mô hình ngân hàng hồi giáo - hướng đi mới để phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại việt nam - Pdf 13

LỜI MỞ ĐẦU
1.SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Từ tháng 9 năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính – tín dụng ở Mỹ diễn
biến ngày càng phức tạp, khó lường và đã lan rộng trở thành cuộc khủng hoảng tài
chính và suy thoái kinh tế toàn cầu. Tình hình đó cùng với những khó khăn, yếu
kém nội tại của nền kinh tế trong nước và thiên tai liên tiếp…đã tác động tiêu cực
đến nhiều lĩnh vực của nền kinh tế nước ta. Trong lĩnh vực tài chính, điều may mắn
của nền kinh tế Việt Nam là thị trường tài chính của chúng ta chưa hoàn toàn hội
nhập với thị trường tài chính quốc tế. Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
vẫn hoạt động với hiệu quả cao, cụ thể là kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm rất
khả quan, nợ xấu vẫn nằm trong tầm kiểm soát. Tiêu dùng nội địa vẫn tăng trưởng
trên 20%. Đây là những tiền đề cơ bản để Việt Nam nhanh chóng vượt qua suy
thoái kinh tế. Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay, Việt Nam đã gia nhập WTO và
từng bước hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, các nguồn vốn nước ngoài
đang tiến tới chảy vào Việt Nam. Điều này vừa có thuận lợi là cung cấp nguồn vốn
cho đầu tư phát triển của đất nước nhưng cũng có khả năng gây ảnh hưởng mạnh
đến thị trường tài chính của chúng ta khi khủng hoảng tài chính toàn cầu tương tự
như cuộc khủng hoảng tài chính tín dụng nhà ở Mỹ xuất hiện. Hơn nữa việc hội
nhập vào nền kinh tế quốc tế đã đặt ra những thách thức cho các Ngân hàng
Thương mại, đó là sự tham gia của các tập đoàn tài chính đa quốc gia có thế mạnh
về tài chính, kỹ thuật và công nghệ. Trước tình hình đó bắt buộc các ngân hàng
thương mại có những bước cải cách trong định hướng phát triển chiến lược kinh
doanh của mình. Khi nền kinh tế đã được hội nhập, nhất là việc Việt Nam cam kết
mở cửa thị trường tài chính trong nước theo các cam kết đối với các đối tác nước
ngoài thì việc các ngân hàng thương mại nước ngoài có đủ nội lực, đó là vốn và
công nghệ sẽ thao túng thị trường tài chính Việt Nam. “Làm thế nào để có đủ sức
đứng vững khi có sự cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại nước ngoài”, câu
hỏi này luôn là những thách thức đối với các Ngân hàng thương mại Việt Nam, và
Mô hình ngân hàng Hồi giáo - Hướng đi mới để phát triển dịch vụ ngân hàng
bán lẻ tại Việt Nam
1

2.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Mục đích nghiên cứu là tìm hiểu mô hình ngân hàng Hồi Giáo, ưu điểm và
nhược điểm của mô hình này cùng với thực trạng hoạt động của các ngân hàng
thương mại Việt Nam, đặc biệt là mảng dịch vụ ngân hàng bán lẻ, để từ đó xây
dựng một hệ thống sản phẩm ngân hàng bán lẻ mới bổ sung vào hệ thống sản
phẩm, dịch vụ ngân hàng truyền thống đang được áp dụng hiện tại. Hệ thống sản
phẩm mới này được xây dựng và hoạt động theo nguyên tắc riêng của ngân hàng
Hồi giáo. Mục đích cuối cùng của tôi là giới thiệu cách thức xây dựng sản phẩm
ngân hàng bán lẻ theo mô hình ngân hàng Hồi giáo nhằm đa dạng hóa sản phẩm
ngân hàng truyền thống chứ không tham vọng đưa ra mô hình sản phẩm mới thay
thế hệ thống sản phẩm truyền thống hiện tại.
3.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mô hình ngân hàng Hồi Giáo cùng các
sản phẩm đi kèm. Phạm vi ứng dụng của mô hình này rất rộng, tuy nhiên trong
nghiên cứu này, tôi chỉ giới hạn trong việc ứng dụng mô hình ngân hàng Hồi giáo
vào mảng dịch vụ bán lẻ của ngân hàng thương mại nhằm đa dạng hoá dịch vụ do
ngân hàng cung cấp.
