phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh và một số biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty tuyển than cửa ông - Pdf 13

LỜI MỞ ĐẦU

Trong điều kiện kinh tế hiện nay, nền kinh tế nước ta đã chuyển đổi từ cơ
chế bao cấp sang cơ chế thị trường. Sự thay đổi này đã làm thay đổi mạnh mẽ
nền kinh tế. Để duy trì và phát triển doanh nghiệp của mình thì trước hết đòi hỏi
kinh doanh phải có hiệu quả.
Không ngừng nâng cao hiệu quả không chỉ là mối quan tâm của bất kỳ ai,
mà là mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ xã hội nào, khi làm bất cứ điều gì. Đó
cũng là vấn đề bao trùm và xuyên suốt thể hiện chất lượng và toàn bộ công tác
quản lý kinh tế. Bởi suy cho cùng quản lý kinh tế là để đảm bảo tạo ra kết quả và
hiệu quả cao nhất cho mọi quá trình, mọi giai đoạn của hoạt động sản xuất kinh
doanh. Tất cả những cải tiến những đổi mới về nội dung phương pháp và biện
pháp áp dụng trong quản lý chỉ thực sự mang lại ý nghĩa khi chúng làm tăng
được hiệu quả kinh doanh không những là thước đo chất lượng, phản ánh trình
độ tổ chức, quản lý kinh doanh mà còn là vấn đề sống còn của doanh nghiệp.
Công Ty Tuyển than Cửa Ông là một doanh nghiệp hạch toán độc lập, trực
thuộc Tổng Công Ty than Việt Nam với nhiệm vụ sàng tuyển, chế biến và tiêu
thụ than. Công Ty cũng như các doanh nghiệp khác muốn tồn tại và phát triển
trong cơ chế thị trường hiện nay, đều phải quan tâm đến hiệu quả sản xuất kinh
doanh. Trong những năm qua với mục tiêu không ngừng nâng cao hiệu qủa sản
xuất kinh doanh, Công ty đã tìm kiếm các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản
xuất của mình.
Là một sinh viên khoa quản lý kinh tế của trường Đại học Bách Khoa Hà
Nội, đã thực tập tại Công Ty Tuyển than Cửa Ông. Trong thời gian vừa qua, với
mong muốn được vận dụng phần nào những kiến thức của bản thân, qua thời
gian học tập tại trường. Cùng với sự hiểu biết ít nhiều về thực tế của Công ty
nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty .
Với kiến thức đã học được tại trường và sự giúp đỡ tận tình của Cô giáo
cũng như các anh chị trong công ty. Em xin mạnh dạn chọn đề tài của mình là:
"Phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh và một số biện pháp nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty Tuyển than Cửa Ông".

