chiến lược mở rộng thị trường tiêu thụ dầu mỡ nhờn của xí nghiệp xăng dầu dầu khí - hà nội giai đoạn 2006 - 2010 - Pdf 13

LỜI MỞ ĐẦU
Những năm vừa qua nền kinh tế Việt Nam có những biến đổi sâu sắc: từ nên
kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế hàng hóa, từ cơ chế quản lý tập trung, bao cấp sang
hạch toán kinh doanh XHCN. Trong nền kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà
nước, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi phải đổi mới một cách toàn
diện.
Trong cơ chế thị trường các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải chủ
động trong công tác tổ chức kinh doanh và hạch toán kinh tế để thu được hiêu quả cao
nhất. Các doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm, các doanh nghiệp thương mại mua hàng
hóa, các doanh nghiệp dịch vụ tạo ra dịch vụ… đều để cung cấp sản phẩm hàng hóa
cho xã hội, điều đó thực hiện thông qua nghiệp vụ bán hàng. Trong cơ chế thị trường,
điều quan trọng và là sự quan tâm hàng đầu là làm thế nào sản phẩm hàng hóa dịch vụ
của mình được thị trường chấp nhận. Hiện nay với sự cạnh tranh gay gắt trên thị
trường, các doanh nghiệp đều quan tâm đến việc mở rộng thị phần của mình do đó các
doanh nghiệp cần đưa ra những chiến lược phù hợp với điều kiện hiện nay của mình
nhằm thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp.
Thời gian qua, tác giả được thực tập tìm hiểu về quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh của: Xí nghiệp xăng dầu dầu khí Hà Nội ( PDC- Hà Nội), từ những kiến
thức hiểu biết của mình về hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp tác giả chọn
đề tài “Chiến lược mở rộng thị trường tiêu thụ dầu mỡ nhờn của Xí nghiệp xăng
dầu dầu khí - Hà Nội giai đoạn 2006-2010” làm đồ án tốt nghiệp.
Nội dung đồ án gồm 3 phần chính:
- Chương 1: Các điều kiện sản xuất chủ yếu xí nghiệp
- Chương 2: Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của PDC- Hà Nội năm 2005.
- Chương 3: Chiến lược mở rộng thị trường tiêu thụ dầu mỡ nhờn của PDC- Hà
Nội giai đoạn 2006-2010.
Chương 1
Tình hình chung và các điều kiện sản xuất chủ yếu của
PDC Hà Nội
1.1 Giới thiệu chung
1.1.1. Sự hình thành và phát triển của xí nghiệp xăng dầu dầu khí Hà Nội

(Petrolimex). Hiện tại, kinh doanh xăng dầu đã trở thành hoạt động đem lại doanh thu
chủ yếu của đơn vị.
Cùng với những nỗ lực của bản thân để xây dựng một thương hiệu vững mạnh
cho đơn vị mình trên thị trường, tháng 12 năm 2004, PDC Hà Nội đã áp dụng hệ thống
quản lý chất lượng ISO 9001:2000 được tổ chức QUACERT cấp giấy chứng nhận và
được công nhận là đáp ứng tiêu chuẩn trong năm 2005. Đây được coi là lời khẳng định
của đơn vị đối với khách hàng về việc thực hiện các cam kết về chất lượng sản phẩm
mà mình cung cấp.
Thực hiện quyết định số 2699/QĐ-HĐQT ngày 30/9/2005 của Hội đồng quản
trị Tổng công ty dầu khí Việt Nam về việc thành lập Xí nghiệp dầu mỡ nhờn Hà Nội
trực thuộc Công ty chế biến và kinh doanh sản phẩm dầu mỏ, Xí nghiệp đang tiến
hành các công tác chuẩn bị để tách thành 2 xí nghiệp. Việc chia tách này sẽ giúp xí
nghiệp có thể tạo ra sự chủ động cho mỗi mảng kinh doanh xăng dầu và dầu mỡ nhờn.
Điều này tạo điều kiện để cán bộ công nhân viên trong mỗi mảng có thể tập trung hơn
vào hoạt động của mình góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của mỗi mảng kinh
doanh và của cả đơn vị.
1.1.2 Nhiệm vụ chức, năng của xí nghiệp PDC Hà Nội.
Lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của PDC Hà Nội là tổ chức tốt sản xuất kinh
doanh các sản phẩm dầu mỡ nhờn song từ năm 2001 PDC Hà Nội còn tham gia trong
việc phân phối bán buôn bán lẻ xăng dầu.
Chức năng, nhiệm vụ của PDC Hà Nội là:
 Sản xuất và kinh doanh các sản phẩm dầu mỡ bôi trơn với thương hiệu
PetroVietnam trên dây truyền công nghệ hiện đại.
 Tư vấn, cung cấp các dịch vụ về lĩnh vực bôi trơn thiết bị.
 Kinh doanh các sản phẩm dầu mỏ: xăng, dầu diesel, vật tư, thiết bị, hóa chất
và các sản phẩm hóa dầu khác.
 Quản lý và vận hành xưởng pha chế dầu mỡ nhờn công suất 5000 tấn/năm
tại Đông Hải-Hải An- Hải Phòng.
 Quản lý và điều hành các cửa hàng xăng dầu khu vực phía Bắc (từ Hà Tĩnh
trở ra)