Tài liệu nghiên cứu tổng hợp trong và ngoài nước từ năm 2000 đến nay.
4.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Về phương pháp nghiên cứu, có rất nhiều cách tiếp cận nhưng tôi sử dụng
phương pháp thống kê - mô tả, phương pháp phân tích - tổng hợp, so sánh - đối
chiếu, diễn dịch – qui nạp và phương pháp quan sát từ thực tiễn để khái quát bản
chất của các vấn đề mà đề tài nghiên cứu.
Bên cạnh trình bày lý thuyết tôi cũng kết hợp lồng ghép thực tiễn vào trong
đó để cho thấy sự hài hoà của đề tài và làm cho những vấn đề mang tính chất lý
thuyết trở nên sống động và hấp dẫn hơn. Với phương pháp trình bày này, tôi hi
vọng sẽ mang đến cho người đọc sự thoải mái cũng như dễ dàng cảm nhận những
nội dung đang được trình bày.
Mô hình ngân hàng Hồi giáo - Hướng đi mới để phát triển dịch vụ ngân hàng
bán lẻ tại Việt Nam

Hệ thống quy tắc Shariah là hệ thống luật pháp tôn giáo Hồi giáo bao gồm
tất cả mọi thứ trong cuộc sống hàng ngày từ việc ăn và ngủ cho đến chính trị và
chính phủ, nó bao gồm hệ thống pháp luật hình sự và dân sự cũng như qui định về
phẩm chất cá nhân con người bao gồm vấn đề đạo đức và các vấn đề cá nhân. Hệ
thống quy tắc này được xây dựng trên nền tảng kinh Koran và tôn giáo của đạo
Hồi. Vì vậy, theo định nghĩa trên thì các quốc gia Hồi giáo có chế độ chính trị thần
quyền, các văn bản tôn giáo cũng là các văn bản pháp luật.
Theo luật Hồi giáo thì mọi hoạt động kinh tế bị cho là có hại về đạo đức và
xã hội đều bị cấm. Các cá nhân phải sử dụng thận trọng tài sản của mình, không
găm giữ, để nhàn rỗi hay lãng phí tài sản. Luật Shariah của người Hồi giáo cấm áp
dụng lãi suất, buôn bán rượu và thịt lợn, kinh doanh bài bạc và các sản phẩm , dịch
vụ đồi truỵ…Người theo đạo Hồi phải có nghĩa vụ đóng góp một phần tài sản của
họ cho những bộ phận nghèo túng trong xã hội hồi giáo.
1.1.2.Vai trò của ngân hàng Hồi giáo
Giống như ngân hàng truyền thống, ngân hàng Hồi giáo cũng có một số vai
trò nhất định đối với nền kinh tế và các chủ thể tham gia vào ngân hàng.
1.1.2.1. Đối với nền kinh tế
Thứ nhất, ngân hàng Hồi giáo có vai trò tập trung nguồn vốn của nền kinh
tế. Trong nền kinh tế có những chủ thể có dư tiền và khoản tiền đó chưa được sử
dụng một cách triệt để (ví dụ như vẫn còn cất giấu trong nhà chưa được mang ra
Mô hình ngân hàng Hồi giáo - Hướng đi mới để phát triển dịch vụ ngân hàng
bán lẻ tại Việt Nam
5
lưu thông) nhưng họ cũng muốn tiền này sinh lời cho mình và cũng có những chủ
thể cần tiền để hoạt động kinh doanh. Nhưng những chủ thể này không quen biết
nhau và cũng có thể không tin tưởng nhau nên tiền vẫn chưa được lưu thông. Ngân
hàng Hồi giáo với vai trò trung gian của mình, nhận tiền từ người muốn cho vay và
sẽ cung cấp dịch vụ hibah ( có tính chất như khoản tiền lãi thu được từ tiền gửi tiết
kiệm của các ngân hàng truyền thống) và đem số tiền ấy cho người muốn vay để
phục vụ sản xuất. Thực hiện điều này, ngân hàng Hồi giáo huy động và tập trung

để ngân hàng đầu tư và chia sẻ lợi nhuận thì có sản phẩm musarakah sẽ được đề
cập trong các phần tiếp theo.
