Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
Lời mở đầu
Sự hợp tác và tham gia phân công lao động quốc tế tăng lên không những làm
cho trao đổi hàng hóa trong nớc gia tăng mà còn làm cho trao đổi hàng hóa, dịch
vụ giữa các nớc phát triển. Trên cơ sở phát triển của các mối quan hệ kinh tế giữa
các nớc, sự liên hệ về chính trị và văn hóa giữa các nớc ngày càng phát đạt. Những
mối quan hệ thờng xuyên về mặt kinh tế, chính trị và văn hóa giữa các nớc đã làm
nảy sinh những quan hệ tiền tệ của nớc này đối với nớc kia. Quan hệ so sánh đồng
tiền của các quốc gia với nhau đợc gọi là tỷ giá hối đoái.
Tỷ giá hối đoái giữ một vai trò quan trọng đến tình hình ngoại hối của các nớc
và ảnh hởng đến toàn bộ nền kinh tế của một quốc gia, nó sẽ đảm bảo tính ổn định
trong nền kinh tế, ổn định giá cả tạo ra môi trờng an toàn cho các hoạt động sản
xuất kinh doanh mà đặc biệt là hoạt động ngoại thơng. Vì vậy, việc áp dụng một
chính sách tỷ giá đúng đắn là một điều kiện tiên quyết để góp phần thúc đẩy tăng
trởng kinh tế.
Tất nhiên cha hẳn là một tỷ giá là u việt đối với nớc này thì đã là phù hợp với
các nớc khác, bởi vì mỗi nớc có một điều kiện kinh tế cụ thể khác nhau. Thậm chí
ngay trong một quốc gia, việc áp dụng cố định một chế độ tỷ giá khi các điều kiện
kinh tế - chính trị trong nớc và quốc tế đã thay đổi cũng không thể đem lại một kết
quả tốt nh mong đợi. Điều quan trọng là phải biết trong trờng hợp nào thì cố định
tỷ giá phát huy tác dụng tối đa u điểm của mình, từ đó sẽ quyết định lựa chọn việc
áp dụng cố định tỷ giá một cách linh hoạt phù hợp với điều kiện khách quan và
mục tiêu u tiên hàng đầu trong chiến lợc phát triển đất nớc.
Không dễ dàng về mặt lý thuyết cũng nh thực tế khi lựa chọn một hệ thống tỷ
giá thích hợp. Trên thực tế có nhiều tranh luận về lợi thế cũng nh bất lợi của hai
chính sách tỷ giá đặc biệt: tỷ giá cố định và tỷ giá thả nổi. Nhng có nhiều lập luận
ủng hộ sự kết hợp giữa hai chế độ tỷ giá trên, đó là tỷ giá thả nổi có điều tiết. Nó
cho phép tận dụng lợi thế, đồng thời hạn chế những bất lợi của cả hai chế độ. Vì
thế, trên thực tế, một nớc có thể có nhiều lựa chọn các kết hợp khác nhau tùy thuộc
vào các đặc điểm cấu trúc, những cú sốc bên ngoài có thể xảy ra và môi trờng kinh
tế vĩ mô.
của chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết
I - Tỷ giá hối đoái
1. Khái niệm
Có hai khái niệm về tỷ giá hối đoái:
- Các phơng tiện thanh toán quốc tế đợc mua và bán trên thị trờng hối đoái bằng
tiền tệ quốc gia của một nớc theo một giá cả nhất định. Vì vậy, giá cả của một đơn vị
tiền tệ nớc này thể hiện bằng một số đơn vị tiền tệ nớc kia đợc gọi là tỷ giá hối đoái.
Ví dụ: Một ngời nhập khẩu ở Đức phải bỏ ra 142.000 DEM để mua một tờ séc
có mệnh giá100.000 GBP để trả tiền nhập khẩu từ Anh. Nh vậy giá 1GBP là
1,42DEM, đây là tỷ giá hối đoái giữa GBP và DEM.
- Tỷ giá hối đoái còn đợc định nghĩa ở khía cạnh khác, đó là quan hệ so sánh
giữa tiền tệ của hai nớc với nhau.
Trong chế độ bản vị vàng, tỷ giá hối đoái là quan hệ so sánh hai đồng tiền vàng
của hai nớc với nhau hoặc là so sánh hàm lợng vàng của hai đồng tiền hai nớc với
nhau.
Đặng Thanh Phong - Tài Chính A / K10B
2
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
Trong chế độ lu thông tiền giấy, ngang giá vàng không còn là cơ sở hình thành
tỷ giá hối đoái. Việc so sánh hai đồng tiền với nhau đợc thực hiện bằng so sánh sức
mua của hai tiền tệ với nhau, gọi là ngang giá sức mua của tiền tệ.
Ví dụ: Một hàng hoá A ở Mỹ mua với giá là 1USD, nhng ở Việt nam lại đợc
mua với giá là 15.000VND.
Ngang giá sức mua là: 1USD = 15.000 :1 = 15.000 VND
Đây là tỷ giá hối đoái giữa đô la Mỹ và đồng Việt nam.