mùa hè có nhiệt độ trung bình thấp hơn còn mùa đông lại có nhiệt độ trung bình cao
hơn.
Với đặc điểm về vị trí địa lý và khí hậu, xưởng pha chế dầu mỡ nhờn Đông Hải
có rất nhiều thuận lợi trong việc giao nhận hàng hoá. Hoạt động sản xuất của xưởng
hoàn toàn độc lập không làm ảnh hưởng đến môi trường xung quanh. Tuy nhiên, do
nằm xa trụ sở của xí nghiệp nên việc giám sát của ban lãnh đạo bị hạn chế hơn, phát
sinh thêm một số chi phí trong việc quản lý, điều hành hoạt động của xưởng.
1.2.2 Điều kiện công nghệ.
Công nghệ sản xuất dầu mỡ nhờn của PDC Hà Nội tương đối hiện đại. Quy
trình sản xuất được bán tự động hoá gồm 3 giai đoạn chính: nhập nguyên vật liệu; sản
xuất sản phẩm và đóng gói sản phẩm.

Hình 1-1: Quy trình sản xuất dầu mỡ nhờn
1.2.2.1. Quá trình nhập nguyên vật liệu:
Dầu gốc được nhập vào bể chứa từ xe ô tô xi-téc hoặc từ các phuy chứa. Từ bể
chứa, dầu gốc sẽ được bơm vào bể pha chế.
Phụ gia được nhập trực tiếp vào bể pha chế nếu như lượng pha chế thấp. Nếu
lượng pha chế lớn, phụ gia sẽ được pha loãng với một phần dầu gốc trước khi bơm vào
bể pha chế.
1.2.2.2. Quá trình sản xuất:
Dầu gốc và phụ gia được cấp vào 2 bể pha chế (BT-101, BT-102), có sử dụng
cân làm thiết bị khống lượng dầu và phụ gia cho mỗi mẻ theo tỷ lệ quy định được cài
đặt trong chương trình máy tính. Bể pha chế được thiết kế với hệ thống gia nhiệt để
đảm bảo chất lượng sản phẩm.
Kiểm tra: Trong quá trình pha chế, mọi yếu tố thời gian định lượng, nhiệt độ
đều được kiểm tra và quy định bằng hệ thống máy tính. Sản phẩm từng mẻ được lấy
mẫu kiểm tra nếu các mẫu đạt chỉ tiêu kỹ thuật thì công đoạn pha chế mới được coi là
hoàn thành. Dầu nhờn thành phẩm được bơm chuyển sang bể chứa sản phẩm chờ đóng
gói.
1.2.2.3. Quy trình đóng gói sản phẩm:

Kho
chứa sản
phẩm
 Đóng lon: gồm có 3 dây chuyền đóng lon với các loại có dung tích khác
nhau:
 Hộp tròn 0,7-1 lít.
 Hộp vuông 4 lít.
 Hộp tròn 20 lít.
 Dây chuyền đóng gói tự động: chuyển vỏ hộp, đóng gói và ép mút.
1.2.2.4. Các hoạt động phục vụ quá trình sản xuất:
* Xúc rửa đường ống, bể chứa:
 Hệ thống đường ống và bể pha chế, bể chứa phải được xúc rửa sạch khi thay
thế chủng loại dầu. Dầu gốc được bơm vào bể chứa dầu rửa (AT-103), gia
nhiệt và dùng bơm phun vào thành bể chứa. Dầu rửa được tập trung và đóng
phuy riêng để sử dụng kèm vào dầu gốc khi pha chế sản phẩm.
 Đường ống sản phẩm: Để làm sạch đường ống sản phẩm (từ bể pha chế tới
bể chứa sản phẩm) người ta sử dụng hệ thống “con heo” (Pig System) điều
khiển bằng khí nén.
* Chuẩn bị bao bì:
Vỏ phuy được sơn màu, mác sản phẩm theo đúng quy định. Đặc biệt, phải kiểm
tra vệ sinh trong phuy trước khi đóng gói. Các loại hôp, lon nhỏ được tập trung và đưa
vào dây chuyền đóng gói theo đúng chủng loại, có kiểm tra.
* Vận chuyển:
Các loại sản phẩm sau khi được đóng gói được chuyển ra bãi (đối với phuy)
hoặc đưa ra kho chứa (đối với lon, hộp) bằng xe nâng hàng bánh lốp. Qua sơ đồ công
nghệ sản xuất, ta thấy xưởng pha chế không có sản phẩm dở dang. Do các sản phẩm
được sản xuất riêng biệt nên sau mỗi lần pha chế nếu không đạt yêu cầu thì pha chế
lại.
1.2.3 Bộ máy tổ chức và cơ cấu lao động của PDC Hà Nội.
1.2.3.1 Bộ máy tổ chức và chức năng nhiệm vụ các bộ phận

PGĐ phụ trách
KD & nhập
khẩu DN
Phòng KD
DN &
BLXD
Phòng
Tổng hợp
Phòng
TCKT
Phòng
KDXD
- Xưởng Đông
Hải.
- Các CHXD.
- CH bán lẻ DMN.
PGĐ thường
trực & phụ
trách KD XD
(QMR)
hiểm và các chế độ chính sách với người lao động tổ chức các công tác đoàn
thể và xây dựng quy chế của xí nghiệp.
b. Chức năng, nhiệm vụ của phòng kinh doanh dầu nhờn và bán lẻ xăng dầu.
 Quản lý cơ sở vật chất, tổ chức sản xuất kinh doanh dầu mỡ nhờn.
 Quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh của các cửa hàng bán lẻ xăng
dầu, dầu mỡ nhờn do công ty PDC trực tiếp đầu tư xây dựng và giao cho
đơn vị quản lý.
 Phối hợp cùng các phòng chức năng để thực hiện hợp đồng kinh doanh
dầu mỡ nhờn, bảo đảm phục vụ khách hàng tốt nhất.
 Thực hiện các nhiệm vụ khac do giám đốc giao phó.

Qua sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của xí nghiệp có thể nhận xét:
 Xí nghiệp đã áp dụng mô hình cơ cấu hỗn hợp kết hợp với cơ cấu chức
năng. Theo cơ cấu này, giám đốc được giúp sức bởi các phòng ban chức
năng trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh.
 Kiểu cơ cấu này phát huy năng lực chuyên môn của các bộ phận chức
năng vừa đảm bảo yêu cầu quyền chỉ huy của hệ thống trực tuyến và tận
dụng được toàn bộ năng lực của CBCNV.
1.2.3.2 Tình hình tổ chức lao động tại xí nghiệp PDC Hà Nội.
Hiện nay PDC có 133 cán bộ công nhân viên. Để thấy rõ hơn kết cấu ,
số lượng lao động của xí nghiệp chúng ta theo rõi bảng dưới đây:
Bảng phân tích kết cấu và số lượng lao động của xí nghiệp PDC Hà Nội
Bảng 1-2
Chỉ tiêu
Số lượng thực tế So sánh năm 2005 / 2004
Năm 2004 Năm 2005 +/- %
Tổng số lao động 135 133 -2 98,52
Trình độ văn hoá
Đại học, trên đại học 63 62 -1 98,41
Cao đẳng và trung cấp 14 13 -1 92,86
Sơ cấp 42 42 0 100
Phổ thông 16 16 0 100
Tuổi
Dưới 30 40 39 -1 97,5
Từ 31 - 40 52 52 0 100
Từ 41 - 45 14 14 0 100
Trên 45 29 28 -1 96,55
Trong năm 2005, số lượng lao động của đơn vị giảm 2 người do nghỉ hưu và
thay đổi công tác. PDC không có sự bổ sung về nhân sự. Như vậy, về cơ cấu nhân sự
của PDC Hà Nội không có thay đổi lớn.
Chất lượng lao động của đơn vị có thể nói là khá cao. Lượng lao động có trình