nhà nước giao.
- Giai đoạn từ 1961 - 1966: Là giai đoạn xí nghiệp gặp rất nhiều khó khăn
do hậu quả thời kỳ Pháp để lại: Thiết bị già cỗi do sử dụng quá lâu(Từ 1924).
Than khai thác ở các mỏ không đủ đáp ứng nhu cầu sản xuất.
- Giai đoạn 1966 - 1973: Là thời kỳ chiến tranh phá hại Miền Bắc của Đế
quốc Mỹ, Cửa Ông là mục tiêu bắn phá của địch do đó việc sản xuất gặp nhiều
khó khăn, có một số năm phải ngừng hẳn sản xuất để sơ tán thiết bị và con
người. Ơ thời kỳ này sản xuất không phát triển, sản lượng thấp.
- Giai đoạn từ năm 1974 - 1985: Là giai đoạn xí nghiệp phải khắc phục
hậu quả do chiến tranh để lại. Khôi phục lại nhà xưởng thiết bị, tổ chức lại sản
xuất cho phù hợp với năng lực khai thác của các mỏ và hoàn thành kế hoạch nhà
nưóc giao Này 22- 8- 1974 Nhà nước chính thức đổi tên Xí Nghiệp bến Cửa
Ông thành (Xí Nghiệp tuyển than Cửa Ông) với nhiệm vụ: Đảm bảo sản xuất
theo kế hoạch nhà nước giao. Chuẩn bị cơ sở vật chất cho việc phát triển và mở
rộng sản xuất theo yêu cầu hiện đại hoá ngành than đáp ứng nguồn nhiên liệu
cho các ngành công nghiệp trong nước và xuất khẩu. Xí nghiệp đã đầu tư thêm
một dây truyền công nghệ sàng tuyển và tiêu thụ than gồm :
+ Một nhà máy sàng tuyển do Ba lan giúp đỡ xây dựng với công suất 800 T/h
( Nay là nhà máy tuyển than 2 )
+ Hệ thống băng tải và máy đổ đống, bốc rót than do hãng HITACHI của
Nhật thiết kế và lắp đặt. Dây truyền công nghệ mới đã đưa vào hoạt động từ năm
1980 và đạt công suất: 3 Triệu tấn/ năm.
- Giai đoạn từ 1985-1990: Giai đoạn chuyển đổi từ cơ chế thị trường XN
bị ảnh hưởng từ thời bao cấp, sản xuất, tiêu thụ theo kế hoạch. Sản phẩm hàng
hoá chất lượng thấp, chủng loại mặt hàng ít không phù hợp với cơ chế thị trường
do vậy XN phải thu nhỏ sản xuất .
- Giai đoạn từ năm 1990 đến nay: XN đã tìm được hướng đi là cải tạo và
lắp đặt mới thiết bị, thay đổi và mềm hoá công nghệ sàng tuyển cụ thể: Tuyển
bằng huyền phù thông qua hệ thống sàng phân loại, qua băng tải có máy hút sắt
để kiểm tra loại bỏ sắt, tạp chất còn lẫn trong than.

Ngoài ra công Ty còn có các sản phẩm phụ: Sản xuất phụ kiện đường sắt, sửa
chữa phụ tùng thay thế, dịch vụ đời sống, du lịch
Điều lệ và bộ máy điều hành, Công Ty tuyển than là đơn vị thành viên có tư
cách pháp nhân, hạch toán độc lập trong Tổng Công Ty than Việt Nam, chịu
trách nhiệm vốn được giao vào mục đích sxkd có lãi, duy trì, bảo toàn và phát
triển vốn. thực hiện phân phối theo lao động chăm lo và không ngừng cải thiện
đời sống vật chất, tinh thần bồi dưỡng và nâng cao trình độ văn hoá, bảo vệ sản
xuất, bảo vệ môi trường, giữ gìn trật tự an ninh, an toàn xã hội làm tròn nghĩa vụ
quốc phòng. Là thành viên của tổng Công Ty than Việt Nam nên Công Ty luôn
thực hiện hiện nghiêm chỉnh điều lệ tổ chức của Tổng Công Ty than Việt Nam.
III. Công nghệ kết cấu sản xuất và cơ cấu tổ chức quản lý
- Công nghệ sản xuất chính của Công Ty được chia ra 3 khâu chính và 2
dây truyền sản xuất độc lập.
*Khâu vận tải than mỏ:
+Nhiệm vụ: Vận chuyển than từ các mỏ về bằng đường sắt.
- Nếu là than nguyên khai cấp vào kho cấp liệu từ đó cấp vào 2 nhà máy
tuyển 1 và tuyển 2.
- Nếu là than thành phẩm cấp vào kho thành phẩm của phân xưởng bến 1
và kho bến 2 chờ tiêu thụ.
+ Tổ chức sản xuất: khâu này được đảm bảo bởi 3 phân xưởng.
- Phân xưởng vận tải: Bố trí đầu máy TYTE và toa xe vận chuyển than
nguyên khai và than sạch mỏ về, cấp than nguyên khai và thải đá cho 2 nhà máy
tuyển.
- Phân xưởng đường sắt: Sửa chữa lắp mới, duy trì hệ thống đường sắt.
- Phân xưởng máy toa xe: Sửa chữa các đầu máy TYTE và toa xe
+ Năng lực sản xuất: 3.500.000 Tấn/năm.
* Khâu sàng tuyển:
Là công nghệ chính và là khâu quan trọng nhất của Công ty. Khâu sàng
tuyển quyết định năng suất và chất lượng của chủng loại than. Khâu sàng tuyển
được chia làm 2 dây chuyền sản xuất độc lập .