Từ khi ra đời cho đến nay, lịch sử phát triển của tỷ giá hối đoái trải qua rất
nhiều giai đoạn. Trớc thế chiến thứ I (1914) nền kinh tế thế giới hoạt động theo chế
độ bản vị vàng. Trong chế độ này, vàng đợc coi là tiền tệ thế giới và đợc dùng nh một
công cụ dự trữ và tiền tệ thanh toán cuối cùng giữa các quốc gia. Đồng tiền của hầu
hết các nớc đều đợc đổi ra vàng, hình thành nên tỷ giá hối đoái cố định. Tuy nhiên,
- TGCĐ sẽ đảm bảo tính ổn định trong nền kinh tế, ổn định giá cả tạo ra môi tr-
ờng an toàn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh mà đặc biệt là hoạt động ngoại
thơng. Các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu không do dự về khả năng mất vốn, thua
thiệt trên mỗi khoản phải đòi hay phải trả do rủi ro của biến động tỷ giá; tạo niềm tin
không những cho dân chúng mà còn cho các nhà đầu t nớc ngoài muốn đầu t vào
Việt nam.
- Chế độ tỷ giá cố định cũng làm giảm bớt ảnh hởng của các cú sốc kinh tế từ
bên ngoài tới nền kinh tế trong nớc. Điều này có ý nghĩa lớn đối với những nền kinh
tế nhỏ vốn tự nó không thể chống đỡ đợc các tác động ngoại lại mạnh mẽ.
- Hạn chế sự bất ổn về lợi nhuận đầu t nớc ngoài và lợi nhuận trong ngoại thơng
và quản lý hành chính, công nợ nớc ngoài và dự trữ ngoại tệ trong nớc.
- Chế độ tỷ giá cố định trong đó tỷ giá đợc gắn với một ngoại tệ hay một rổ tiền
tệ có xét đến u thế, tỷ trọng thơng mại và nợ nớc ngoài của nớc này với các nớc tơng
ứng. Điều này sẽ giúp ổn định cán cân thanh toán thơng mại cũng nh các khoản nợ n-
ớc ngoài.
b. Nhợc điểm
- Chế độ tỷ giá cố định chỉ phát huy đợc trong điều kiện chế độ này đợc áp dụng
phổ biến trên toàn thế giới và nền kinh tế thế giới cũng đang ổn định, không có biến
động mạnh mẽ về giá cả. Nhng kinh tế chính trị thế giới luôn luôn vận động và phát
triển theo xu thế đi lên, vậy một nớc áp dụng và duy trì chế độ tỷ giá cố định trong
điều kiện nói trên là rất khó.
- Chế độ tỷ giá cố định đòi hỏi một quốc gia phải có quỹ dự trữ ngoại tệ đủ lớn
để ổn định tỷ giá trớc những biến động của cung cầu ngoại tệ, lạm phát và lãi suất
Điều này không phải quốc gia nào cũng đạt đợc.
- Chế độ tỷ giá này không khả thi trong điều kiện dự trữ eo hẹp do thâm hụt cán
cân thơng mại và cán cân TTQT, nợ nớc ngoài cao.
- Trên thực tế không phải quốc gia nào cũng có đủ khả năng nắm bắt và cung
cấp chính xác các số liệu thống kê có liên quan trong việc xác định tỷ giá nên sự lựa
chọn mức tỷ giá hối đoái cố định chịu sai số lớn. Sai số này có thể gây ảnh hởng
không tốt cho nền kinh tế.
- Độ rủi ro về biến động tỷ giá là rất cao đối với các nguồn thu nhập từ đầu t nớc
ngoài, nợ nớc ngoài Điều này gây trở ngại cho việc thiết lập một môi trờng ổn định,
đáng tin cậy để thu hút đầu t nớc ngoài. Đặc biệt là đối với những nhà kinh doanh
xuất khẩu, những ngời thờng xuyên có những khoản thu chi ngoại tệ, điều này sẽ ảnh
hởng trực tiếp đến lợi nhuận của họ.
- Mức biến động tỷ giá khó xác định trớc trong chế độ tỷ giá này có thể gây ra
những quy định vĩ mô sai lầm ảnh hởng đến mức tăng trởng kinh tế.
b. Chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý
Là chế độ tỷ giá trong đó có sự can thiệp của Chính phủ vào thị trờng hối đoái
thông qua việc mua bán các đồng tiền để can thiệp vào mức cung và cầu tiền tệ. Qua
đó, một tỷ giá hối đoái đợc hình thành và phản ánh đợc phần nào quan hệ cung cầu
ngoại tệ trên thị trờng ngoại hối, đồng thời thoả mãn đợc các mục tiêu phát triển của
nền kinh tế quốc gia trong từng thời kỳ nhất định.
* Ưu điểm
- Tỷ giá thả nổi có quản lý phần nào khắc phục đợc những nhợc điểm của chế
độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn vì nhờ có sự can thiệp đúng mức và kịp thời của NHNN
sẽ giúp cho thị trờng ngoại hối trong nớc bị ảnh hởng và biến động ít hơn trớc những
cú sốc về kinh tế trên thế giới.
Đặng Thanh Phong - Tài Chính A / K10B
5
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
- Cơ chế can thiệp vào tỷ giá thả nổi này sẽ phát huy đợc vai trò của công cụ giá
trong nền kinh tế, không thể để tỷ giá bị trôi nổi trớc những hoạt động đầu cơ ngoại
tệ, mà thực sự biến nó thành công cụ khuyến khích các hoạt động xuất khẩu, ngăn
cấm nhập khẩu cải thiện cán cân thơng mại.