Phòng tổng hợp kết
hợp phòng kế toán
Giám đốc xí
nghiệp
Xí nghiệp
Giám đốc
công ty
Xí nghiệp
Xác định căn cứ lập kế hoạchNăng lực của
XNChỉ tiêu KH định hướng của cấp trênNghiên
cứu thị trườngCác văn bản của Nhà nức và cấp
trênCác quy định nội bộ của XN
Bổ
sung
điều
chỉnh
Bổ
sung
điều
chỉnh
năm của xí nghiệ. Sau khi công ty phê duyệt bản kế hoạch năm, xí nghiệp tổ
chức họp giao kế hoạch cho các đơn vị trực thuộc xí nghiệp.
Phòng tổng hợp kết hợp phòng kế toán dự thảo phương án kế hoạch
năm trên các căn cứ sau:
o Tình hình hình thực hiện kế hoạch năm vừa qua và các nhu cầu dự
kiến phát triển của ngành kinh tế quốc dân trong năm tới.
o Các ý kiến đóng góp về các biện pháp thực hiện công tác trong lĩnh
vực mình phụ trách cũng như những kiến nghị về cơ chế chính sách
đối với cơ quan cấp trên nhằm tạo điều kiện thực hiện hiệu quả kế
hoạch đặt ra.

hoàn thành kế hoạch tháng cũng không đạt mức chuẩn xác cao. Đây là một khó khăn
mà PDC Hà Nội đang gặp phải trong giai đoạn đầu hoạt động của mình. Trong thời
gian tới, với những kinh nghiệm tích luỹ được qua các năm hoạt động vừa qua cùng
với việc tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị đi vào ổn định, công tác lập kế
hoạch của đơn vị sẽ có những thay đổi tích cực. Mức độ chuẩn xác của các bản kế
hoạch sẽ được nâng cao, sát với tình hình thực tế và có khả tính khả thi cao.
1.2.4.2. Phương hướng hoạt động năm 2006
a. Công tác sản xuất kinh doanh:
Đẩy mạnh kinh doanh trong lĩnh vực xăng dầu nhiên liệu, đặc biệt phải
đảm bảo ổn định nguồn hàng cung cấp cho khách hàng. Đối với kinh doanh
DMN, đơn vị có định hướng tập trung cho một số ngành kinh tế lớn: Điện,
than, quân đội và các công ty có năng lực tài chính mạnh song song với việc
giữ vững thị trường sẵn có và phát triển thêm thị trường mới; có kế hoạch và
phương án đầu tư cụ thể cho từng thị trường; có chính sách giá cả hợp lý để
có thể cạnh tranh được với các hãng dầu nội địa, tiếp tục xây dựng chiến lược
quảng cáo, tiếp thị, đào tạo nhân lực Đặc biệt, từ năm 2006, PDC Hà Nội sẽ
tập trung sử dụng phương thức bán hàng thông qua tổng đại lý và đại lý. Đơn
vị sẽ đầu tư xây dựng hệ thống đại lý bán hàng và thông qua hệ thống này để
mở rộng thị trường. Bên cạnh đó, xí nghiệp cũng phải đẩy mạnh việc tăng
cường công tác chất lượng, đảm bảo chất lượng sản phẩm tốt và chất lượng
dịch vụ hoàn hảo, theo đúng tiêu chuẩn ISO 9001-2000 của xí nghiệp đã được
chấp nhận, được cấp chứng chỉ và đang thực hiện.
Phấn đấu đạt chỉ tiêu doanh thu: 1.200 tỷ đồng, trong đó:
• Doanh thu xăng dầu: 1.190 tỷ đồng
• Doanh thu dầu mỡ nhờn: 10-15 tỷ đồng
• Khối lượng sản xuất và tiêu thụ DMN: 800 tấn
• Thu nhập bình quân: 5 triệu đồng/người-tháng
b. Công tác xây dựng cơ bản:
• Quyết toán các công trình XDCB của Công ty và Xí nghiệp theo tiến độ của
TCT.

