, các
quy định về thử nghiệm và quản lý …”
Đã tiếp thu vào quy chuẩn.
Điểm 1.3 Đề nghị sửa tiêu đề lại thành
“Giải thích từ ngữ”
Đã tiếp thu vào quy chuẩn.
2
Quy định kỹ thuật
Tiêu đề của Bảng 1 sửa lại là “…các
giới hạn cho phép của hàm lượng
formaldehyt …”.
Tiếp thu và đã chỉnh sửa lại.
Đề nghị cân nhắc và giải thích tại sao
lại chọn các giới hạn cho phép tại sao là
20/75/300 mg/kg chứ không phải là
30/100/300 mg/kg (căn cứ vào tài liệu,
tiêu chuẩn các nước nhưng cần phân
tích quan điểm lựa chọn trong thuyết
minh)
- Đã tiếp thu và bổ sung thêm phần
phân tích nguyên tắc lựa chọn các giới
hạn cho phép của hàm lượng
formaldehyt trên các sản phẩm dệt may
của từng nhóm sản phẩm như trong bản
thuy
ết minh này.
mẫu phải đủ để thử. Nếu các phần của
sản phẩm có thành phần cấu tạo khác
nhau thì lấy mẫu tách riêng để xử lý
từng phần như từng mẫu.
Không đưa quy định về lấy mẫu tách
riêng sản phẩm có thành phần khác
nhau vì khi thử nghiệm, nhân viên thí
nghiệm sẽ thử riêng thành phần theo
quy định trong phương pháp thử.
4
Quy định về phương pháp thử
Đưa thêm phương pháp thử theo
AATCC của Mỹ
- Bản dự thảo 3 chỉ quy định phương
pháp thử TCVN 7421-1 : 2004 (EN
ISO 14184-1 : 1998), do phương pháp
này được hài hòa từ phương pháp thử
tương đương của tổ chức tiêu chuẩn
hóa quốc tế và tương đương với
phương pháp thử theo Law 112 của
Nhật Bản. Phương pháp thử AATCC
của Mỹ có quy trình chiết khác với
các tiêu chuẩ
n nêu trên nên đưa ra kết
quả cao hơn nhiều lần, nên không
được chấp nhận trong Quy chuẩn này.
5 Cần nêu quy định đánh giá sự hợp quy
của sản phẩm, phương thức đánh giá sự
phù hợp, quy định việc lấy mẫu thích
chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận
hợp quy và công bố hợp chuẩn, hợp
quy” và Điều 4, khoản 1 của Nghị định
132/2008/NĐ-CP quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật Chất lượng
Sản phẩm hàng hóa để viết lại thành
điểm 6.1 cho công b
ố hợp quy của
hàng sản xuất trong nước; và Điều 7,
khoản 1 của Nghị định 132/2008/NĐ-
CP quy định chi tiết thi hành một số
điều của Luật Chất lượng Sản phẩm
hàng hóa để viết lại thành điểm 6.2
cho công bố hợp quy của hàng dệt may
nhập khẩu.
7
Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân
Cần quy định thêm việc thực hiện trách
nhiệm của tổ chức, cá nhân công bố
hợp quy
Điều 7 – Trách nhiệm của tổ chức, cá
nhân
Đã bổ sung thêm trách nhiệm của tổ
chức, cá nhân công bố hợp quy như
trong điểm 7.1 theo Điều 20 của Quy
định về chứng nhận hợp chuẩn, chứng
nhận hợp quy và công bố hợp chuẩ
n,
công bố hợp quy ban hành kèm theo
Quyết định số 24/2007/QĐ-BKHCN
formaldehyt cho sản phẩm dệt may và
ảnh hưởng của formaldehyt lên s
ức
khỏe con người được tách thành phụ
lục của thuyết minh.
