1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
DƢƠNG QUỲNH CHI
MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM
PHÁT Ở VIỆT NAM TỪ KHI GIA NHẬP
WTO ĐẾN NAY Chuyên ngành: Tài chính và Ngân hàng
Mã số: 60 34 20
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN MINH PHONG
Hà Nội – 2013
2
Vì vậy, như Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và 11/NQ-CP của Chính
phủ ban hành ngày 24/2/2011 đã xác định: mục tiêu chính của năm 2011 và
3
các năm tiếp theo là kiềm chế lạm phát, bình ổn kinh tế vĩ mô và bảo đảm an
sinh xã hội…
Những trình bầy trên cho thấy đề tài: “Một số giải pháp kiềm chế lạm
phát ở Việt Nam từ khi gia nhập WTO đến nay” là cấp thiết cả về lý thuyết
và thực tế kinh tế ở nước ta. Và đó cũng là lý do khiến em chọn đề tài này
làm luận văn cao học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu:
Ngày nay, trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, vấn đề về lạm phát
trong nền kinh tế của mỗi quốc gia không chỉ chịu ảnh hưởng của các yêu tố
bên trong mà còn chịu tác động mạnh mẽ bởi những yêu tố bên ngoài. Cho
đến nay, trên thế giới đã có rất nhiều lý thuyết, nhiều công trình, đề tài, đề án
nghiên cứu, phân tích về vấn đề này: Paul Anthony Samuelson, người đoạt
giải Nobel kinh tế năm 1970, người sáng lập khoa kinh tế học lừng danh của
học viện Kỹ thuật Massachusetts. Ông là đại diện tiêu biểu của trường phái
kinh tế học vĩ mô tổng hợp, các nghiên cứu của ông về vấn đề lạm phát được
trình bày rất kỹ trong cuốn “Kinh tế học” – cuốn sách từng được tái bản rất
nhiều lần ở nhiều quốc gia trên thế giới. Ngoài ra có thể kể đến học thuyết
kinh tế học hiện đại của John Maynard Kenyes về lạm phát trong cuốn “The
economic Consequences of the Peace”. Keynes được coi là người khai sinh
kinh tế học vĩ mô hiện đại, hệ thống lý luận kinh tế học vĩ mô của Keynes trở
thành căn cứ chế định chính sách kinh tế của các nước tư bản chủ nghĩa phát
đạt. Ông đã đưa ra những quan điểm về lạm phát, nguyên nhân gây nên lạm
phát và theo ông để kiềm chế lạm phát buộc phải có những kiểm soát chặt về
giá cả hàng hóa bằng sức mạnh của luật pháp. Nối tiếp trường phái kinh tế
học hiện đại của Keynes, Robert J. Sumelson cũng đề cập đến lạm phát theo
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Phân tích và tổng hợp những vấn đề lý luận liên quan đến lạm phát
như: định nghĩa về lạm phát, phân loại lạm phát, những tác động của lạm
phát đến nền kinh tế. Đưa ra một số nguyên nhân và giải pháp đối phó với
lạm phát.
+ Phân tích tình hình lạm phát ở VN từ năm 2007-2011 với những diễn
biến lạm phát và chính sách kiềm chế lạm phát của chính phủ
+ Đưa ra một số giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát ở Việt Nam trong
thời gian tới
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Những vấn đề chung về lạm phát và thực tiễn về lạm phát ở Việt Nam.
5
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về thời gian: giai đoạn Đổi mới, đặc biệt những năm 2007 – 2010
+ Về không gian: Động thái, nguyên nhân và chính sách kiềm chế lạm
phát của Chính phủ Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận nghiên cứu: Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phân tích, tổng hợp, thống kê, so
sánh, đối chiếu để đánh giá tình hình thực tế. Đồng thời kết hợp sử dụng
các bảng biểu để minh họa
6. Những đóng góp mới của luận văn
Hệ thống hóa lý luận về lạm phát, đưa ra một số cách tiếp cận, phân loại
lạm phát theo nguyên nhân, tính chất và quá trình bộ lộ của lạm phát. Góp
phần phân tích tình hình lạm phát ở Việt Nam từ khi tham gia vào tổ chức
thương mại thế giới (WTO) năm 2007 đến nay, đồng thời đề xuất một số giải
pháp cụ thể, cấp thiết góp phần kiềm chế lạm phát ở Việt Nam trong thời
nay.