doanh. Điều này sẽ đáp ứng được các yêu cầu khác nhau của mỗi
mảng kinh doanh, tạo điều kiện để đáp ứng tốt nhất yêu cầu của
khách hàng.
 Về phía công ty, XN đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của Lãnh
đạo Công ty, trong vấn đề ổn định tổ chức, chỉ đạo sát sao trong công
việc, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho XN trong sản xuất kinh doanh.
* Những khó khăn:
 Thị trường dầu mỡ nhờn của XN đang gặp khó khăn lớn. Sản phẩm
dầu mỡ nhờn của XN rất khó cạnh tranh với các doanh nghiệp trong
và ngoài nước. Việc phát triển thị trường DMN cực kỳ khó khăn,
phương thức mua bán không nợ chưa thực sự được ủng hộ từ phía
khách hàng.
 Công việc kinh doanh xăng dầu của XN nói chung còn mới mẻ đối
với thị trường miền Bắc, đặc biệt là đối với phương thức kinh doanh
mới theo Quyết định 187CP và 1505/BTM.
 Phương thức kinh doanh xăng dầu mới được áp dụng lần đầu tiên
theo Quyết định 187CP và Quyết định 1505/BTM đã làm thay đổi cơ
bản lĩnh vực KDXD và đặc biệt khó khăn đối với PDC Hà Nội, vốn
là doanh nghiệp mới bước vào kinh doanh.
 Năm 2005 thực sự là năm thay đổi lớn về giá xăng dầu. Giá cả không
ổn định và tăng tới mức kỷ lục đã ảnh hưởng rất nhiều tới hiệu quả
kinh doanh, cả lĩnh vực xăng dầu và dầu mỡ nhờn. Nguồn hàng cũng
bị ảnh hưởng do các tác động của giá xăng dầu nên nhiều lúc XN
không chủ động được.
 Việc sắp xếp công việc, điều động và bố trí cán bộ cũng gặp nhiều
khó khăn vì các lý do: yêu cầu công việc thay đổi, không phù hợp với
năng lực cán bộ, thiếu công việc phù hợp bố trí cho cán bộ tại địa bàn
Hà Nội, khó khăn về thị trường
 Cơ sở vật chất của XN chưa ổn định và còn kém. Sự phân tán của các
đơn vị kinh doanh cũng gây khó khăn trong công tác quản lý và điều