- Ngày nay với nền kinh tế thị trờng, đa số các nớc đều áp dụng chế độ tỷ giá thả
nổi có quản lý. Do đó, tỷ giá hối đoái đã trở thành công cụ tài chính vô cùng quan
trọng trong quá trình quản lý kinh tế vĩ mô. Chính phủ không còn sử dụng công cụ tỷ
giá theo kiểu ấn định nó một cách chủ quan nh trong chế độ tỷ giá cố định nữa, mà
gây ra. Đối với các nớc này vai trò điều tiết vĩ mô của chính phủ là rất quan trọng.
2. Các hoạt động can thiệp của NHNN
Đặng Thanh Phong - Tài Chính A / K10B
6
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
2.1 Nghiệp vụ thị trờng mở
Là biện pháp tác động vào thị trờng hối đoái. NHNN hay các cơ quan hối đoái
của nhà nớc dùng nghiệp vụ trực tiếp mua bán ngoại hối để điều chỉnh tỷ giá. Khi tỷ
giá hối đoái tăng, NHNN bán ngoại tệ ra để kéo tỷ giá xuống. Ngợc lại, khi tỷ giá
giảm, NHNN sẽ dùng nội tệ để mua ngoại tệ vào nhằm kéo tỷ giá xuống.
Nhằm mục đích duy trì sự ổn định của tỷ giá hối đoái, nhiệm vụ mua bán ngoại
tệ đợc thực hiện trên cơ sở cung tiền tệ, diễn biến giá cả ngoại tệ trên thị trờng và ý
đồ can thiệp mang tính chủ quan của nhà nớc. Việc can thiệp này không có tính chất
áp đặt một cách máy móc và vi phạm các quy luật kinh tế của kinh tế thị trờng, mà
đây là hoạt động có cân nhắc tính toán kỹ lỡng những nhân tố của thực tại cũng nh
chiều hớng phát triển trong tơng lai của toàn bộ nền kinh tế. Do vậy, việc lựa chọn
các thời điểm cần mua, cần bán ngoại tệ trên thị trờng với tỷ giá nào để đạt đợc mục
tiêu đề ra - chính là một trong những vấn đề có ý nghĩa quyết định.
2.2 Chính sách chiết khấu
Là chính sách mà NHNN dùng cách thay đổi tỷ suất chiết khấu để điều chỉnh lãi
suất trên thị trờng tín dụng, do đó ảnh hởng gián tiếp đến tỷ giá hối đoái trên thị tr-
ờng.
Khi tỷ giá hối đoái lên cao đến mức nguy hiểm, muốn làm cho tỷ giá hạ xuống
thì NHNN nâng lãi suất chiết khấu lên làm cho lãi suất trên thị trờng tăng lên. Kết
quả là, vốn ngắn hạn trên thị trờng thế giới sẽ chạy vào nớc mình để thu lãi cao. Lợng
vốn chạy vào sẽ làm dịu căng thẳng của cầu ngoại hối, do đó tỷ giá hối đoái có xu h-
ớng hạ xuống.
Chính sách chiết khấu cũng chỉ có ảnh hởng nhất định và có hạn đối với tỷ giá
hối đoái bởi giữa tỷ giá hoạt động và lãi suất không có quan hệ nhân quả.
Tuy nhiên, không nên hoàn toàn coi thờng chính sách chiết khấu. Nếu tình hình
sự cân bằng của cán cân ngoại thơng, phần nào cải thiện đợc cán cân thanh toán quốc
tế.
- Khuyến khích nhập khẩu vốn, kiều hối, hạn chế xuất khẩu vốn ra bên ngoài
cũng nh là chuyển tiền ra ngoài nớc, do đó làm tăng khả năng cung ngoại hối, giảm
nhu cầu về ngoại hối, nhờ đó tỷ giá hối đoái sẽ giảm xuống.
- Khuyến khích du lịch vào trong nớc, hạn chế du lịch ra nớc ngoài.
Tác dụng chủ yếu của biện pháp phá giá tiền tệ là nhằm cải thiện tình hình của
cán cân ngoại thơng. Tuy vậy, tác dụng cải thiện cán cân ngoại thơng có trở thành
hiện thực hay không còn tùy thuộc vào khả năng đẩy mạnh xuất khẩu của nớc tiến
hành phá giá tiền tệ và năng lực cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu của nớc đó.
2.5 Nâng giá tiền tệ
Là việc nâng giá chính thức đơn vị tiền tệ của nớc mình so với ngoại tệ.
ảnh hởng của nâng giá tiền tệ đến ngoại thơng của một nớc hoàn toàn ngợc lại
với phá giá tiền tệ. Nâng giá tiền tệ trong điều kiện hiện nay có thể xảy ra dới áp lực
của các nớc khác khi mà các nớc này muốn tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá
nớc mình vào các nớc có cán cân thanh toán và các cân thơng mại thặng d.
Ngoài ra, một số nớc có nền kinh tế phát triển quá nóng, muốn làm lạnh nền
kinh tế để tránh khủng hoảng thì sẽ dùng biện pháp này để giảm đầu t vào trong nớc,
tăng xuất khẩu vốn, giảm xuất khẩu hàng hoá ra nớc ngoài.
Đặng Thanh Phong - Tài Chính A / K10B
8
§Ò ¸n Lý thuyÕt tµi chÝnh tiÒn tÖ
§Æng Thanh Phong - Tµi ChÝnh A / K10B
9
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
Chơng II :
Chính sách điều hành tỷ giá của Việt nam trong thời gian qua
Thành tựu và những mặt còn hạn chế
I - Chính sách tỷ giá của Việt nam giai đoạn 1986-1989
1. Thực trạng tình hình kinh tế trong giai đoạn 1986 - 1989
Đặng Thanh Phong - Tài Chính A / K10B
10
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
- Tỷ giá phi mậu dịch: Tỷ giá này đợc áp dụng trong thanh toán phi mậu dịch
giữa Việt Nam và các nớc XHCN nh việc thanh toán trong ngoại giao, học tập của
sinh viên, tính lơng cho các chuyên gia Liên Xô ở Việt Nam Tỷ giá này đợc tính
toán dựa trên sức mua đối nội của đồng tiền VND với sức mua đối nội của đồng tiền
các nớc XHCN khác.