1.2. Phân loại và đo lƣờng lạm phát
1.2.1. Phân loại lạm phát
1.2.1.1. Căn cứ vào nguyên nhân chủ yếu gây ra lạm phát, người ta phân
biệt
* Lạm phát "cầu dư thừa tổng quát"
* Lạm phát "chi phí đẩy"
* Lạm phát "cơ cấu"
* Lạm phát "nhập khẩu"
1.2.1.2. Căn cứ vào tính chất chủ động hoặc bị động từ phía chính phủ đối
phó với lạm phát, người ta chia ra:
* Lạm phát cân bằng và có thể dự đoán trước: Là lạm phát mà toàn bộ
giá cả các hàng hoá, dịch vụ đều tăng với chỉ số ổn định trong sự chờ đợi có
tính mặc nhiên, có thể dự báo được và mọi tính toán, thu nhập cũng tăng theo
tương ứng
* Lạm phát không cân bằng và không dự đoán trước: Loại lạm phát mà
giá cả các hàng hoá dịch vụ tăng không đều nhau và nhà nước không dự báo
cũng như không chủ động điều tiết được. Đây là hiện tượng phổ biến nhất ở
các nước đang phát triển.
1.2.1.3. Căn cứ vào quá trình bộc lộ, "hiện hình" lạm phát, người ta phân
biệt:
* Lạm phát “ngầm”: Lạm phát đang còn ở giai đoạn ẩn náu, tiềm ẩn, bị
7
kiềm chế về tốc độ tăng giá, hoặc biểu hiện ở dạng giá cả không tăng nhưng
tăng sự khan hiếm hàng hoặc giảm chất lượng hàng hoá và dịch vụ cung cấp.
* Lạm phát “công khai”: Có sự biểu hiện tăng phổ biến giá cả hàng
hoá, dịch vụ rõ rệt trên thị trường
1.2.2. Đo lường lạm phát
theo công thức Laspeyres của giá cả của kỳ báo cáo (kỳ t) so với kỳ cơ sở.
Để làm được điều đó phải tiến hành như sau:
1. Cố định giỏ hàng hóa: Thông qua điều tra, người ta sẽ xác định
lượng hàng hóa, dịch vụ tiêu biểu mà một người tiêu dùng điển hình mua.
2. Xác định giá cả: Thống kê giá cả của mỗi mặt hàng trong giỏ hàng
hóa tại mỗi thời điểm.
3. Tính chi phí (bằng tiền) để mua giỏ hàng hóa bằng cách dùng số
lượng nhân với giá cả của từng loại hàng hóa rồi cộng lại.
4. Lựa chọn thời kỳ gốc để làm cơ sở so sánh rồi tính chỉ số giá tiêu
dùng bằng công thức sau: 8
CPI
t
=
100
x
Chi phí để mua giỏ hàng hóa
thời kỳ t
Chi phí để mua giỏ hàng hóa
kỳ cơ sở
Nhược điểm chính của chỉ số giá tiêu dùng là mức độ bao phủ cũng
như sử dụng trọng số cố định trong tính toán.
1.2.2.2. Chỉ số giá sản xuất (PPI)
Chỉ số giá sản xuất (PPI) đo mức giá mà các nhà sản xuất nhận được
không tính đến giá bổ sung qua đại lý hoặc thuế doanh thu. Nó khác với CPI
là sự trợ cấp giá, lợi nhuận và thuế có thể sinh ra một điều là giá trị nhận
được bởi các nhà sản xuất không bằng khớp với những gì người tiêu dùng đã
trường kinh doanh trong nước, khiến dòng đầu tư nước ngoài đổ vào bị
chậm, chững lại, thậm chí suy giảm, đi đôi với sự ra đi của những dòng vốn
trong nước.
1.3.2. Lợi ích của lạm phát
- Một là, lạm phát tựa như dầu mỡ giúp "bôi trơn" nền kinh tế.
- Hai là, lạm phát cho phép Chính phủ có thêm khả năng lựa chọn các
công cụ kích thích đầu tư vào những lĩnh vực kém ưu tiên thông qua mở
rộng tín dụng và tài trợ lạm phát; Đồng thời, lạm phát giúp phân phối lại thu
nhập và các nguồn lực xã hội theo các định hướng mục tiêu và trong khoảng
thời gian nhất định có chọn lọc.