Ngân hàng Hồi giáo cung cấp cho thị trường tài chính những sản phẩm tài
chính đa dạng hơn, khác biệt so với các sản phẩm tài chính thông thường, phù hợp
với đại đa số người tiêu dùng. Điều này không chỉ đáp ứng nhu cầu của các cư dân
theo đạo Hồi mà còn của đại bộ phận những người dân không theo đạo Hồi hiện
nay. Khách hàng sẽ chủ động được nguồn vốn của mình để phục vụ cho hoạt động
sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng cá nhân theo bất cứ phương thức nào mà họ
mong muốn.
Với vai trò là đại lý, ngân hàng Hồi giáo có thể thay mặt khách hàng thực
hiện các nghiệp vụ giao dịch. Hơn nữa, nó có thể tính phí đại lý cho các dịch vụ
sau: thanh toán/nhận tiền cho khách hàng, thanh toán hoá đơn trong và ngoài nước,
mở và chấp nhận LC, bảo lãnh và dịch vụ IPO.
Với vai trò là người bảo lãnh, ngân hàng và các tổ chức tài chính đại diện
thực hiện bảo lãnh khách hàng theo quy tắc Shariah, và không tính phí bảo lãnh .
Tuy nhiên các ngân hàng truyền thống thường tính các loại phí bảo lãnh sau : thư
bảo lãnh, bảo lãnh vận chuyển.
Với vai trò là người tư vấn, hầu hết các dịch vụ tư vấn do các tổ chức tài
chính thực hiện đều dễ dàng tuân thủ quy tắc Shariah, cụ thể là : dịch vụ tư vấn tài
chính, dịch vụ tư vấn cổ phần hoá, chuyển đổi chủ sở hữu, tư vấn mua lại và sáp
nhập doanh nghiệp, liên doanh vốn, mua bán ( hoạt động trên thị trường vốn), tư
vấn và quản lý danh mục đầu tư, dịch vụ môi giới ( mua hay bán cổ phần doanh
nghiệp, trường hợp này có thể tính phí).
Mô hình ngân hàng Hồi giáo - Hướng đi mới để phát triển dịch vụ ngân hàng
bán lẻ tại Việt Nam
7
1.1.3.Đặc điểm của ngân hàng Hồi giáo
Ngân hàng Hồi giáo hoạt động dựa trên quy tắc Shariah nên có những đặc
điểm cơ bản khác biệt với ngân hàng thương mại, cụ thể là:
- Các giao dịch được thực hiện thông qua các hợp đồng (aqad) – đây là hợp

thống thường giữ “cái cán”, tức là trong bất cứ trường hợp khách hàng làm ăn có
lãi hay thua lỗ, họ đều nhận được khoản lợi nhuận từ việc cho khách hàng vay.
Trong khi đó, trong giao dịch Hồi giáo thì ngân hàng và khách hàng coi như là một
thực thể chung, cùng nhau kinh doanh phân chia lãi hay lỗ theo tỷ lệ vốn góp của
mỗi bên. Đây là điều hoàn toàn không thấy ở các ngân hàng truyền thống.Hơn thế
nữa, ngân hàng Hồi giáo nghiêm cấm việc kinh doanh liên quan đến các khoản nợ
xấu trong khi đây là một trong các nghiệp vụ được sử dụng thường xuyên trong các
ngân hàng truyền thống.
1.1.4.Nguyên tắc hoạt động của ngân hàng Hồi Giáo
Các ngân hàng Hồi Giáo đều có một mục đích giống như các ngân hàng
truyền thống khác, ngoại trừ nó hoạt động tuân theo quy tắc Shariah, được gọi là
các quy tắc Đạo Hồi trong giao dịch. Những gì mà chúng ta biết tới theo cách
thường dùng ở phương Tây không tồn tại trong thế giới Hồi giáo, và đó là sự khác
biệt lớn giữa hai hệ thống ngân hàng. Xét về điều kiện thực tế và khác biệt đáng kể
nhất là ngân hàng Hồi giáo không cho phép sử dụng công cụ lãi suất trong khi lãi
suất lại là một trong những công cụ tài chính quan trọng của hệ thống ngân hàng
truyền thống. Mô hình ngân hàng Hồi giáo không công nhận khái niệm lãi suất ,
tức là việc kiếm lời dựa vào hoạt động buôn bán tiền tệ.