- Tỷ giá kết toán nội bộ: là tỷ giá đợc dùng để chuyển đổi các khoản thu chi
ngoại tệ ra tiền VND trong tính toán nội bộ giữa các đơn vị kinh tế trong nớc và
NHNT Việt nam.
Do Nhà nớc thực hiện chính sách độc quyền về quản lý ngoại hối, toàn bộ số thu
ngoại tệ qua hoạt động xuất khẩu cũng nh các nguồn thu khác đều phải kết hối 100%
vào quỹ ngoại tệ chung của Nhà nớc. Còn các đơn vị xuất khẩu thu VND về tơng ứng
với số ngoại tệ thu đợc tính theo tỷ giá kết toán nội bộ. Đối với các đơn vị nhập khẩu
khi vay ngoại tệ của ngân hàng cũng tính chi phí bằng VND chuyển đổi theo tỷ giá
kết toán nội bộ. Chính vì vậy mà tỷ giá này là một thành phần quan trọng gắn với giá
cả, thu nhập của các đơn vị sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu.
3. ảnh hởng của chính sách tỷ giá đến hoạt động quản lý kinh tế vĩ mô và
hoạt động ngoại thơng
3.1 Đối với hoạt động quản lý vĩ mô
Hoạt động quản lý của Nhà nớc trên thị trờng ngoại hối bị mất dần tác dụng. Tỷ
giá hối đoái giữ vai trò thụ động, là phơng tiện để ngân hàng theo dõi tình hình xuất
nhập khẩu hàng hoá. Do vậy sự chênh lệch giữa tỷ giá thị trờng và tỷ giá chính thức
là rất lớn. Chính vì tỷ giá của nhà nớc quy định ở mức thấp nên các tổ chức và cá
nhân có ngoại tệ sẽ sử dụng ngoại tệ trực tiếp trên thị trờng. Ngoại tệ hầu nh bị thả
nổi, tự do mua bán trên thị trờng. Điều này không chỉ gây thiệt hại cho các khoản thu
của Nhà nớc mà còn làm phát sinh nhiều tiêu cực trong xã hội. Nó sẽ có tác động trở
lại tỷ giá kết toán nội bộ làm cho diễn biến tỷ giá trên thị trờng càng thêm phức tạp.
Nhà nớc đã không phát huy đợc vai trò điều tiết giá cả trên thị trờng ngoại hối.
Chính phủ cũng đợc cải cách để phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nớc.
* Đối với hoạt động ngoại thơng, chính phủ chủ trơng:
Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu thông qua hai biện pháp phá giá vá tự do
hoá một bộ phận đáng kể xuất khẩu vì xuất khẩu gia tăng có tác động tốt đối với
việc điều hành tỷ giá. Hoạt động nhập khẩu cũng đợc nới lỏng hơn nhng có quản lý
thông qua việc quy định hạn ngạch và chính sách thuế nhập khẩu. Mặt khác, chính
phủ còn tiến hành cải cách thuế, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập
khẩu.
* Đối với lĩnh vực tiền tệ - tín dụng:
- Nhà nớc thực hiện đổi mới nội dung và phơng pháp điều chỉnh chính sách tiền
tệ, cải cách hệ thống ngân hàng. Để ngăn chặn xu thế lạm phát cao đang hoành hành,
NHNN đã nâng lãi suất tiết kiệm lên có thời kỳ tới 12%/ tháng; đồng thời cắt giảm
hạn mức tín dụng đối với nền kinh tế, nhất là đối với khu vực kinh tế quốc tế quốc
doanh; giảm mức phát hành tiền tệ cho chi tiêu ngân sách. Các biện pháp này cũng
gián tiếp góp phần hạn chế tốc độ mất giá của đồng nội tệ.
- Chính phủ thực hiện việc cắt giảm chi tiêu cho các công trình đầu t cha cấp
thiết hoặc không quan trọng; cắt giảm, xoá bỏ tình trạng bao cấp, bù lỗ thông qua
ngân sách; tăng cờng các khâu tài chính. Những biện pháp này có tác dụng làm giảm
cầu hàng hoá và tiền mặt.
- Bắt đầu từ năm 1990, chính phủ chuyển dần cơ chế bù đắp thâm hụt NSNN
bằng vay dân, vay nớc ngoài thay vì phát hành tiền để trang trải nh trớc đây. Điều này
đã làm tăng khả năng kiểm soát lạm phát của chính phủ, hỗ trợ quá trình thống nhất
tỷ giá trên thị trờng tự do.
Đặng Thanh Phong - Tài Chính A / K10B
12
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
- Để phù hợp với tình hình mới, tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu và hoạt
động đầu t nớc ngoài, chính phủ đã có những cải cách về chế độ quản lý ngoại hối
theo hớng: giảm các thủ tục hành chính, nới dần các hạn chế, tăng cờng quản lý bằng
các công cụ kinh tế.
13
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
- Tình hình cán cân thanh toán
- Mục tiêu của chính sách tiền tệ
- Biến động của tỷ giá trên thị trờng tự do.