lầm những vấn đề tồn tại để đưa ra các biện pháp phát huy ưu điểm, khắc phục nhược
điểm ròi tìm ra các xu hướng phát triển của các vấn đề nghiên cứu.
Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh gắn liền với sản xuất kinh doanh của
xí nghiệp để đáp ứng nhu cầu kinh doanh ngày càng cao và phức tạp. Hoạt động này
hướng vào kết quả thực hiện và định hướng mục tiêu, các kế họach đã đề ra hoặc các
kết quả của các kỳ kinh doanh trước theo tháng, theo quý, theo năm…
Để xí nghiệp tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường hiện nay thì đòi hỏi xí
nghiệp phải kinh doanh có lãi chính vì điều này xí nghiệp phải thường xuyên phân tích
hoạt động sản xuất kinh doanh (HĐSXKD), định kỳ theo thời gian cụ thể để đánh giá
đúng mọi hoạt động kinh tế của xí nghiệp mình. Trên cơ sở đó xí nghiệp sẽ có những
biện pháp hữu hiệu và đưa ra những quyết định tối ưu để quản lý hoạt động sản xuất
kinh doanh của xí nghiệp mình.
Quá trình sản xuất kinh doanh được thể hiện qua nhiều mặt vì vậy khi phân tích
phải thể hiện qua nhiều góc độ để thấy hết thực trạng của xí nghiệp.Thông thường việc
phân tích đựơc thể hiện qua các chỉ tiêu sau:
+ Phân tích tổng sản lượng, chất lượng sản phẩm
+ Phân tích tổng chi phí doanh thu
+Phân tích tổng quỹ lương năng xuất lao động …
Việc lựa chọn các chỉ tiêu phân tích phải dựa trên đặc điểm của doanh nghiệp,
loại mặt hàng sản xuất…Ngoài ra các chỉ tiêu phải được phân tích trong mối liên hệ
với các chỉ tiêu khác như vốn, tài sản…
Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh chiếm một vị trí quan trọng trong quá
trình hoạt động của xí nghiệp.Đó là một trong những biện pháp mà các daonh nghiệp
thường sử dụng để quản lý kinh tế. Trong nền kinh tế hiện nay việc phân tích hoạt
động sản xuất kinh doanh ngày càng được coi trọng hơn. Cũng như các xí nghiệp khác
vấn đề đặt lên hàng đầu đối với PDC Hà Nội là hiệu quả kinh tế, mở rộng hoạt động
sản xuất kinh doanh vừa đảm bảo đời sống cho người lao động lại vừa hoàn thành
nghĩa vụ Nhà Nước giao phó. Để thực hiện được như vậy xí nghiệp phải thường xuyên
đánh giá đầy đủ chính xác mọi diễn biến và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh,
những mặt mạnh yếu trong mối quan hệ với môi trường xung quanh và tìm ra những

của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
2.1.3 Các phương pháp phân tích
Để phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của một xí nghiệp hay một doanh
nghiệp nào đó có rất nhiều phương pháp để lựa chọn phân tích hợp lý như: Phương
pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp sử dụng các công cụ toán kinh
tế,phương pháp kinh tế kỹ thuật,. Phương pháp phân tích có ý nghĩa quan trọng đối
với kết quả phân tích giúp chúng ta hiểu rõ bản chất của hiện tượng kinh tế và quá
trình thực hiện kế hoạch.
1.Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất trong phân
tích để xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích. Vì vậy để tiến
hành so sánh ta phải giải quyết các vấn đề như: xác định số kỳ gốc, điều kiện so sánh,
và xác định mục tiêu so sánh.
Các trị số chỉ tiêu ở kỳ trước hoặc năm trước gọi là trị số kỳ gốc, thời kỳ chọn
làm gốc để so sánh gọi là kỳ gốc, thời kỳ chọn để phân tích gọi là kỳ phân tích.
Phương pháp so sánh bao gồm : so sánh tuyệt đối, tương đối và bình quân.
So sánh thực tế với số kế hoạch để biết được mức độ hoàn thành kế hoạch của
xí nghiệp hay doanh nghiệp là bao nhiêu.
So sánh thực tế với định mức để giúp chúng ta nhận ra được tiềm năng chưa
nhận sử dụng hết.
So sánh thực tế với chỉ tiêu kỳ trước giúp chúng ta tìm ra được nguyên nhân
của sự biến cố đồng xác định quy luật phát triển của các hiện tượng kinh tế.
2.Phương pháp chỉ số.
Xuất phát của phương pháp này là tổng thể hiện tượng kinh tế bị biến đổi theo
thời gian và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau.
Để khảo sát sự biến động của tổng thể kinh tế, ta khảo sát riêng từng nhân tố
ảnh hưởng đến tổng thể kinh tế bằng cách khi nghiên cứu sự biến động của nhân tố
nào đó ta cố định các nhân tố còn lại.
Phương trình kinh tế: Q = a.b.c.d.e.f
Trong đó:

Q0, a0, b0, c0, kỳ phân tích.
- Số tuyệt đối: Q1- Q0 = ( a1- a0) b1. c1 + a0 ( b1- b0) c1 + a0. b0 ( c1- c0)
+
3.Phương pháp số bình quân.
Số bình quân là con số biểu hiện mức độ đại biểu theo một tiêu thức nào đó của
hiện tượng kinh tế bao gồm nhiều đơn vị cùng loại. Khi phân tích một hiện tượng kinh
tế, số bình quân được sử dụng rộng rãi để đo lường các chỉ tiêu như: năng suất lao
động, tiền lương, số CBCNV Nhờ việc tính số bình quân mà ta có thể khái quát được
đặc điểm của tổng thể, gạt bỏ ảnh hưởng của những nhân tố ngẫu nhên, cá biệt.
Ngoài các phương pháp trên, còn có các phương pháp khác như phương pháp
toán kinh tế, phương pháp thống kê, phương pháp thay thế liên hoàn và số chênh lệch,
phương pháp phân tích kinh tế- kỹ thuật.
2.2. Đánh giá tình hình chung hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp PDC
– Hà Nội năm 2005
Năm 2005 là năm thứ năm đi vào hoạt động của xí nghiệp vì thế xí nghiệp đã
bắt đầu chú ý tập trung mở rộng thị trường, tăng trưởng các hoạt động với đa dạng hóa
các chủng loại mặt hàng. Xí nghiệp lấy nhu cầu thị trường làm căn cứ cho việc thực
hiện và xây dựng kế hoạch của mình. Các hoạt động chính của xí nghiệp là:
 Quản lý và vận hành xưởng pha chế dầu nhờn Đông Hải _ Hải Phòng
với công suất 5000 tấn/năm.
 Sản xuất kinh doanh các sản phẩm dầu mỡ bôi trơn
 Kinh doanh các sản phẩm dầu mỏ: xăng, diezel, dầu FO, hóa chất…
và các sản phẩm hóa dầu.
 Quản lý và vận hành các cửa hàng xăng dầu khu vực phía Bắc
Để phát huy những kết quả đã đạt được PDC Hà Nội phấn đấu giữ vững tốc
độ tăng trưởng và phát triển theo hướng sau:
- Hoàn thành mức kế hoạch và chỉ tiêu kinh tế _ xã hôi
- Đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao năng lực sản xuất
- Tiêu chuẩn hóa phương pháp cách thức làm viêc
- Trơ thành một đơn vị kinh doanh xăng dầu có uy tín và vị thế trênthị

của xí nghiệp . Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, xí nghiệp pơhảI sản xuất nhiều
loại mặt hàng đap ứng nhu cầu của khách hàng, hiện nay sản phẩm sản xuất chính của
xí nghiệp gồm bốn loại dầu đó là các loại : dầu đọng cơ , dầu công nghiệp , dầu
trưyền động và dầu thủy lực.
Bảng phân tích tình hình sản xuất theo loại sản phẩm
Bảng 2.2
Từ bảng 2.1 cho thấy tổng sản lượng sản xuất chỉ đạt 70,8% so với kế hoạch
năm tương ứng giảm 274,6 tấn so với kế hoạch. Về mặt tổng quát sự tăng trưởng các
mặt hàng không đồng đều nhau và mất cân đối. Trong các mặt hàng do nghiệp sản
xuất thì dầu động cơ và dầu công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn. Dầu động cơ trong năm
2005 đạt 73 % so với kế hoạch tương ứng với giảm 139,6 tấn so với kế hoạch và giảm
87 tấn so với năm 2004. Dầu công nghiệp cũng giảm so với năm 2004 đạt 75,6 %
tương ứng với giảm 54,4 tấn. Dầu truyền động so với kế hoạch cũng chỉ đạt 70,6 %
tương ứng giảm 19,1 tấn so với năm 2004 đạt 74,7 % tương ứng với 50,1 tấn. Dầu
thủy lực so với năm 2004 đạt 76,8 % giảm 50,1 tấn. Nguyên nhân là do xí nghiệp bị
mất một số đơn đặt hàng với khách hàng quân đội và khu công nghiệp Quảng Ninh. So
với kế hoạch đặt ra xí nghiệp đã không hoàn thành kế hoạch.
Trước tình hình trên công tác lập kế hoạch sản xuất cần phải tốt hơn để phù hợp
với điều kiện sản xuất của xí nghiệp. Sản phẩm của xí nghiệp chưa tiêu thụ hết mà vẫn
phải mua hàng từ bên ngoài vào do các mặt hàng này đòi hỏi chất lượng cao mà giá cả
ở mức trung bình, sản xuất thì chi phí cao dẫn đến giá thành sản phẩm không đủ sức
cạnh tranh với các sản phẩm khác trên thị trường.
Chính vì những nguyên nhân trên mà kế hoạch về mặt hàng theo loại sản phẩm
đặt ra của xí nghiệp cần có các biện pháp tích cực hơn trong khâu kĩ thuật, chất lượng
Sản phẩm
TH200
KH200
5
TH200
5