III.4 Bố cục của Quy chuẩn kỹ thuật
Dự thảo 3 của Quy chuẩn kỹ thuật gồm 8 điều với các nội dung chính như sau:
Điều 1. Quy định chung: nêu phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Quy
chuẩn, giải thích từ ngữ;
Điều 2. Quy định kỹ thuật: quy định các giới hạn cho phép của hàm lượng
formaldehyt trên các sản phẩm dệt may của t
ừng nhóm sản phẩm dệt may xác định;
Điều 3. Quy định về lấy mẫu: xác định phương thức lấy mẫu sản phẩm cho thử
nghiệm;
Điều 4. Quy định về phương pháp thử: quy định phương pháp thử được dùng để
xác định hàm lượng formaldehyt trên sản phẩm dệt may;
Điều 5. Quy định về đánh giá sự hợp quy: quy định tình trạng đạt hoặc không
đạt cho lô s
ản phẩm;
Điều 6. Quy định về quản lý: nêu các yêu cầu:
- Sản phẩm dệt may phải được công bố hợp quy trước khi đưa ra thị trường;
- Phòng thử nghiệm do Bộ Công Thương chỉ định khi đáp ứng các yêu cầu đưa
ra trong Quy chuẩn;
- Sản phẩm dệt may lưu thông trên thị trường phải chịu sự kiểm tra nhà nước về
hợp quy.
Điều 7. Trách nhiệm của t
ổ chức, cá nhân: nêu rõ trách nhiệm của tổ chức cá
nhân khi kinh doanh sản phẩm dệt may;
Điều 8. Tổ chức thực hiện: nêu rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà
này trên sản phẩm dệt may cho đến khi có quá trình gia công bổ sung (ví dụ quá trình
là) tác dụng đủ độ ẩm và lực cơ học để vượt qua được các nội lực này[13].
Có thể giảm sự trương nở của xơ xenlulo do ẩm gây nên bằng tác đưa các sản
phẩm hóa chất tự tạo liên kết ngang như là các nhựa ure formaldehyt ho
ặc melamin
formaldehyt lẫn các sản phẩm có thể chủ yếu tạo liên kết ngang với các phân tử
xenlulo. Nếu không được xử lý hoàn tất tạo liên kết ngang, xơ xenlulo có thể hút thêm
nước tương đương với 10% khối lượng xơ. Kết quả là khi xơ trương nở lên, vải bị nhàu
và co lại để giảm bớt ứng suất bên trong do quá trình trương nở gây ra[13]. Quá trình
này không chỉ áp dụng cho vật liệu dệt từ xơ xenlulo mà còn t
ừ các hỗn hợp của xơ
xenlulo với các loại xơ tổng hợp khác. Trong tài liệu chuyên môn, ta có thể bắt gặp rất
17
nhiều thuật ngữ để mô tả kết quả của các quá trình này như: dễ chăm sóc (easy-care),
không cần là (non-iron), chống nhàu (crease resistant, shrink proof hoặc wrinle free),
giữ nếp bền lâu (durable press) v.v. Thuật ngữ mô tả đúng về mặt kỹ thuật sẽ là “chất
xử lý hoàn tất chống trương nở cho xenlulo” hoặc “chất tạo liên kết ngang cho
xenlulo”. Ngoài ra, độ bóng láng của vải in hoa được xử lý cán láng (permanent chintz)
hoặc độ đứng thẳng của các loại v
ải nổi vòng lông nói chung cũng được cải thiện bằng
chất xử lý hoàn tất nhựa. Các tác dụng chính của xử lý hoàn tất nhựa chống nhàu cho
xenlulo là:
- Giảm sự trương nở và độ co;
- Cải thiện độ hồ phục nếp nhàu ở trạng thái khô và ướt;
- Ngoại quan phẳng phiu sau khi làm khô;
- Giữ được các nếp nhăn và nếp li mong muốn[2].
Các sản phẩm hóa chất được s
ử dụng trong quá trình xử lý hoàn tất nhựa chống
nhàu được trình bày tóm tắt dưới đây cùng với những tính chất nổi bật của chúng.