1.2 Hoạt động điều hành tỷ giá của NHNN
Bắt đầu từ năm 1989, hoạt động điều hành tỷ giá của NHNN có nhiều đổi mới
rõ rệt. Trên cơ sở phơng án lựa chọn nh trên, chính phủ đã thả nổi TGHĐ nhằm tạo
lập quan hệ cung cầu đồng thời mạnh dạn nâng lãi suất tiền gửi lên mức siêu caođể
thu hút tiền gửi từ nền kinh tế. Các NHTM áp dụng tỷ giá giao dịch của mình trong
biên độ 5% so với giá chính thức ( biên độ này sau đó đợc mở rộng đến 10%, 15%,
30%). Mặc dù vậy cơ chế xác định tỷ giá cha thực sự linh hoạt, tỷ giá chính thức vẫn
đợc coi là chậm đợc điều chỉnh do tỷ giá chính thức và tỷ giá trên thị trờng chợ đen
ngày càng chênh lệch.
Trớc tình trạng giá USD leo thang, VND bị mất giá mạnh, giá cả hàng nhập
khẩu tăng nhanh - thúc đẩy lạm phát; từ năm 1992, Chính phủ đã thay đổi chính sách
quản lý ngoại tệ và đổi mới cơ chế điều hành TGHĐ giữa VND và USD :
- Thay thế biện pháp hành chính, bắt buộc các đơn vị kinh tế quốc doanh có
ngoại tệ phải bán cho ngân hàng theo tỷ giá ấn định bằng biện pháp kinh tế nh mở
trung tâm giao dịch ngoại tệ để cho các doanh nghiệp và ngân hàng trao đổi, mua bán
ngoại tệ với nhau theo giá thoả thuận.
- Bãi bỏ hình thức quy định tỷ giá nhóm hàng trong thanh toán ngoại thơng giữa
ngân sách và các tổ chức tham gia hoạt động xuất nhập khẩu. Thay vào đó, trên cơ sở
tỷ giá hình thành tại các phiên giao dịch ngoại tệ, NHNN công bố tỷ giá chính thức.
- Chính phủ đã sử dụng những biện pháp để thắt chặt tiền tệ nh khống chế mức
cung tiền, hạn chế tối đa việc cấp phát cho chi tiêu NSNN. NHNN đã thành lập các
trung tâm giao dịch ngoại tệ và việc điều hành tỷ giá của NHNN đợc thông qua các
trung tâm giao dịch ngoại tệ đó, gồm trung tâm giao dịch ngoại tệ ở thành phố Hồ
Chí Minh và một trung tâm giao dịch ở Hà Nội. NHNN không can thiệp trực tiếp vào
tỷ giá nh trớc nữa mà chỉ điều hành thông qua công cụ gián tiếp là quỹ điều hòa
10.720
10.650
84,3
84,8
Đặng Thanh Phong - Tài Chính A / K10B
15
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
Nguồn: Học Viện Ngân Hàng
Cùng với sự khởi sắc của hoạt động ngoại thơng và hoạt động đầu t nớc ngoài,
đồng USD trong thời kỳ này đã tăng liên tục so với đồng nội tệ. Diễn biến của tỷ giá
đợc thể hiện rõ trong bảng trên.
Trong thời gian này, NHNN đã dần nâng tỷ giá, nhng vẫn chỉ là lẽo đẽo theo
sau tỷ giá chợ đen nên đã làm cho số ngoại tệ thu hút bị giảm đi. Khi giá USD tăng
cao đã kích thích tâm lý dự trữ USD để tránh bị trợt giá nếu giữ bằng VND và hiện t-
ợng đầu cơ USD để hởng chênh lệch giá. Ngoại tệ mạnh vốn đã khan hiếm lại không
đợc dùng cho hoạt động xuất nhập khẩu mà bị buôn bán vòng vèo qua các cá nhân,
tổ chức trong nớc.
Trong tình hình nh vậy, NHNN không phát huy đợc vai trò quản lý ngoại tệ của
mình. Về mặt chính sách, chính phủ đã tiến hành quản lý chặt đối với lu thông ngoại
tệ và tỷ giá hối đoái. Nhng trên thực tế tỷ giá hối đoái đã bị thả nổi, vợt tầm kiểm
soát nhất định của NHNN nên thời kỳ 1989 - 1992 còn đợc coi là thời kỳ thả nổi tỷ
giá.
1.4 ảnh hởng của chính sách tỷ giá và những biến động của tỷ giá đối với hoạt
động ngoại thơng trong thời kỳ này
Hoạt động ngoại thơng trong thời kỳ 1989 - 1992 có những chuyển biến rõ rệt.
Kim ngạch xuất nhập khẩu tăng liên tục qua các năm. Trong thời kỳ này, xuất khẩu
gia tăng, thâm hụt cán cân thơng mại giảm dần qua các năm, đặc biệt là năm 1992.
Khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam tăng lên năm 1992 có sự góp
phần quan trọng của đồng VND bị phá giá mạnh tới 60% so với USD (1991).
1.5 Nhận xét
về Quy chế xác định, điều chỉnh và công bố tỷ giá hối đoái của VND với ngoại tệ.