1.4. Các nguyên nhân và giải pháp đối phó với lạm phát
1.4.1. Các nguyên nhân gây lạm phát
1.4.1.1. Lạm phát do mất cân đối về cơ cấu kinh tế:
Lạm phát xảy ra do sự mất cân đối về cơ cấu kinh tế, mâu thuẫn về
phân phối gây ra tăng giá. Lạm phát do mất cân đối cơ cấu kinh tế xuất hiện
khi có quan hệ không bình thường trong các cân đối lớn của nền kinh tế như
công nghiệp-nông nghiệp, công nghiệp nặng – công nghiệp nhẹ, sản xuất -
dịch vụ, xuất khẩu - nhập khẩu, tích luỹ- tiêu dùng.
Để kiểm soát được loại lạm phát này đòi hỏi phải loại bỏ những mất
cân đối nêu trên, như tăng sản xuất lương thực - thực phẩm, tăng xuất khẩu
trên cơ sở tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất để xuất khẩu phát triển, cải
tiến cơ chế tỷ giá hối đoái có lợi cho nhà làm hàng xuất khẩu, hạn chế chi
tiêu của Chính phủ và xã hội, chỉ chi ở mức thu được không để thâm hụt quá
cao.
1.4.1.2. Lạm phát tiền tệ
Lạm phát tiền tệ xảy ra khi tốc độ tăng trưởng cung tiền vượt quá tốc
10
độ tăng trưởng thực sự của nền kinh tế.
hướng nền kinh tế vào mức sản lượng và việc làm mong muốn. Chính sách
11
tài khoá có hai công cụ chủ yếu là chi tiêu của chính phủ và thuế.
1.4.2.3. Các chính sách khác
Ngoài chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa chúng ta cũng có thể áp
dụng đồng thời nhiều biện pháp khác để kiềm chế lạm phát như, hỗ trợ thúc
đẩy phát triển sản xuất, nhất là sản xuất các mặt hàng thiết yếu như: lương
thực, thực phẩm, dầu thực vật, thịt, …, đẩy mạnh và kiện toàn hệ thống dự
trữ, điều tiết xuất nhập khẩu, bình ổn giá thị trường trong nước…
1.5. Tính chất hai mặt của những giải pháp thị trƣờng chống lạm phát
1.5. 1. Bẫy lạm phát liên quan đến tự do hoá giá cả
1.5.2. Bẫy lạm phát liên quan đến chính sách tự do hoá tỷ giá hối đoái
1.5.4. Bẫy lạm phát liên quan đến chính sách vay nợ và thu hút đầu tư
nước ngoài.
1.5.5. Bẫy lạm phát liên quan đến thắt chặt chính sách tài chính - tiền tệ-
tín dụng
1.5.6. Bẫy lạm phát liên quan đến các khía cạnh xã hội.
1.5.6.1. Những xung lực lạm phát liên quan đến chính sách tiền lương và lao
động xã hội.
1.5.6.2. Những xung lực liên quan đến chất lượng quản lý nhà nước bằng
pháp luật, trên cơ sở yêu cầu của nền kinh tế thị trường.
- Nhận xét chung: Tóm lại, toàn bộ sự phân tích trên đây về vấn đề
lạm phát cho phép rút ra một số nhận định mang tính khái quát có ý nghĩa
trong việc vận dụng nghiên cứu lạm phát ở Việt Nam .
1. Lạm phát là vốn có và đặc trưng cho nền kinh tế thị trường.
2. Lạm phát có cả những tác động tích cực lẫn những tác động tiêu cực to lớn
đến đời sống kinh tế - xã hội của đất nước.
3. Không có phương thuốc chung duy nhất nào cho điều trị lạm phát ở các
chức thương mại thế giới WTO. Đây cũng là năm khởi đầu cho những động
thái mới của lạm phát, với đặc trưng là tốc độ cao và diễn biến phức tạp.
Theo Tổng cục Thống kê, CPI năm 2007 tăng 12.63% . Đây là mức lạm phát
cao nhất châu Á trong năm này. Hiện tượng giá tăng diễn ra ở hầu hết các
nhóm hàng hóa và dịch vụ. Tuy vậy, đứng đầu về tốc độ tăng giá trong nhóm
các hàng hóa tính CPI là thực phẩm
- Lạm phát thực sự bùng nổ và thực sự gây nên những bất ổn vĩ mô vào
năm 2008. Lạm phát đỉnh điểm vào tháng 9 năm 2008 khi lên tới 21,87%.
Bốn nhóm hàng có chỉ số giá bình quân năm 2008 tăng cao so với năm trước
là: hàng ăn - dịch vụ ăn uống tăng 36,57% (riêng lương thực tăng 49,16%,
thực phẩm tăng 32,36%); nhà ở - vật liệu xây dựng tăng 20,51%; phương
13
tiện đi lại - bưu điện tăng 16% và đồ dùng - dịch vụ khác tăng 13,17%.