Công nghệ sản xuất của dây chuyền này là tuyển lắng, tuyển huyền phù
và lọc ép. Đó là công nghệ tuyển hiện đại có khả năng đáp ứng nhu cầu của thị
trường về mặt hàng cũng như về mặt lượng. Công suất của nhà máy 800 Tấn/h.
Dây chuyền tuyển 2 được chia làm 3 khu vực sản xuất:
- Khu vực cấp liệu: Than từ các nơi đưa về bằng các toa xe được đỏ vào hố cấp
liệu qua2 thiết bị rút than đưa vào sàng sơ bộ sau đó sản phẩm được phân thành
2 nhánh: Sản phẩm trên sàng (+100) đưa qua băng, các tạp chất gỗ được nhặt
thủ công. Đất đá kích cỡ lớn sẽ được đưa vào 2 máy đập sơ bộ sau đó được đưa
qua 2 loại băng cấp cho máy lắng hoặc đưa qua máy ST1 đổ xuống tràn nguyên
khai
(kho cấp liệu). Sản phẩm dưới sàng (-100) được đưa thẳng xuống băng cấp cho
máy lắng hoặc ST1 đổ xuống kho cấp liệu.
- Khu vực tuyển: Là một khâu quan trọng nhất trong nhà máy tuyển 2 nó quyết
định năng suất và chất lượng sản phẩm
. Công nghệ tuyển bằng máy lắng: toàn bộ than cấp hạt 90-100mm tuyển qua
máy lắng JTG 1,2,3 thành than, bìa và đá. Than được đưa qua hệ thống sàng
phân cấp cho các sản phẩm: cục +35; 15-35; 6-15; với cấp hạt 1-6mm đưa qua
máy ly tâm hoặc đổ vào thùng tập trung. Với cấp hạt 1mm được đưa vào thùng
chính của máy thổi được bơm xoáy lốc phân loại. Luồng phía dưới gồm các loại
vật liệu thô được đưa vào máng xoắn rồi chia thành 2 dòng riêng: sản phẩm và
phế liệu. Những hạt rắn được thu hồi qua xoáy lốc cô đặc và sàng róc nước.
.Công đoạn tuyển bằng xoáy lốc huyền phù: máy xoáy lốc huyền phù dùng để
rửa lại sản phẩm đã tuyển lắng có cấp hạt 6-15 mm hoặc 1-6mm. Than bơm vào
xoáy lốc huyền phù chia thành 2 luồng:
. Luồng trên gồm than sạch đi qua sàng cong và sàng rung để thu hồi ma nhê tít
và khử nước. Huyền phù được bơm lại bể huyền phù. Luồng dưới gồm đá thải
cũng đi qua sàng cong và sàng rung để thu hồi ma nhê tít và khử nước.
- Khâu lọc ép: Là bộ phận phù trợ của khâu tuyển làm nhiệm vụ sử lý các sản
phẩm của khâu tuyển .
. Công đoạn lọc ép: Nước bùn từ tuyển qua bể lắng được bơm lên bể chứa qua