Một trong những nguyên tắc cơ bản ở trọng tâm của kinh tế học Hồi giáo là
chia sẻ rủi ro. Ngân hàng và người dân gửi tiền trong đó cùng chia sẻ bất kỳ khoản
lợi nhuận nào có được, hay khoản thua lỗ nào phát sinh từ hoạt động đầu tư. Đây là
một hệ thống dựa trên tài sản, với những tài sản hữu hình hoặc hàng hóa là trọng
tâm. Ở đó có người mua và người bán, không phải là người đi vay và người cho
vay. Có thể nói đây là một nét đặc trưng riêng biệt của ngân hàng Hồi giáo so với
hệ thống các ngân hàng truyền thống. Ngoài ra, mô hình ngân hàng Hồi giáo cũng
không cho phép thực hiện phần lớn những hình thức đầu cơ như quỹ đầu cơ hay
nghiệp vụ phái sinh. Theo quan niệm Hồi giáo, tiền chỉ dành cho các mục đích trao
Mô hình ngân hàng Hồi giáo - Hướng đi mới để phát triển dịch vụ ngân hàng
bán lẻ tại Việt Nam
9

bán lẻ tại Việt Nam
10
thức cho thuê. Ngân hàng và người đi vay là một thực thể hợp tác. Hai bên cùng
góp vốn theo một tỷ lệ được thoả thuận trước để mua nhà. Sau đó, thực thể này sẽ
cho người đi vay thuê lại tài sản đó và tính chi phí thuê nhà. Ngân hàng và người
vay sẽ tiếp tục chia sẻ lợi nhuận có được từ việc cho thuê nhà này. Đồng thời,
người đi vay cũng sẽ mua lại cổ phần của ngân hàng trong thực thể hợp tác này
bằng cách thanh toán định kỳ cho ngân hàng theo thoả thuận cho đến khi toàn bộ
tài sản này được chuyển giao cho người vay và như thế việc hợp tác kết thúc.
Trường hợp người vay bỏ cuộc, tức không thanh toán được nợ, ngân hàng và
người vay sẽ tiến hành bán đấu giá tài sản hiện có. Phương pháp này chấp nhận
một lãi suất thả nổi theo lãi suất thị trường (lãi suất cho vay cơ bản), đặc biệt là
trong hệ thống ngân hàng kép như ở Malaysia.
Có một số phương pháp tiếp cận khác được sử dụng trong hoạt động kinh
doanh. Các ngân hàng Hồi Giáo cho các công ty vay tiền thông qua hình thức phát
hành tỷ lệ lãi suất thả nổi. Tỷ lệ lãi suất thả nổi này phụ thuộc vào tỷ lệ hoàn vốn
riêng biệt của công ty. Do đó, lợi nhuận thu được của ngân hàng dựa trên các
khoản vay bằng với tỷ lệ phần trăm lợi nhuận của công ty. Sau khi khoản nợ gốc
được hoàn trả thì việc chia sẻ lợi nhuận cũng kết thúc. Hành động này gọi là
Musharaka. Việc sắp đặt các bên tham gia như vậy phản ánh quan điểm của Đạo
hồi rằng người đi vay sẽ không phải chịu mọi rủi ro nếu thất bại, điều này dẫn đến
sự phân phối thu nhập công bằng và không cho phép người cho vay độc chiếm nền
kinh tế.
Ngân hàng Hồi Giáo hoạt động theo những quy tắc được chấp nhận của Đạo
hồi, nghiêm cấm các hoạt động liên quan đến rượu, thịt lợn, kinh doanh cơ bạc, các
sản phẩm, dịch vụ đồi trụy…Đạo Hồi cấm mọi dạng hoạt động kinh tế bị cho là có
hại về mặt đạo đức và xã hội. Các cá nhân phải sử dụng thận trọng tài sản của
mình, không găm giữ, để nhàn rỗi hay lãng phí tài sản. Theo lý thuyết ngân hàng
Hồi Giáo là một ví dụ về ngân hàng thuần dự trữ, với tỷ lệ dự trữ đạt được là
100%. Tuy nhiên, trong thực tế thì không có trường hợp này, không có bất kỳ ngân

Chia sẻ lợi nhuận là một hợp đồng hợp tác giữa ngân hàng, người cấp vốn
với một doanh nghiệp cần huy động vốn cho hoạt động kinh doanh của mình.