- Sang đến năm 2009 lạm phát không còn là một vấn đề đáng lo ngại
của Việt Nam. Đây là một trong những điểm sáng hiếm hoi trên bức tranh
kinh tế Việt Nam trong bối cảnh kinh tế thế giới chưa thoát khỏi suy thoái và
khủng hoảng cùng thời điểm so sánh Biểu 2.3: Chỉ số giá tiêu dùng các tháng năm 2012
Nguồn: Tổng cục Thống kê.
- Bước sang những tháng đầu năm 2011, sức ép từ lạm phát tiền tệ
giảm dần gắn liền với xu hướng gia tăng chính sách tài chính-tiền tệ thắt
chặt theo tinh thần Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 của Chính phủ
- Động thái CPI những tháng đầu năm 2012 cho thấy 3 điểm nổi bật:
Thứ nhất, CPI có mức tăng thấp hơn nhiều so cùng thời điểm so sánh
trong vòng 10 năm qua.
Thứ hai, CPI vẫn đang duy trì xu hướng truyền thống là tăng mạnh trong dịp
dựng và thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội theo hướng coi trọng
hơn nữa các chỉ tiêu chất lượng, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển
bền vững.
15
(3). Đẩy nhanh việc xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu
(4). Phát triển nhanh nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là
nguồn nhân lực có chất lượng.
(5). Tạo mọi điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loại hình
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế
(6). Phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn, nông dân
(7). Hoàn thiện chính sách và mở rộng mạng lưới an sinh xã hội
(8). Đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí
(9). Tăng cường công tác đối ngoại và quốc phòng, an ninh; giữ vững
chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ;
2.3.2. Những giải pháp cụ thể
- Thực hiện chính sách tăng cường quản lý thị trường, bảo đảm cân đối
cung cầu và quản lý giá.
- Thực hiện chinh sách tiền tệ thắt chặt và linh hoạt
- Thực hiện chính sách hỗ trợ tăng sản xuất hàng hóa, giảm nhập siêu
- Kiểm soát chặt chẽ, nâng cao hiệu quả chi tiêu công.
- Các giải pháp khác
2.3.3. Đánh giá công tác và bài học về chống lạm phát ở Việt Nam giai
đoạn 2007 đến nay
2.3.3.1. Đánh giá chung
Để đối phó với tình hình lạm phát diễn biến phức tạp, Chính phủ Việt
Nam đó có những phản ứng chính sách ngày càng kịp thời đồng bộ và mang
tính thị trường hơn… , đặc biệt là đảm bảo hài hoà hơn giữa chính sách nới
lỏng và thắt chặt tài chính- tiền tệ; vừa giải kiểm soát hành chính, vừa có duy
c , đa dạng hóa, bình đẳng hóa và phát
triển, quản lý sự hợp tác, gắn kết kinh tế giữa các doanh nghiệp, thành phần
kinh tế.
Ngoài ra, thực tế cho thấy, để phát triển bền vững TTTC cần tập trung
xây dựng một số TCTD mạnh làm nòng cốt cho TTTC
17
Chƣơng 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT
Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI
3.1. Bối cảnh kinh tế thế giới, Việt Nam trong thời gian tới
3.1.1. Bối cảnh kinh tế thế giới
1) Đình trệ và suy giảm kinh tế kéo dài ở hầu hết các khu vực, khối và
quốc gia năm 2012-2013 và thể đạt mức bình thường trong giai đoạn 2014-
2015, cải thiện hơn vào thời gian tiếp theo.
2). Tiếp tục xu hướng thất nghiệp và nợ công cao
3). Gia tăng xu hướng nới lỏng tài chính-tiền tệ và áp lực lạm phát
3.2. Các giải pháp chủ yếu nhằm kiềm chế vững chắc lạm phát ở Việt
Nam trong thời gian tới
3.2.1. Tích cực và chủ động tham gia hội nhập quốc tế
Sự tham gia đầy đủ của Việt Nam vào các hoạt động hợp tác của
ASEAN, APEC, WTO nói riêng, và quá trình xúc tiến hội nhập với thế giới
nói chung có tác động 2 chiều đến động thái lạm phát ở nước ta:
Một mặt, dưới giác độ tích cực làm dịu lạm phát, nó cho phép chúng ta
nhập được nguồn hàng rẻ, dồi dào từ bên ngoài, trực tiếp làm tăng tổng cung
trên thị trường, điều hoà cân đối cung cầu.