c. Các loại nhựa chứa ít formaldehyt: N,N-Dimetylol-4,5-dihydroxyetylen Ure
(DMDHEU) và các dẫn xuất của nhựa này
Loại nhựa này được tổng hợp từ ure, glyoxal và formaldehyt và là cơ sở cho tới
90% sản phẩm xử lý hoàn tất chống nhàu trên thị trường, đượ
c sử dụng rộng rãi từ
những năm 1960. DMDHEU có hoạt tính cao và rất thích hợp cho xử lý chống nhàu
bền với giặt. Vải xử lý bằng loại nhựa này có formaldehyt tự do khoảng 500 ppm[19],
vẫn gây ra mối quan ngại về vấn đề môi trường và sức khỏe. Để tạo ra sản phẩm giải
phóng formaldehyt thấp, DMDHEU được biến tính bằng quá trình ete hóa, glycolat
hóa hoặc metyl hóa; các loại nhựa biến tính này giải phóng ra ít formaldehyt hơn (chưa
tới 300 ppm)[16] và
được bắt đầu sử dụng từ năm 1970. Loại nhựa DMDHEU biến
tính mới nhất chứa ít hơn 75 ppm formaldehyt tự do, như sản phẩm Fixapret ECO của
Công ty BASF, có thể đôi khi gây phản ứng nhưng các bệnh nhân bị dị ứng tiếp xúc
với vật liệu dệt có khả năng vượt qua được[16].
So sánh lượng formaldehyt giải phóng ra của các loại nhựa DMDHEU như
trong bảng sau[14].
Bảng 1 - So sánh lượng formaldehyt giải phóng ra từ
các loại nhựa DMDHEU
Các loại nhựa DMDHEU Formaldehyt giải phóng ra (ppm)
(Phương pháp thử AATCC 112)
DMDHEU không biến tính 750 – 1000
DMDHEU metyl hóa một phần 300 – 500
DMDHEU metyl hóa toàn phần < 300
DMDHEU+đietylen glycol < 50
I.1.2 Các sản phẩm xử lý chống nhàu không chứa formaldehyt[13,14]
a. Nhựa Đimetyl – 4,5 – đihyđroxietylen ure (DMeDHEU)
Loại nhựa này được tổng hợp từ nguyên liệu tương đối đắt tiền là N,N-đimêtyl
ure và glyoxal thành sản phẩm N, N’-đimêtyl-4,5-đihyđroxyetylen ure (DMeDHEU).
các hệ thống chất tạo màng acrylic để in pigment trên vật liệu dệt xenlulo,
xenlulo/polyeste hoặc vật liệu dệt tổng hợp. Nhựa formaldehyt được hòa tan trong
nước và được trộn với hồ in. Điển hình là từ 1% đến 3% chế phẩm nhựa được sử dụng
trong hồ in phụ thuộc vào độ đậm màu yêu cầu[6]. Hiện nay đã có các hệ thống in thay
thế không có formaldehyt.
1.3 Nhuộm vật liệu dệt
Nhựa dựa trên formaldehyt được sử dụng làm chất gắn màu, làm tăng độ bền
màu của thuốc nhuộm[6].
I.4 Chất bảo vệ len có chứa formaldehyt[22]
Len dễ bị tổn thương trong quá trình xử lý trong nước, nhất là tại nhiệt độ cao
hoặc pH cao. Để khắc phục điều này, thường sử dụng các tác nhân bảo vệ len, nhất là
trong quá trình gia công lại hoặc trong khi nhuộm các hỗn hợp len/polyeste tại nhiệt độ
cao. Các tác nhân bảo vệ len thường nằm trong ba chủng loại:
* Các sản phẩm dựa trên các protein tan trong nước;
* Các sản phẩm dựa trên các este của axit sunphonic béo hoặc các axit
alkylsunphonic;
20
* Các sản phẩm dựa trên formaldehyt hoặc các hóa chất khác có khả năng tạo
liên kết ngang cho len. Nhóm sản phẩm này hoạt động bằng cách tạo liên kết ngang
cho len và do đó thay thế các liên kết ngang disunphua xystin đã bị gãy bằng các nhóm
–S-CH
2
-S- là các nhóm ổn định hơn.
Gần đây các dẫn xuất của formaldehyt đã được giới thiệu như là Irgasol HTW
(CGY) hoặc Lanasan PW có chứa lượng formaldehyt tự do không đáng kể.
I.5 Các sản phẩm xử lý hoàn tất chống cháy
Các sản phẩm hóa chất chống cháy phốt pho halogen có chứa formaldehyt[18].