Doanh nghiệp sẽ chịu trách nhiệm về chuyên môn, nhân công và quản lý. Lợi
Mô hình ngân hàng Hồi giáo - Hướng đi mới để phát triển dịch vụ ngân hàng
bán lẻ tại Việt Nam
12
nhuận được chia giữa ngân hàng và doanh nghiệp theo một tỷ lệ tính trước. Trong
trường hợp lỗ, ngân hàng sẽ chịu lỗ về vốn trong khi các doanh nghiệp chịu lỗ về
nhân công. Với rủi ro tài chính này chứng tỏ quyền của ngân hàng đối với phần lợi
nhuận của công ty. Lợi nhuận sẽ được chia cho đến khi khoản vay được hoàn trả.
Các ngân hàng sẽ được đền bù cho giá trị thời gian của khoản tiền cho vay dưới
hình thức lãi suất thả nổi phụ thuộc vào lợi nhuận của doanh nghiệp.
Trong nghiệp vụ Mudarabah, ngân hàng sẽ không có quyền tham gia quản
lý doanh nghiệp, và như vậy khoản đầu tư của họ vào doanh nghiệp sẽ là hữu hạn.
trừ phi họ cho phép doanh nghiệp mắc nợ.
Nghiệp vụ Mudarabah sẽ chấm dứt khi hết hạn hợp đồng. Nó cũng sẽ chấm
dứt nếu như một trong hai bên yêu cầu chấm dứt do bên kia vi phạm hợp đồng.
Nếu tất cả tài sản của Mudarabah đều là tiền mặt vào thời điểm chấm dứt hợp đồng
thì lợi nhuận hai bên sẽ được chia theo một tỷ lệ xác định trước. Ngược lại, nếu tài
sản của Mudarabah là tài sản hữu hình thì nó sẽ được đem bán và thanh lý, sau đó
sẽ đem chia theo nguyên tắc trên.
1.1.6.2.Murabahah (Chi phí cộng thêm)
Khái niệm này đề cập đến việc bán hàng hoá tại một mức giá cao hơn bao
gồm lợi nhuận biên được thoả thuận bởi hai bên.Giá mua, giá bán, chi phí khác, và
lợi nhuận biên phải được thoả thuận tại thời điểm mua bán. Cụ thể hơn là thay vì
cho vay tiền, bên cung cấp vốn sẽ mua hàng hoá từ bên thứ ba và bán lại cho người
đi vay vốn với mức giá cao hơn. Như vậy, lợi nhuận của ngân hàng chính là phần
chênh lệch giữa giá mua và giá bán hàng hóa. Đây là khoản tiền vay cố định khi
mua tài sản ( địa ốc, xe cộ…) với tỷ suất lợi nhuận tính trên lợi nhuận biên.Bằng
cách này, các ngân hàng sẽ thu được lợi nhuận từ hoạt động tín dụng mà không

Thứ hai, hợp đồng ký kết để mua một hàng hoá cụ thể, do đó điều quan
trọng là phải tìm hiểu chủ thể của nghiệp vụ Murabahah.
Thứ ba, trong một số trường hợp, hàng bán cho khách hàng sẽ bị ảnh hưởng
bởi các nhà cung cấp. Điều này xảy ra khi các giai đoạn của Murabahah bị bỏ qua
và các hợp đồng được ký kết cùng một lúc. Cần nhớ rằng Murabahah là một gói
các hợp đồng khác nhau và chúng xảy ra một cách lần lượt ở mỗi giai đoạn tương
ứng.
Mô hình ngân hàng Hồi giáo - Hướng đi mới để phát triển dịch vụ ngân hàng
bán lẻ tại Việt Nam
14
1.1.6.3.Ijarah (thuê)
Ijarah có nghĩa là cho thuê, thuê. Theo khái niệm này, các ngân hàng Hồi
giáo sẵn sàng cho khách hàng sử dụng các dịch vụ về tài sản, trang thiết bị như nhà
máy, thiết bị văn phòng, phương tiện vận tài trong khoảng thời gian cố định với
mức giá cố định.
Những thuận lợi:
Ijarah bảo tồn nguồn vốn của bên đi thuê do nó cho phép vốn đầu tư lên đến
100%.
Ijarah cho phép bên đi thuê truy cập sử dụng thiết bị ngay sau khi việc thanh
toán định kỳ đầu tiên được thực hiện. Điều này rất quan trọng vì việc truy cập và
sử dụng thiết bị tạo ra thu nhập cho người cho thuê.
Ijarah hỗ trợ doanh nghiệp trong việc lập kế hoạch và ngân sách bằng cách
cho phép thương lượng về các điều khoản một cách linh hoạt.