Mặt khác, nó cũng gây ra những thách thức lớn cho nền sản xuất nội
địa vốn chưa phát triển. Nếu không có giải pháp thích đáng, không chỉ Việt
Nam sẽ trở thành một "ô đất trũng" nhập và tiêu xài toàn hàng rẻ của ngoại,
mà còn khiến nền sản xuất trong nước sẽ bị o ép, thu hẹp hơn, làm mất đi
thực lực và nhân tố ổn định của nền kinh tế nói chung. Rõ ràng cả 2 thái độ
và cách thức đều sai lầm nếu hoặc ta lo sợ, khép cửa chặt hơn hoặc
cứ mở cửa toang, bất chấp tất cả. Sự cần thiết ở đây là vừa phải tích cực đổi
mới công nghệ, khơi thông các nguồn nội lực, phát triển lực lượng sản xuất
trong nước, hoàn thiện cơ chế thị trường để tăng sức cạnh tranh của sản
phẩm và môi trường trong nước, vừa phải tuân thủ các cam kết, thông lệ
quốc tế trong một lộ trình mở cửa từng bước nghiêm ngặt và tối ưu, phù hợp
với trình độ phát triển đồng đều trong nước. Điều quan trọng nổi bật là cần
chủ động khai thông các nguồn vốn bên ngoài an toàn (FDI, ODA ), đồng
thời với hạn chế các luồng vốn kém an toàn (vay thương mại, chứng
khoán ) để giảm thiểu các cú sốc tài chính - tiền tệ do sự rút chạy hoặc đình
hoãn các dự án có vốn đầu tư bên ngoài.
3.2.2. Bảo đảm các cân đối tài chính vĩ mô
Để tiến tới cân bằng vững chắc NSNN, cần đặc biệt coi trọng giải
quyết 2 tồn tại chủ yếu sau:
19
trường mở.v.v
- Giảm bớt khối lượng sử dụng tiền mặt và ngoại tệ trong thanh toán xã
hội.
20
- Giảm việc dùng tiền phát hành để mua ngoại tệ.
- Tăng độ vững mạnh, hiệu quả hoạt động và hệ số tín nhiệm của hệ
thống ngân hàng thương mại.
3.2.5. Nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý kinh tế của nhà nước
Một Chính phủ yếu không thể tạo ra một nền kinh tế mạnh. Lạm phát
cao thường có ở những nước có Chính phủ yếu. Đấu tranh với tệ nạn tham
nhũng vừa là biểu hiện, vừa là điều kiện cần thiết của một nhà nước mạnh.
Đối với Việt Nam, có thể nói, tham nhũng và lạm phát có quan hệ qua lại
trực tiếp và chặt chẽ với nhau. Vì thế, một chính sách chống lạm phát triệt để
của Việt Nam trong tương lai không thể không bao hàm nội dung chống
tham nhũng triệt để. Nhằm mục đích đó, cần phải:
- Khắc phục sự không minh bạch giữa hai hệ thống quyền lực: Đảng và
nhà nước; mở rộng Dân chủ hoá đời sống kinh tế - xã hội, đi đôi với xây
dựng một nhà nước pháp quyền mạnh.
- Lấp kín những lỗ hổng luật pháp mà có thể là nơi xuất phát và ẩn nấp
của tệ tham nhũng. Hệ thống luật pháp phải rõ ràng, đồng bộ và nhất quán,
đồng thời mang tính hiện đại, theo kịp trình độ phát triển luật pháp và thông
lệ quốc tế.
- Tạo lập cơ chế phòng ngừa và trấn áp tham nhũng có hiệu lực. Phát
triển hệ thống tư pháp và thực hiện rộng rãi tự do báo chí, ngôn luận.
- Thường xuyên tiến hành "tẩy rửa" bộ máy nhà nước từ trên xuống.
- Tăng cường trang bị cơ sở vật chất - kỹ thuật cho công tác quản lý
nhà nước.