Vật liệu dệt được xử lý bằng các hóa chất được nói đến ở mục I.1 đến I.5 đều có
2
OH. Tại khoảng pH trung
tính, giải phóng formaldehyt là thấp nhất. Giải phóng formaldehyt tăng khi độ axit dư
trên vải tăng do tăng thủy phân liên kết ngang C-O, tạo ra các nhóm N-mêtylol, đến
21
lượt mình các nhóm này lại thủy phân để tạo ra formaldehyt. Mức độ giải phóng
formaldehyt tăng thậm chí tới mức lớn hơn khi vải trở nên kiềm do độ nhạy với quá
trình thủy phân của liên kết C-N trong nhóm N-mêtylol tại pH cao. Với nhựa được
metyl hóa cũng quan sát được các ảnh hưởng tương tự của pH[19].
Nhiệt độ tăng dần và độ ẩm tương đối cao nói chung làm tăng giải phóng
formaldehyt[15]. Hai điều kiện này, khi có thêm mồ
hôi và sự chà xát, ví dụ ở vùng
nách, rất có thể làm tăng xu hướng formaldehyt sẽ được giải phóng từ quần áo tiếp xúc
trực tiếp với da[1].
Để giảm bớt sự phơi nhiễm của da với formaldehyt, khuyến cáo rằng nên giặt
quần áo được xử lý bằng nhựa dựa trên formaldehyt trước khi mặc lần đầu.
II. XÉM XÉT ẢNH HƯỞNG CỦA FORMALDEHYT ĐẾN SỨC KHỎE
II.1 Tóm tắt nguồn phát sinh và sử d
ụng formaldehyt[6, 14, 20, 21, 22, 23]
Formaldehyt là chất khí không màu, có tính ăn mòn, có khả năng cháy với mùi
hăng và gây ngạt thở. Formaldehyt có thể có mặt trong môi trường từ các nguồn tự
nhiên hoặc có thể được sản sinh ra từ các hoạt động công nghiệp. Formaldehyt có mặt
trong tự nhiên do ánh sáng mặt làm thoái biến metan. Formaldehyt cũng được giải
phóng ra trong quá trình cháy các vật liệu hữu cơ, và cũng thể có mặt trong khói từ gỗ
cháy, khí thải của xe cộ và khói thuốc lá. Mức formaldehyt có trong tự nhiên ở những
vùng phi đ
ô thị là < 1µg/m
3
chất bảo quản chống vi khuẩn trong nhiều loại mỹ phẩm như xà phòng, dầu gội
đầu,
các chế phẩm làm tóc, chất khử mùi, dầu dưỡng thể và mỹ phẩm trang điểm. Nồng độ
của formaldehyt trong các mỹ phẩm và sản phẩm tiêu dùng nói chung dưới 0,2%. Các
sản phẩm có chứa trên 0,2% formaldehyt gồm chất làm mềm vải đậm đặc (0,3%), chất
tẩy rửa đậm đặc (0,3%) dung dịch rửa bát đậm đặc (0,6%) và chất làm cứng móng tay
(1%).
II.2 Độc tính của formaldehyt
Dưới đây là một số dữ li
ệu độc tính cấp tính của formaldehyt[20].
Bảng 2 – Dữ liệu độ độc của formaldehyt
Độ độc cấp đường miệng, chuột nhắt (rat) LD50 600 mg/kg
Độ độc cấp đường miệng, chuột nhà
(mouse)
LD50 42 mg/kg
Độ độ cấp qua da, thỏ LD50 270 mg/kg
Độ độc cấp hít thở, chuột nhắt (rat) LC50, 4 giờ 578 mg/m
3
(480 ppm)
Độ độc cấp hít thở, chuột nhà (mouse) LC50, 4 giờ 467 mg/m
3
(412 ppm)
Từ các giá trị trên, thấy rằng độ độc cấp đường miệng là tương đối cao. Giá trị
độ độc cấp đường miệng thấp nhất được xác định bằng LD50 là 42 mg/kg.
Độ độc cấp qua đường phơi nhiễm qua da trong một nghiên cứu được xác định
là từ 2-300 mg/kg cho thấy rằng formaldehyt là nguy hại đối với sức khỏe khi tiếp xúc
qua da.