Ijarah không phải là món nợ tài chính do nó không xuất hiện trên bảng cân
đối kế toán của bên thuê như khoản nợ phải trả. Với cách thể hiện nằm ngoài bảng
cân đối như thế, khoản tiền thuê này sẽ không được các ngân hàng tính trong hệ số
nợ khi tính toán giới hạn tài chính.Điều này cho phép các bên đi thuê tham gia vào
nhiều hợp đồng thuê tài chính khác mà không tác động đến việc đánh giá tổng thể
nợ.
Tất cả các khoản thanh toán cho hợp đồng Ijarah được coi là chi phí hoạt

Trong trường hợp Musharakah là thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng,
ngân hàng có quyền nhận sự đảm bảo tương xứng để bảo toàn phần vốn góp của
mình cũng như phần lợi nhuận có thể có được từ nghiệp vụ này. Khoản đầu tư của
ngân hàng thông thường sẽ được mua bảo hiểm .Mục đích của việc này là hạn chế
những rủi ro, những khoản lỗ do sơ suất từ khách hàng.
Mô hình ngân hàng Hồi giáo - Hướng đi mới để phát triển dịch vụ ngân hàng
bán lẻ tại Việt Nam
16
Bảng 1.1:Tóm tắt điểm khác nhau cơ bản giữa sản phẩm cho vay truyền thống và
Musarakah
1.1.6.6.Salam
Phương thức tài chính này có thể được sử dụng bởi các ngân hàng và các tổ
chức tài chính để tài trợ trong lĩnh vực nông nghiệp. Trong Salam, người bán cam
kết cung cấp hàng hoá cho người mua vào một thời điểm trong tương lai tại một
mức giá ấn định trước. Tiền bán thì nhận ngay nhưng hàng hoá thì giao sau.
Mục đích sử dụng:
- Để đáp ứng nhu cầu của một số nông dân cần tiền để trồng trọt và chăn nuôi cho
đến lúc thu hoạch, thánh tiên tri cho phép họ bán những sản phẩm nông nghiệp của
họ trước.
- Để đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, công cụ salam cho
phép họ bán hàng hoá của họ trước để sau khi nhận được tiền, họ có thể thực hiện
Mô hình ngân hàng Hồi giáo - Hướng đi mới để phát triển dịch vụ ngân hàng
bán lẻ tại Việt Nam
Cho vay của ngân hàng truyền
thống
Nghiệp vụ musarakah của ngân hàng
Hồi giáo
1 Tỷ lệ vốn hoàn trả được xác định
trước bất kể con nợ lời hay lỗ.
Musarakah không thể tính trước

định. Đá quý không thể bán trên cơ sở Salam vì mỗi viên đá có chất lượng, kích
thước, trọng lượng và đặc điểm kỹ thuật không thể xác định một cách chính xác.
- Salam không thể thực hiện trên một hàng hoá cụ thể hay sản phẩm cụ thể. Cung
cấp lúa mì trên 1 cánh đồng cụ thể, hay trái cây trên 1 cây cụ thể sẽ khó thực hiện
nếu như tất cả bị phá huỷ trước khi giao hàng hay vì những lý do tương tự, việc
giao hàng vẫn chưa chắc chắn.
- Mọi chi tiết liên quan đến chất lượng hàng hoá cần phải qui định rõ ràng, tránh
mơ hồ có thể gây ra tranh chấp không đáng có.
- Số lượng hàng hoá phải được thoả thuận trong điều khoản tuyệt đối.
- Thời gian và địa điểm giao hàng phải được xác định trong hợp đồng.
- Thời gian giao hàng tối thiểu là 15 ngày hay 1 tháng kể từ ngày ký hợp đồng. Giá
cả trong hợp đồng Salam nhìn chung là thấp hơn giá bán giao ngay. Thời gian nên
đủ lâu để có thể ảnh hưởng tới giá.
- Giá bán trong Salam thấp hơn giá bán giao ngay, sự chênh lệch này có thể tạo ra
lợi nhuận cho ngân hàng.
- Bảo hiểm dưới hình thức bảo lãnh hay thế chấp sẽ được yêu cầu trong hợp đồng
Salam để đảm bảo rằng người bán sẽ cung cấp hàng hoá.