Theo đó các NHTM đợc điều chỉnh tỷ giá linh hoạt hơn và NHNN chỉ thực hiện chức
năng là ngời giao dịch cuối cùng. Sự can thiệp của NHNN cũng chỉ ở mức độ cần
thiết, nhằm theo đuổi mục tiêu chính sách tiền tệ của từng thời kỳ. Tỷ giá hối đoái
cũng đợc xác định một cách khách quan hơn, phù hợp hơn với quan hệ cung cầu
ngoại hối trên thị trờng.
Cũng nhờ quyết định kịp thời đó mà khoảng cách giữa tỷ giá trên TTNTLNH và
trên thị trờng tự do đợc thu hẹp dần. Ngân hàng ngày càng thu hút thêm nhiều ngoại
tệ tiền gửi. Điều này góp phần làm tăng khả năng thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài
của Việt Nam.
Nh vậy trong thời kỳ này NHNN đã thi hành chính sách tỷ giá mềm dẻo, năng
động, phù hợp với quan hệ cung cầu ngoại hối trên thị trờng và hớng điều tiết của
chính phủ nhằm ổn định giá cả của VND và khuyến khích hoạt động xuất khẩu.
2.2 Diễn biến tỷ giá
Tình hình tỷ giá trong giai đoạn này nhìn chung tơng đối ổn định, mức độ dao
động nhỏ.
Tỷ giá USD bình quân các năm nh sau:
Năm 1993 1994 1995 1996
Tỷ giá chính thức
10.642 10.956 11.021 11.025
Tỷ giá trên thị trờng tự do 10.705 10.978 11.041 11.010
Đặng Thanh Phong - Tài Chính A / K10B
17
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
Nguồn: Vụ Quản Lý Ngoại hối NHNN
Trong thời kỳ này, khoảng cách giữa tỷ giá trên TTNTLNH và trên thị trờng tự
do đợc thu hẹp dần. Biến động về tỷ giá qua các năm ở mức độ nhỏ nên thời kỳ 1993
- 1996 còn đợc gọi là thời kỳ ổn định tỷ giá.
2.3 Tác động của chính sách tỷ giá đối với hoạt động Ngoại thơng.
Trong thời kỳ này, chính sách tỷ giá và hoạt động điều hành tỷ giá của NHNN
là quan trọng nhất. Trong hoàn cảnh kinh tế nớc ta lúc đó nếu nh Chính phủ tuyên bố
phá giá VND thì chắc chắn những bất ổn sẽ xuất hiện.
Đặng Thanh Phong - Tài Chính A / K10B
18
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
Chính vì những đặc điểm đó mà có thể nhận định rằng chính sách tỷ giá hối
đoái trong giai đoạn 1993 - 1996 của Việt nam nhìn chung là hợp lý - thể hiện những
nỗ lực của chính phủ và NHNN trong việc cải cách và hoàn thiện cơ chế điều hành tỷ
giá. Song cũng phải thừa nhận rằng chính sách này vẫn cha thực sự rõ ràng, việc đánh
giá VND vẫn cha phản ánh đúng sức mua của đồng nội tệ. Điều này đòi hỏi NHNN
cần phải linh hoạt hơn nữa trong việc xác định và điều hành tỷ giá. Có nh vậy chúng
ta mới có thể đi lên với những bớc tiến vững chắc trên tiến trình công nghiệp hóa,
hiên đại hóa đất nớc trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.
III . Chính sách tỷ giá của Việt nam từ 1997 đến nay
1. Tình hình kinh tế - tài chính trong nớc
a. Tăng trởng kinh tế và lạm phát
Từ năm 1997 đến năm 1999, tốc độ tăng trởng GDP có xu hớng giảm dần, nh
năm 1997: tăng 8,8%, năm 1998: tăng 3,8%; năm 1999: tăng 5,7%; Tốc độ tăng tr-
ởng nh vậy đợc đánh giá là cha đủ để giải quyết những nhu cầu phát triển của đất n-
ớc. Hiện tợng suy thoái đang kéo theo nguy cơ gây bất ổn định kinh tế vĩ mô khi có
những biến động lớn. Tuy nhiên, từ năm 2000 đến nay, tình hình kinh tế đã có dấu
hiệu tăng trởng trở lại, năm 2000 tốc độ tăng trởng đạt 6,7%; chín tháng đầu năm
2001 tăng 7%, dự kiến mức tăng trởng cả năm là 7,1%.
Trong giai đoạn này tình hình lạm phát có nhiều biến động thất thờng song vẫn
thuộc phạm vi kiểm soát của Chính phủ. Lạm phát năm 1997: 3,7%; năm 1998:
3,5%; năm 1999 chỉ số giá tiêu dùng tăng 0,1%; năm 2000 chỉ số giá tiêu dùng đã
giảm 0,6%; năm 2001 chỉ số tiêu dùng chỉ tăng ở mức 5,2% so với năm 2000.
b. Tình hình tài chính và hoạt động ngân hàng.
Tình hình hoạt động tài chính và hoạt động ngân hàng đợc đánh giá là khá trầm
lắng và tẻ nhạt. Thâm hụt ngân sách tiếp tục tăng, năm 1997 là 3,5%; năm 1998 là
nghĩa vụ bán và quyền mua ngoại tệ của ngời c trú là tổ chức. Đây đợc coi là giải
pháp tình thế để giảm bớt căng thẳng giữa cung và cầu ngoại tệ.