hơn nữa.
2.3.3 Phân tích theo chất lượng sản phẩm .
Cùng mặt hàng, mẫu mã sản phẩm, thì chất lượng sản phẩm là yếu tố quyết
định khả năng cạnh tranh trên thị trường. Nâng cao chất lượng sản phẩm làm tăng giá
trị sử dụng, kéo dài thời gian sử dụng sản phẩm tạo điều kiện thuận lợi cho công tác
tiêu thụ sản phẩm. Mặt khác xí nghiệp muốn giữ được uy tín của mình thì xí nghiệp
cần phải nâng cao chất lượng sản phẩm. Để phân tích chất lượng sản phẩm ta sung hệ
số phẩm cấp:
Hệ số phẩm cấp sản phẩm (H
pc
) là chỉ số cho phép chúng ta xác định xem sản
phẩm sản xuất ra có đạt phẩm cấp cho phép hay không và phân loại sản phẩm ở cấp độ
nào.
H
pc
Càng gần một thì sản phẩm làm ra có chất lượng càng cao
H
pc
=


=
=
n
i
n
i
PQi
PiQi
1

Loại 2 11.950 78,1 59,3
Dầu truyền động Loại 1 14.200 51,6 32,4
Loại 2 13.400 28,4 24,1
Dầu thủy lực Loại 1 13.700 97,3 59,3
Loại 2 12.900 50,7 38,6
- Đối với sản phẩm dầu động cơ
Kỳ kế hoạch: H
KH
=
950.13517
2,90150.138,426950.13
×
×+×
= 0,99
Kỳ thực hiện: H
TH
=
950.134,377
6,85150.138,291950.13
×
×+×
= 0,987
H
KH
> H
TH
chứng tỏ chất lượng sản phẩm dầu động cơ thực tế thấp hơn so với kế
hoạch. Điều này làm giảm giá trị chất lượng sản phẩm dầu động cơ

G

G
CL
= (0,978 - 0,98)
×
169
×
12.750 = - 4.309.500 đồng
Đối với dầu truyền động
Kỳ kế hoạch: H
KH
=
200.1480
4,28400.136,51200.14
×
×+×
= 0,98
Kỳ thực hiện: H
TH
=
200.145,56
1,24400.134,32200.14
×
×+×
= 0,976
H
KH
> H
TH
chứng tỏ chất lượng sản phẩm dầu truyền động thực tế thấp hơn so với
kế hoạch, làm cho giá trị chất lượng sản phẩm dầu truyền động giảm

hoạch, làm cho giá trị chất lượng sản phẩm dầu thủy lực giảm

G
CL
= (0,977 - 0,98)
×
97,9
×
13.700 = - 4.023.690 đồng
Vậy, Xí nghiệp đã tổn thất do không đảm bảo chất lượng sản phẩm
- 15.794.190 - 4.309.500 - 3.209.200 - 4.023.690 = - 27.336.580 đồng
Tóm lại, ta có thể thấy rằng các sản phẩm của xí nghiệp không đạt chất lượng
theo như kế hoạch đề ra làm cho giá trị sản lượng của cả 4 loại giảm đi
27.336.580(đồng).
2.3.4. Phân tích sự nhịp nhàng của quá trình sản xuất
Bảng 2.5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status