- Chống tham nhũng ở Việt Nam, ở khía cạnh cải cách hành chính, có
trình phát triển kinh tế đất nước. Lạm phát trong nền kinh tế chuyển đổi
thường có tốc độ cao hơn (đặc biệt ở thời kỳ đầu công cuộc chuyển đổi) tốc
độ lạm phát ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, do có sự giải
phóng đồng thời các xung lực lạm phát tích tụ suốt thời kỳ dài trước đó, do
tính chao đảo của các phương hướng cải cách và cả do tính chất quá độ, chưa
hoàn thiện của các cơ chế quản lý, các cơ cấu kinh tế - xã hội, cũng như tâm
lý xã hội đặc thù của những nước đó. Lạm phát càng cao và càng kéo dài
càng khó chống và càng không có lợi cho ổn định và phát triển kinh tế - xã
hội đất nước.
Lạm phát ở Việt Nam giai đoạn từ khi Việt Nam từ năm 2007 đến nay
cũng có những đặc điểm của lạm phát trong giai đoạn trước đó; Tuy nhiên, lạm
phát thời kỳ mới này chịu ảnh hưởng của bên ngoài rõ hơn, nhất là về giá cả và
tỷ giá, nên có tốc độ lạm phát cao hơn, cũng như có tính bất thường hơn…
Sự kiềm chế lạm phát ở Việt Nam chỉ có kết quả vững chắc khi nhà
22
nước chủ động áp dụng những biện pháp hành chính và thị trường đồng bộ,
nhất quán và triệt để nhằm chống lạm phát và những biện pháp bổ trợ cần
thiết nhằm đạt mục tiêu đó, cũng như nhất quán theo đuổi mục tiêu tổng
quát, dài hạn là giải phóng sức sản xuất xã hội, huy động tối đa mọi nguồn
lực cho phát triển kinh tế. Trong suốt quá trình kiềm chế lạm phát ở Việt
Nam, những biện pháp có tính hành chính ngày càng được thay thế bởi
những biện pháp có tính thị trường triệt để hơn.
Chính sách đối phó với lạm phát chỉ thực sự mang tính chủ động, tích
cực và hiệu quả khi hướng vào mục tiêu đề cao nhân tố con người. Điều này
đòi hỏi chính phủ, một mặt, cần coi trọng mục tiêu kinh tế - xã hội, nhất là
cân nhắc bảo vệ các lợi ích vật chất - tinh thần của các tầng lớp dân cư dễ bị
tổn thương (các đối tượng chính sách, người nghèo, người thất nghiệp );
mặt khác, cần coi trọng việc đào tạo và tuyển dụng có hiệu quả các nhân tài
6. Các Mác (1973), Tư Bản, Quyển 3 Tập I, Nxb Sự thật
7. Các Mác (1978), Tư Bản, Quyển 3 Tập II, Nxb Sự thật
8. Châu Hồ và Tô Ngọc Hưng (1996), “Xử lý lạm phát của một số nước trên
thế giới”, Tạp chí Ngân hàng, (số 2)
9. Chính phủ (1979), Nghị quyết 279/NQ-CP
10.Chính phủ (1993), Nghị định 63/NĐ-CP
11.Chính phủ (1994), Nghị định 194/NĐ-CP
12.Chính phủ (2011), Nghị quyết 11//NQ-CP
13.Cục Thống kê Hà Nội (1993-2010), Niên giám thống kê (1993-2010),
Nxb Tổng cục thống kê
14.Lê Quốc Lý (2005), Lạm phát - Quá trình chống lạm phát ở Việt Nam,
Nxb Tài Chính
15.Lê Tiến Phúc (1996), “Lạm phát - tăng trưởng”, Tạp chí Tài chính, (số 2)
16. Lương Hữu Định (1996), “Kiềm chế lạm phát - Giải pháp kinh tế”, Thời
báo Kinh tế Sài Gòn, (số 11)
24
17.Ngọc Minh (2008), “Lại phải nói về tư duy điều hành giá cả”,
thanhnienonline, (ngày 16/02/2008)
18.Nguyễn Bá Nha (1995), “Bàn về chính sách kiềm chế lạm phát của nhà
nước trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta”, Tạp chí Tài
chính, (số 7)
19.Nguyễn Đại Lai (2009), “Bình luận và dự báo về các động thái tài chính
Việt Nam sau các quyết định mới nhất của Ngân hàng Nhà nước”, Tạp chí
Ngân hàng, (số 29)
20. Nguyễn Đắc Hưng (2009), “Giải pháp chính sách tài chính, tiền tệ của
Việt Nam trong bối cảnh kinh tế thế giới”, Tạp chí Lý luận chính trị, (số 8)
21.Nguyễn Thị Hải Hà (2009), “Tác động của kủng hoảng toàn cầu tới ngân
sách nhà nước Việt Nam”, Tạp chí Tài chính, (số 5)