Ngày 30/ 8/ 1999 Thủ tớng Chính phủ đã ký quyết định số 18/ 1999 QĐ/ TTg
theo đó ngời c trú là tổ chức phải bán ngay tối thiểu 50% số ngoại tệ thu đợc từ các
nguồn thu vãng lai cho các ngân hàng đợc phép kinh doanh ngoại tệ thay vì 80% nh
trớc đây. Mặt khác để tăng cờng hoà nhập quốc tế, Chính phủ đã ban hành cơ chế
quản lý ngoại hối mới thay cho cơ chế quản lý ngoại hối cũ, thể hiện ở nghị định 63/
NĐ-CP (17/ 8/ 1998). để tăng cờng vai trò quản lý ngoại hối của nhà nớc.
Ngày 25/2/1999 Thống đốc NHNN đã ban hành quyết định số 46 về việc công
bố tỷ giá hối đoái của VND với các ngoại tệ và quyết định 65 về việc quy định
nguyên tắc xác định tỷ giá mua bán ngoại tệ của các tổ chức tín dụng đợc phép kinh
doanh ngoại tệ.
Nh vậy, từ tháng 2/ 1999 Việt Nam đã áp dụng chế độ tỷ giá hối đoái MARS
( Market Average Rate System - hệ thống tỷ giá bình quân thị trờng). Theo hệ thống
này thì thay vì thông báo tỷ giá chính thức (USD/ VND) với biên độ dao động 7%,
NHNN thông báo tỷ giá liên ngân hàng trung bình của ngày hôm trớc và các giao
dịch ngoại hối đợc phép giao động trong biên độ 0,1%. Với việc ban hành hai quyết
định trên, NHNN tiếp tục hoàn thiện chính sách tỷ giá hối đoái, phù hợp với các mục
tiêu chung của toàn bộ nền kinh tế. Điều này cũng cho thấy xu hớng tự do hóa rõ rệt
hơn trong điều hành tỷ giá hối đoái có sự điều tiết của Nhà nớc.
2.2. Hoạt động điều hành tỷ giá của NHNN
Đặng Thanh Phong - Tài Chính A / K10B
20
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
Từ năm 1997 đến nay, trớc những diễn biến phức tạp của tình hình quốc tế và
khu vực, hoạt động điều hành tỷ giá của NHNN đã trở nên linh hoạt và sôi động
hơn giai đoạn trớc. NHNN đã nhiều lần điều chỉnh tỷ giá chính thức và biên độ giao
dịch kinh doanh ngoại tệ của các NHTM. Năm 1998, NHNN tiếp tục việc kiểm soát
lãi suất trên thị trờng tiền tệ bằng chính sách quy định trần lãi suất cho vay đối với
VND và USD. Trên cơ sở đó các tổ chức tín dụng ấn định các mức lãi suất huy động
xuất khẩu của ta thiếu sức cạnh tranh trên thị trờng quốc tế.
- Nhập khẩu:
Đặng Thanh Phong - Tài Chính A / K10B
21
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
Năm 1997, nhập khẩu giảm so với năm 1996, tỷ lệ nhập siêu cũng giảm theo.
Hoạt động kiểm soát nhập khẩu đã đợc triển khai một cách tích cực. Hoạt động nhập
khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài cũng chững lại. Một số doanh
nghiệp đứng trớc nguy cơ phải ngừng hoạt động do khả năng xuất khẩu giảm hoặc do
chi phí đầu vào tăng vì giá hàng nhập khẩu đang cao lên trông thấy.
* Hoạt động xuất nhập khẩu năm1998:
- Xuất khẩu:
Hoạt động xuất khẩu đã chững lại trong năm1998 đạt 9.361 triệu USD so với kế
hoạch ban đầu là 11 tỷ USD. Điều này là do khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt
Nam trên thị thị trờng quốc tế bị giảm sút mạnh mẽ. Tác nhân chính làm cho xuất
khẩu của Việt Nam năm 1998 chững lại là:
+ Sức mua của các bạn hàng chủ chốt trong khu vực Châu á giảm mạnh.
+ Khả năng cạnh tranh của các mặt hàng xuất khẩu Việt Nam yếu đi do đồng
tiền của các nớc trong khu vực mất giá. Điều đáng lu tâm là hầu hết các mặt hàng
xuất khẩu chủ lực của ta lại trùng lắp với các nớc có đồng tiền bị mất giá.
+ Nhu cầu tiêu thụ giảm của Châu á đã làm cho giá thế giới của một số mặt
hàng giảm khá mạnh, trong đó có nhiều hàng thuộc diện anh cả đỏ trong chiến lợc
xuất khẩu của Việt Nam.
- Nhập khẩu:
Hoạt động xuất khẩu năm 1998 có nhiều điểm khác biệt so với các năm trớc.Tỷ
lệ nhập siêu giảm rõ rệt. Kim ngạch nhập khẩu năm 1998 giảm ở mức 10.160 triệu
USD. Biện pháp nâng tỷ giá USD/ VND lên so với năm 1997 đã góp phần quan trọng
trong việc hạn chế nhập khẩu, khuyến khích xuất khẩu. Nhng trong bối cảnh đồng
tiền các nớc trong khu vực mất giá mạnh, hoạt động nhập khẩu của Việt nam cũng bị
ảnh hởng nhiều.
của NHNN.
Những thành quả bớc đầu này là kết quả của việc thực thi hàng loạt các giải pháp
đồng bộ mà chính phủ đề ra. Trong đó chính sách tỷ giá hối đoái đóng vai trò quan
trọng. Trớc bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động, NHNN đã kịp thời điều
chỉnh chính sách ngoại hối và chính sách tỷ giá của mình.