thực sự linh hoạt.
Cơ cấu quản lý bộ máy của Công Ty được tổ chức như sau:(theo sơ đồ sau).
IV. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lí của công ty
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công Ty Tuyển than Cửa Ông được
cấu trúc theo mô hình trực tuyến, chức năng.
- Mô hình trực tuyến chức năng có đặc điểm là chỉ có 1 cấp lãnh đạo, các
phòng ban chuyên môn nghiệp vụ là các bộ phận tham mưu, mỗi bộ phận nhận
lệnh từ 1 cấp trên, các phòng ban tham mưu cho Giám đốc trong quá trình sản
xuất kinh doanh.
Căn cứ các ý kiến đề xuất đó, đưa ra các quyết định để thực hiện.
- Mô hình tổ chức đơn giản, gọn nhẹ, dễ theo dõi, dễ kiểm tra đáp ứng yêu
cầu sản xuất kinh doanh của Công Ty.
* Chức năng nhiệm vụ của ban giám đốc và các phòng ban.
+ Ban giám đốc.
- Giám đốc: Là đại diện pháp nhân của Công Ty do Tổng Công Ty than
Việt Nam bổ nhiệm về mọi mặt hoạt SXKD cuả Công Ty. Giám đốc điều hành
chung mọi công việc, hoạt động của Công Ty theo chế độ 1 thủ trưởng.
Các phó giám đốc tham mưu cho giám đốc điều hành và quản lý từng lĩnh vực
trong SXKD, chịu trách nhiệm cá nhân trườc giám đốc và pháp luật.
Các phó giám đốc gồm:
- Phó giám đốc sản xuất
- Phó giám đốc công nghệ cơ điện - XDCB.
- Phó giám đốc kỹ thuật vận tải.
- Phó giám đốc kinh tế.
- Phó giám đốc đời sống - VHXH
Một kế toán trưởng giúp giám đốc quản lý về mặt tài chính.
+ Các phòng chuyên môn, nghiệp vụ của Công Ty.
- Tất cả các phòng chuyên môn của Công Ty điều bố trí một trưởng
phòng, và một phó phòng và các nhân viên giúp việc theo từng mảng chuyên
môn nhỏ theo chức năng công việc của từng phòng đòi hỏi theo công việc

định kỳ, thường xuyên và điều hành đội vận tải thuỷ theo yêu cầu nhiệm vụ sản
xuất và kinh doanh.
+Văn phòng- y tế đời sống:
- Có nhiệm vụ giải quyết công văn đi đến, quản lý lưu chữ hồ sơ, quản lý sử
dụng con dấu của Công Ty, thường trực tiếp khách, tổ chức các hội nghị của
đơn vị, sắp sếp nơi ăn ở, chăm lo đời sống và chăm sóc sức khoẻ, khám chữa
bệnh cho CBCNVthực hiện các chế độ chính sách đối với địa phương.
+ Phòng thanh tra bảo vệ quân sự:
- Làm nhiệm vụ thanh tra, giải quyết các đơn thư khiếu lại, thực chất làm nhiệm
vụ thanh tra thủ trưởng dưới sự chỉ đạo của Giám đốc Công Ty về công tác
thanh tra thanh tra các đơn vị trong Công ty điều hành các lực lượng bảo vệ của
Công ty để đảm bảo an ninh trong khu vực của Công ty quản lý, là phương án
bảo vệ ở cơ quan, kho bến cảng, cầu cảng
- Phối kết hợp với cơ quan chính quyền địa phương làm tốt công tác bảo vệ an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong khu vực, tổ chức tập huấn quân sự
tham gia hội thảo quân sự hàng năm theo sự chỉ đạo của ban quân sự địa phương
+ Phòng tiêu thụ kinh doanh:
- Tham gia quản lý các mặt thuộc lĩnh vực kinh doanh nghiên cứu tiếp thị, mở
rộng thị trường, lập kế hoạch kinh doanh than vật tư tháng, quí, năm trực tiếp
chỉ đạo cửa hàng bán than ở các tỉnh.
- Quản lý và làm các hợp đồng mua bán than, vật tư cho công tác tạo nguồn kinh
doanh lập và quản lý các chứng từ hoá đơn nhập xuất di chuyển từ ngoài vào
Công Ty và từ Công Ty đến nơi tiêu thụ cuối cùng của hộ tiêu dùng.
+ Mười năm phân xưởng là nơi thực hiện các hoạt động SXKD dưới sự điều
hành của trung tâm điều hành sản xuất.
Cơ cấu tổ chức của Công ty mang tính chuyên môn hoá cao, các phòng chức
năng với nhiệm vụ cụ thể dễ dàng phối hợp với nhau và phát huy được quyền
làm chủ tạo được sức mạnh tổng hợp.
V. Những thuận lợi khó khăn và phương hướng phát triển của Công ty
* Thuận lợi:

tay nghề cho công nhân để tiếp thu kỹ thuật tiên tiến, sử dụng thành thạo các
thiết bị công nghệ.
- Chủ động phòng ngừa tai nạn và sự cố thiết bị, cải thiện điều kiện làm việc,
bảo vệ môi trường sản xuất phong quang sạch đẹp.
- Duy trì các phong trào thi đua, nhân điểm hình đội tiên tiến trong sản xuất, tập
trung sản xuất, tập trung chỉ đạo, vận động cán bộ công nhân phát huy sáng
kiến, cải tiến lề lối làm việc nâng cao hiệu quả chất lượng, hạ giá thành sản
phẩm, tăng tích luỹ để cải thiện đời sống cho cán bộ công nhân viên.
CHƯƠNG II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH
I. Khái niệm chung về hiệu quả
1. Khái niệm
Ngày nay khi đánh giá bất kỳ một hoạt động nào đó thì yếu tố hiệu quả
của hoạt động đó được coi là một trong những yếu tố quan trọng nhất. Về mặt
tổng quát, hiệu quả là một phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các điều kiện
chính trị-xã hội và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất để đạt được kết quả
cao nhất theo mong muốn với chi phí thấp nhất.
Nói đến hiệu quả, người ta thường quan tâm đến hiệu quả kinh tế vì đó là khâu
trung tâm và có vai trò quyết định nhất, đồng thời là tiền đề thực hiện và là cơ sở
nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng các hiệu quả chính trị- xã hội- an ninh,
quốc phòng và là hiệu quả trên các lĩnh vực khác.
Phạm trù hiệu quả kinh tế biểu hiện ở hai mặt định tính và định lượng và khi
đánh giá hiệu quả kinh tế người ta xem xét cả hai mặt định tính và định lượng
của nó.
- Về mặt định tính: Mức độ hiệu quả kinh tế cao thu được phản ánh sự cố gắng
lỗ lực của mỗi khâu, mỗi cấp trong hệ thống kinh tế, phản ánh trình độ năng lực
quản lý SXKD và sự gắn bó của việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu kinh
tế, mục tiêu chính trị xã hội.
-Về mặt định lượng: Hiệu quả kinh tế của việc thực hiện mỗi nhiệm vụ kinh tế
xã hội biểu hiện ở mối quan hệ giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra.

Hiệu quả SXKD = (2)
Giá trị của kết quả đầu ra
Công thức (2) phản ánh suất hao phí của các chỉ tiêu đầu vào nghĩa là để có một
đơn vị đầu ra thì hao phí hết mấy đơn vị chi phí (hoặc vốn) ở đầu vào mục tiêu
là cực tiểu hoá chỉ tiêu này.
2. Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào
2.1. Nhóm chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động (Hn)
Nhóm chỉ tiêu này gồm hiệu suất sử dụng lao động và tỷ suất lợi nhuận lao
động:
- Hiệu suất sử dụng lao động ( Hn ) được tính bằng công thức:
Tổng doanh thu trong kỳ
Hn =
Tổng số lao động trong kỳ

Chỉ tiêu này phản ánh một lao động trong kỳ tạo được bao nhiêu đồng
doanh thu. Về thực chất đây chính là chỉ tiêu năng suất lao động (W)
- Tỷ suất lợi nhuận lao động (Rn) được tính bằng công thức:
Lợi nhuận trong kỳ
Rn =
Tổng số lao động trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh một lao động trong kỳ làm ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Trong nhóm chỉ tiêu này ta có mối quan hệ:
L L D
R
n
= — = — x — = R
dt
x H
n
N D

vốn phục vụ sản suất kinh doanh trong kỳ.
Tổng doanh thu trong kỳ
H
v
= ———————————
Tổng vốn SXKD trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn bỏ ra sản xuất kinh doanh đem lại
mấy đồng doanh thu, nghĩa là biểu thị khả năng tạo ra kết quả sản xuất kinh
doanh của một đồng vốn. Hiệu suất sử dụng vốn càng cao thể hiện hiệu quả kinh
tế càng lớn.
Vốn sản xuất kinh doanh bao gồm vốn cố định (V

) và vốn lưu động (V

)
vì vậy ta có thêm các chỉ tiêu:
- Hiệu xuất sử dụng vốn cố định (H
VCĐ
)
Tổng doanh thu trong kỳ
H
VCĐ
= ——————————
Tổng vốn cố định trong kỳ
- Hiệu suất sử dụng vốn lưu động (H
VLĐ
)
Tổng doanh thu trong kỳ
H
VLĐ

Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết cho vốn lưu động quay được một
vòng. Thời gian của một vòng (1 kỳ) luân chuyển càng nhỏ, thì thể hiện tốc độ
luân chuyển càng lớn.
Ngoài 2 chỉ tiêu trên, khi đánh giá hay phân tích còn có thể tính ra chỉ tiêu
"hệ số đảm bảo của số lưu động" (H
đn
)
Vốn lưu động bình quân
H
đn
= ——————————
Tổng số doanh thu thuần
Hệ số này nhỏ chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn càng cao, số vốn tiết kiệm
được càng nhiều. Qua chỉ tiêu này, ta biết được để có được 1 đồng luân chuyển
thì cần mấy đồng vốn lưu động.
- Tỷ suất lợi nhuận vốn(R
V
) :
Tổng lợi nhuận trong kỳ
R
V
= —————————
Tổng số vốn trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn sản xuất kinh doanh trong kỳ sinh
được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Ta có quan hệ:
L L D
t

R

đồng lợi nhuận.
L L D
t
R
c
= — = — x — = R
dt
x H
c
C D
t
C
Như vậy tỷ suất lợi nhuận chi phí bằng tích số của tỷ suất lợi nhuận doanh thu
và hiệu suất sử dụng chi phí.
Đánh giá hiệu quả của hoạt động SXKD không chỉ nhìn vào những con số
thực tế của các chỉ tiêu hiệu quả trên trong một kỳ mà ta phải so sánh với các chỉ
tiêu của kỳ gốc (Kỳ trước hoặc một kỳ gốc nào đó của doanh nghiệp) để có
được cái nhìn tổng quát hơn về thực trạng của doanh nghiệp.
Mối quan hệ giữa các nhóm chỉ tiêu này thể hiện mối quan hệ nhất định
giữa lao động sống và lao động vật hoá. Ta biết rằng trong quá trình phát triển
của lực lượng sản xuất, cùng với việc ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ
thì dần dần lao động sống được thay thế bởi lao động vật hoá và toàn bộ chi phí
cho một đơn vị sản phẩm cũng ngày càng giảm. Quá trình này là một nhân tố
quan trọng cho việc nâng cao trang bị vốn cho lao động.
Trong mối quan hệ giữa hiệu quả lao động và hiệu quả vốn, muốn giảm
chi phí lao động, kể cả lao động sống và lao động vật hoá cho một đơn vị sản
phẩm cần phải thực hiện một khối lượng sản xuất lớn bằng số vốn và tài sản vật
chất được trang bị, tức là phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, ta có thể nhận
thấy điều đó từ công thức:
LN LN V LN V

hiệu quả đạt được cũng đa dạng có thể phân chia hiệu quả thành những loại sau:
- Hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh chính và phụ: Là tỷ số giữa
doanh thu tiêu thụ sản phẩm và chi phí cho việt sản xuất kinh doanh khối lượng
sản phẩm hàng hoá đó, nó phụ thuộc vào hoạt động kinh doanh chính và phụ của
doanh nghiệp.
- Hiệu quả của các hoạt động liên doanh, liên kết: Là tỷ số giữa thu nhập được
phân chia từ kết quả hoạt động liên doanh liên kết với chi phí bỏ ra để tham gia
liên doanh, liên kết.
- Hiệu quả thu được do các nghiệp vụ tài chính: là tỷ số giữa thu và chi mang
tính chất nghiệp vụ tài chính trong quá trình sản xuất kinh doanh.
- Hiệu quả các hoạt động khác: là kết quả của các hoạt động kinh tế khác ngoài
các hoạt động đã nêu trên so với chi phí bỏ ra cho các hoạt động này.
Công Ty Tuyển than Cửa Ông là một doanh nghiệp mà hoạt động sản
xuất kinh doanh chính là sản xuất tiêu thụ than và kinh doanh dịch vụ.
Đứng trên góc độ của doanh nghiệp tham gia vào thị trường đặc biệt là thị
trường có sự cạnh tranh ngày càng gay ngắt và khốc liệt thì vấn đề quan tâm đầu
tiên của các chủ doanh nghiệp là hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Hoạt động có hiệu quả đầu tiên là giúp cho doanh nghiệp tồn tại, tái sản
xuất và tái sản xuất mở rộng, doanh nghiệp có thể đứng vững và thị phần ngày
càng được mở rộng. Mặt khác hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả để tạo
điều kiện để doanh nghiệp nâng cao trách nhiệm, giúp cho doanh nghiệp củng
cố được vị trí và điều kiện của người lao động. Nếu doanh nghiệp hoạt động
không có hiệu quả, thu không đủ bù đắp những chi phí đã bỏ ra thì doanh nghiệp
đó tất yếu đi đến phá sản.
3.2. Xét trên góc độ xã hội
Hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đựơc đánh
giá bằng những đóng góp của doanh nghiệp đó với nền kinh tế đất nước.
Hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp thể
hiện khá rõ nét ở những khoản đóng góp nghiã vụ này. Mặt khác có hiệu quả
cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì bản thân mỗi doanh nghiệp cũng