Công cụ tài chính Salam có hai ưu điểm nổi bật sau đây: thứ nhất, sau khi
mua hàng hoá bằng công cụ Salam, tổ chức tài chính có thể bán nó trong một hợp
đồng Salam song song có cùng ngày giao hàng. Thời gian giao hàng trong hợp
Mô hình ngân hàng Hồi giáo - Hướng đi mới để phát triển dịch vụ ngân hàng
bán lẻ tại Việt Nam
18
đồng thứ hai ngắn hơn và giá cả cũng cao hơn so với hợp đồng đầu tiên.Sự khác
nhau về mức giá tạo nên lợi nhuận cho tổ chức tài chính.Thời gian càng ngắn, mức
giá càng cao tạo ra mức lợi nhuận càng lớn.Bằng cách này, các tổ chức tài chính có
thể quản lý danh mục đầu tư ngắn hạn của họ. Thứ hai, tổ chức tài chính có thể
nhận lời hứa mua hàng từ bên thứ ba, sau khi nhận hàng, tổ chức tài chính có thể
bán lại cho bên thứ ba ở mức giá xác định trước trong điều khoản mua bán với bên
thứ ba này.

toán. Như vậy, dịch vụ ngân hàng bán lẻ là dịch vụ ngân hàng cung cấp các sản
phẩm dịch vụ chủ yếu cho khách hàng là các cá nhân, các doanh nghiệp vừa và
nhỏ.
1.2.2.Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ
- Phục vụ chủ yếu cho các khách hàng là cá nhân và các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Giá trị từng khoản giao dịch không cao (từ vài trăm VND đến vài chục triệu
VND)
- Sản phẩm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ vừa có sản phẩm thuộc tài sản nợ như tiết
kiệm dân cư, vừa có sản phẩm thuộc tài sản có như cho vay cá nhân.
- Chính sách, phương thức quản lý, cách thức tiếp thị, yêu cầu về nguồn nhân lực
khác với các ngân hàng bán buôn khi khách hàng là các công ty lớn.
1.2.3.Vai trò của dịch vụ ngân hàng bán lẻ trong nền kinh tế
1.2.3.1.Đối với khách hàng và nền kinh tế
- Thông qua hoạt động dịch vụ ngân hàng bán lẻ, tăng quá trình chu chuyển tiền tệ
trong nền kinh tế, khai thác và sử dụng các nguồn vốn trong nền kinh tế thêm hiệu
quả, làm tăng luân chuyển tiền tệ trong không gian và thời gian. Khối lượng tiền tệ
di chuyển từ nơi này sang nơi khác, từ khách hàng này sang khách hàng khác, đáp
ứng các nhu cầu cho hoạt động kinh tế xã hội. Góp phần thúc đẩy sản xuất kinh
doanh, tiêu dùng, góp phần vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Góp phần tích cực trong việc mang lại lợi ích chung cho nền kinh tế, cho khách
hàng và ngân hàng thông qua việc giảm chi phí nhờ sự tiện ích và chuyên môn hoá
của từng loại dịch vụ: giảm chi phí in ấn, kiểm đếm, bảo quản, vận chuyển tiền,
cũng như tiết kiệm nhân lực để thực hiện, giảm chi phí dịch vụ, giúp khách hàng
có nhiều cơ hội để lựa chọn sản phẩm dịch vụ.
Mô hình ngân hàng Hồi giáo - Hướng đi mới để phát triển dịch vụ ngân hàng
bán lẻ tại Việt Nam
20
- Tạo nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia từ các nguồn kiều hối từ nước ngoài chuyển
về.
- Đối với khách hàng là doanh nghiệp vừa và nhỏ: tạo điều kiện cho quá trình sản

- Tăng khả năng hoạt động đáp ứng các nhu cầu khách hàng của các ngân hàng
thương mại, từ đó tăng dần khả năng thích ứng, cạnh tranh của các ngân hàng
thương mại góp phần làm vững mạnh thêm nền tài chính nước nhà.
1.2.4.Các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng bán lẻ
1.2.4.1.Nghiệp vụ huy động vốn đối với khách hàng cá nhân
Đây là một nghiệp vụ tài sản nợ, là một nguồn huy động truyền thống của
ngân hàng thương mại, góp phần hình thành nên nguồn vốn hoạt động của các
ngân hàng
Đặc điểm của nguồn vốn huy động từ cá nhân:
- Khả năng huy động vốn tập trung tại một số địa bàn và một số khách hàng: huy
động vốn thông qua tài khoản tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, giấy tờ có giá,
tập trung chủ yếu tại những đô thị phát triển về kinh tế xã hội, công nghiệp, dịch
vụ và phát triển công nghệ.