Trong khoảng thời gian 1990 - 1996, NHNN áp dụng chính sách tỷ giá cố định,
có điều tiết nhẹ. Chính sách này đã góp phần quan trọng vào việc ổn định tiền tệ và
điều tiết hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam. Nhng khi lạm phát ở mức thấp,
xuất khẩu cần đợc đẩy mạnh thì chính sách trên không còn phù hợp nữa. NHNN đã
sớm khắc phục hạn chế này và điều chỉnh thông qua hai quyết định nới rộng biên
động hối đoái cho các NHTM. Việc áp dụng biên độ mới 10% này ban đầu đã cho
phép các NHTM linh hoạt áp dụng tỷ giá tuỳ thuộc vào tình hình tiền tệ và mục tiêu
chung của toàn bộ nền kinh tế. Nhng do diễn biến phức tạp của cuộc khủng hoảng
Châu á đã tác động đến yếu tố tâm lý. Hiện tợng đầu cơ găm giữ ngoại tệ tăng dã tạo
ra nhu cầu USD giả tạo làm mất ổn định thị trờng ngoại hối. Mặt khác VND vẫn bị
giá cao tơng đối so với đồng tiền của các nớc trong khu vực. Đây là trở ngại không
nhỏ cho hoạt động xuất khẩu và mục tiêu ổn định tiền tệ.
Trớc tình hình đó, NHNN đã có biện pháp đối phó kịp thời bằng việc tăng tỷ giá
chính thức 5,6%. Bớc cải tiến này đã góp phần làm dịu sức ép đối với hoạt động thanh
toán đối ngoại tạo điều kiện rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữa tỷ giá chính thức
và tỷ giá trên thị trờng tự do. Đồng thời chính phủ cũng đã thu hẹp biên độ giao dịch
trên thị trờng NTLNH từ mức 10% xuống còn ở mức 7%.
Nhìn chung, việc đổi mới trong cơ chế điều hành tỷ giá của NHNN trong thời
gian qua bớc đầu đã đem lại kết quả khả quan. Thị trờng tiền tệ ở trạng thái ổn định,
xuất khẩu gia tăng. Tuy nhiên, hoạt động điều hành tỷ giá của NHNN vẫn còn mang
nặng tính hành chính. TGHĐ cha phản ánh sát thực sức mua của đồng Việt Nam. Do
đó hoạt động điều hành tỷ giá của NHNN vẫn cần phải đợc đổi mới hơn nữa để phù
Đặng Thanh Phong - Tài Chính A / K10B
23
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
năng tăng trởng kinh tế, diễn biến về lạm phát, cung cầu ngoại tệ, tình hình cán cân
thanh toán, và tơng quan lãi suất. Khi xem xét biến động tỷ giá USD tại Việt nam
trong thời gian gần hai năm qua, chúng ta không thể giải thích đợc nếu dựa vào phân
tích tơng quan tăng trởng và lạm phát tại hai nền kinh tế Mỹ và Việt Nam. Do sự
chênh lệch quá lớn về trình độ phát triển của hai nền kinh tế. Nếu áp dụng lý thuyết
một cách máy móc thì đây có thể coi là nghịch lý vì lạm phát tại Mĩ luôn cao do
kinh tế tăng quá nóng trong khi kinh tế Việt Nam lại trải qua giai đoạn đợc xem là
thiểu phát trầm trọng. Hơn nữa, ngay cả khi nền kinh tế Mĩ bộc lộ nguy cơ suy thoái
từ cuối năm 2000, trong khi tăng trởng GDP của Việt nam vẫn đợc hồi phục và duy
trì.
Đặng Thanh Phong - Tài Chính A / K10B
24
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
Vì vậy, chỉ có thể phân tích biến động tỷ giá USD tại Việt Nam trong thời gian
qua thông qua ba nhân tố còn lại là cung cầu ngoại tệ, cán cân thanh toán và lãi suất.
Trong thời gian qua, cung cầu ngoại tệ diễn ra căng thẳng do cung ngoại tệ thì
giảm mà cầu ngoại tệ thì tăng. Bên cạnh đó, nhân tố lãi suất đã biểu hiện gia tăng rõ
rệt về mức độ ảnh hởng. Để thực hiện mục tiêu kích cầu, khuyến khích đầu t chúng ta
đã liên tục hạ lãi suất VND, trong khi đó lãi suất USD trên thị trờng quốc tế lại liên
tục tăng. Do vậy, các doanh nghiệp không muốn vay USD mà chuyển sang vay VND,
dân c và cả các doanh nghiệp không muốn chuyển đổi USD sang VND, ngợc lại
muốn gửi USD trên tài khoản. điều đó làm cho nhu cầu về USD tăng lên, và cung về
USD đã giảm đi đáng kể.
Tuy nhiên, tình hình cán cân thanh toán vẫn là nhân tố ảnh hởng quyết định đến
tỷ giá của USD so với VND trong suốt thời gian qua. Trong năm 2000, nhu cầu ngoại
tệ của các doanh nghiệp nhập khẩu tăng lên rất nhiều. Từ đầu năm 2000, do tăng tr-
ởng kinh tế phục hồi cùng với việc chính phủ đẩy mạnh tiến trình tháo gỡ những hạn
chế hành chính với hoạt động nhập khẩu đã làm tăng mạnh nhu cầu nhập khẩu, nên
mặc dù xuất khẩu đã tăng khá nhng mức thâm hụt cán cân thơng mại vẫn gia tăng
đáng kể (năm 2000 là 892triệu USD). Trong nửa đầu năm 2001, tình hình tăng trởng