thu sẽ thấp. Điều đáng lưu ý ở đây là các nhà sản xuất kinh doanh luôn muốn
bán được khối lượng hàng hoá lớn và do đó họ sẽ định ra giá bán sản phẩm hợp
lý tại mức giá cả mà cả người mua và người bán đều chấp nhận được để có lợi
cho cả 2 bên. Quan hệ cung cầu hàng hoá dịch vụ thay đổi sẽ làm giá cả thayđổi,
ảnh hưởng tới doanh thu của doanh nghiệp. Có thể nói rằng, việc quyết định tối
ưu về hiệu quả của doanh nghiệp.
+ Nhân tố về tổ chức kinh doanh:
Sau khi lựa chọn quy mô sản xuất kinh doanh (chủng loại, số lượng và
chất lượng) các doanh nghiệp sẽ quyết định tổ chức sản xuất kinh doanh nó như
thế nào.Các doanh nghiệp lựa chọn đầu vào: Lao động, vật tư, thiết bị, công
nghệ có chất lượng và giá mua thấp nhất, các yếu tố đầu vào được lựa chọn tối
ưu sẽ tạo ra khả năg tăng năng xuất lao động, nâng cao sản lượng và chất lượng
sản phẩm hàng hoá và dịch vụ do đó việc chuẩn bị đầu vào có ý nghĩa quyết
định để tăng hiệu quả SXKD cho doanh nghiệp. Vấn đề tiếp theo là các doanh
nghiệp phải lựa chọn phương pháp thích hợp kết hợp tối ưu các yếu tố trong quá
trình tổ chức SXKD và tiêu thụ hàng hoá. Đây phải là một quá trình được tổ
chức một cách khoa học để tăng sản lượng chất lượng sản phẩm hàng hoá dịch
vụ làm nhân tố quyết định để giảm chi phí, tăng hiệu quả SXKD của doanh
nghiệp.
+ Các nhân tố về tổ chức quản lý hoạt động kinh tế vĩ mô của doanh nghiệp:
Tổ chức quản lý các hoạt động kinh tế vĩ mô là một nhân tố rất quan trọng
có ảnh hưởng đến hiệu qủa SXKD của doanh nghiệp. Quá trình quản lý vĩ mô
bao gồm các khâu cơ bản: Định hướng chiến lược phát triển của doanh nghiệp,
xây dựng kế hoạch SXKD và các phương án SXKD, tổ chức thực hiện các hoạt
động kinh tế. Các khâu của quá trình quản lý vĩ mô làm tốt sẽ làm tăng sản
lượng, nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành, giảm chi phi quản lý, đó
là điều kiện quan trọng để tăng hiệu quả SXKD của doanh nghiệp.
Các nhân tố đã trình bày ở trên có vị trí quan trọng khác nhau đối với việc
tăng giảm hiệu quả SXKD nhưng giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau,
thúc đẩy nhau phát triển. Mỗi nhân tố trên đây điều bao gồm các mặt kinh tế xã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status