- Giá vốn không đồng nhất giữa các địa bàn, thời điểm: căn cứ vào điều kiện về
kinh tế, xã hội, mặt bằng lãi suất tại địa bàn, nhu cầu của ngân hàng mà từng ngân
hàng sẽ có những đề xuất lãi suất huy động từ cá nhân thích hợp.
- Giá vốn tương đối cao so với các nguồn huy động khác như từ các tổ chức kinh
tế, từ tổ chức tín dụng khác.
Nguyên nhân của các đặc điểm trên là do cơ cấu huy động vốn khác nhau,
do mức độ cạnh tranh giữa các địa bàn. Từ sự khác nhau giữa khả năng huy động
vốn và chi phí huy động vốn của các địa bàn khác nhau nên phải xác định: tạo
nguồn vốn không chỉ tập trung vào một số địa bàn mà phải mở rộng ra các địa bàn
nơi có giá vốn thấp, cân nhắc giữa mục tiêu tối thiểu hoá chi phí huy động vốn và
mục tiêu tối đa hoá tăng trưởng, tăng tính ổn định cho nguồn vốn vì những ngân
hàng có khả năng huy động nhiều nhất nguồn vốn có chi phí rẻ nhất cũng có điều
kiện hoạt động cạnh tranh nhất trên địa bàn.
Vai trò của nguồn huy động từ khách hàng cá nhân đối với ngân hàng:
Mô hình ngân hàng Hồi giáo - Hướng đi mới để phát triển dịch vụ ngân hàng
bán lẻ tại Việt Nam
22

23
+ Thiếu thông tin: Khả năng tiếp cận luồng thông tin về tình hình hoạt động của
các ngân hàng thường không đồng nhất giữa các khách hàng, thậm chí còn trái
ngược nhau. Vấn đề bất cân xứng thông tin giữa ngân hàng và khách hàng thường
gây ra những khuynh hướng bất lợi cho hoạt động của các ngân hàng, đặc biệt là
thông tin sai sự thật, nhằm mục đích phá hoại.
+ Khả năng phân tích yếu: thông tin mà các khách hàng có được nhiều khi chủ là
thông tin truyền miệng, rỉ tai, không dựa trên cơ sở một sự phân tích khoa học nào
cả. Khả năng phân tích yếu cũng góp phần làm vấn đề bất cân xứng thông tin trở
nên trầm trọng hơn.
+ Việc ra quyết định chỉ phụ thuộc vào một người: quyết định của khách hàng vì
thế còn mang tính chất cảm tính, chủ quan. Công tác kế hoạch của ngân hàng cho
mục đích sử dụng nguồn vốn này do vậy trở nên khó khăn hơn.
+ Việc bảo vệ quyền lợi cho người gửi tiền chưa rõ ràng: nếu xuất hiện một yếu tố
có khả năng gây bất lợi cho người gửi tiền thì tâm lý lo sợ về việc quyền lợi không
được đảm bảo sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyết định rút tiền của khách hàng. Tính
chu chuyển thấp của luồng tiền vì thế chỉ mang tính tương đối.
- Giúp xây dựng mạng lưới khách hàng đa dạng, rộng khắp làm nền tảng để phát
triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ.
1.2.4.2. Cho vay cá nhân
Đây là một nghiệp vụ tài sản có, là sản phẩm truyền thống của ngân hàng
thương mại, góp phần tăng thu nhập của các ngân hàng. Cùng với sự phát triển của
nền kinh tế xã hội, tỷ trọng cho vay cá nhân trong dư nợ vay của các ngân hàng
thương mại ngày càng cao. Cho vay cá nhân chiếm tỷ trọng quan trọng trong danh
mục đầu tư của các ngân hàng thương mại trên thế giới.
Đặc điểm của sản phẩm cho vay cá nhân:
- Thị trường rộng và không ngừng tăng trưởng: Sự phát triển của xã hội và quy mô
dân số ngày càng tăng, nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư thúc đẩy
sự gia tăng nhu cầu cho loại sản phẩm này.
Mô hình ngân hàng Hồi giáo - Hướng đi mới để phát triển dịch vụ ngân hàng

các loại hình dịch vụ ngân hàng, đem lại nhiều tiện ích cho khách hàng. Hiện nay
Mô hình ngân hàng Hồi giáo - Hướng đi mới để phát triển dịch vụ ngân hàng
bán lẻ tại Việt Nam
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status