Về giá trị độ độc cấp tính qua đường hít thở
, giá trị LC50 dưới 1 mg/l trong 4
Ảnh hưởng chủ đạo của việc phơi nhiễm với formaldehyt qua đường hít thở là
gây ra một loạt các triệu chứng từ kích thích nhẹ tới đặc biệt khó thở. Thậm chí các
nồng độ formaldehyt tương đối thấp có thể nhanh chóng kích thích mũi và họng, gây
ho, đau phổi, hơi thở ngắn và thở khò khè. Phơi nhiễm cấp tính với lượng lớn
formaldehyt có thể gây ra sự mệt mỏi, đau đầu, bu
ồn nôn, nôn mửa, khó thở, co thắt
phế quản, thở khò khè, ho, viêm thanh quản và viêm phổi, suy yếu hệ thần kinh, sưng
phổi, tích tụ dịch trong phổi, chứng co giật và hôn mê. Các triệu chứng này có liên
quan đến nồng độ phơi nhiễm với formaldehyt. Ví dụ nồng độ từ 10-20 ppm gây ra khó
thở, bỏng màng nhày ở mũi, họng, gây ho và chảy nước mắt giàn dụa. Nồng độ 100
ppm ngay lập tức gây huy hiểm cho sức khỏe và tính mạng. S
ự phản ứng với phơi
nhiễm cũng phụ thuộc vào thời gian phơi nhiễm và độ nhạy cảm của cá nhân bị phơi
nhiễm.
Các cá nhân trước đó đã bị mẫn cảm với formaldehyt có thể phát triển triệu
chứng thu hẹp cuống phổi tại nồng độ rất thấp xuống tới 0,3 ppm. Thu hẹp cuống phổi
có thể bắt đầu ngay lập tức ho
ặc có thể bị chậm lại sau 3-4 tiếng đồng hồ. Ảnh hưởng
còn có thể xấu đi sau 20 giờ đồng hồ phơi nhiễm và có thể dai dẳng trong một vài
ngày.
Một số nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa phơi nhiễm với formaldehyt và
bệnh hen do dị ứng. Các loại nhựa formaldehyt có liên quan tới bệnh đường hô hấp ở
một số công nhân, với các triệu chứng gồm ph
ản ứng ngay lập tức và phản ứng trì hoãn
của bệnh hen.
Mắt phơi nhiễm với hàm lượng thấp hơi formaldehyt thấp có thể gây kích thích
mắt, sau đó kích thích giảm đi trong vòng vài phút sau khi không phơi nhiễm nữa. Các
khảo sát sức khỏe trên các công nhân phơi nhiễm nghề nghiệp và các nghiên cứu phơi
nhiễm cấp tính có kiểm soát trên những người tình nguyện đã chứng minh rằng phơi
Việc chuẩn đoán bệnh viêm da tiếp xúc dị ứng do formaldehyt gây ra được thực
hiện bằng thử nghiệm con tem (patch test). Các thử nghiệm con tem được các bác sĩ da
liễu thực hiện trên các chủ thể có vấn đề về da trong các khoảng thờ
i gian khác nhau,
tại các nước khác nhau chỉ ra tỷ lệ phần trăm chủ thể có phản ứng dương tính với
formaldehyt như sau: 7,8% ở Bắc Mỹ (1992-1994); 1,6% ở Thụy Điển (1983-1984);
2,6% ở châu Âu (1988-1989) và 3,7% ở Ba Lan (1990-1994). Vào năm 1995, Fisher đã
kết luận rằng trong hơn 30 năm kinh nghiệm với thử nghiệm con tem, khoảng 1-4%
các chủ thể được thử nghiệm là mẫn cảm với formaldehyt. Với phác đồ thử nghiệm con
tem tiêu chuẩn, nồng độ formaldehyt tới 2% và cao hơn có thể gây kích thích da trên
các cá nhân không mẫn cảm.
Một nhóm chuyên gia Na Uy từ các thực nghiệm trên người đề xuất rằng
ngưỡng gây mẫn cảm của formaldehyt sẽ nằm trong khoảng nồng độ formaldehyt từ