Đề tài : Các chuyên gia quản trị cho rằng : “ chữa lại sản phẩm là một việc
làm quá muộn thay vào đó hãy cải tiến quá trình làm ra chúng”
Đề cương đại ý:
A- LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG
I . nguồn gốc của chất lượng
1.1 khái niệm quản lý chất lượng
1.2 vai trò , chức năng của quản lý chất lượng
1.3 các nguyên tắc của quản lý chất lượng
1.4 quản lý chất lượng hiện đại
II đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng
2.1 đảm bảo chất lượng
2.2 cải tiến chất lượng
III .Phương pháp benchmarking trong cải tiến chất lượng
3.1 khái niệm
3.2 benchmarking cạnh tranh
3.3 benchmarking quy trình
3.4 benchmarking chiến lược
IV. Khái niệm quản lý chất lượng toàn diện TQM
4.1 khái niệm
4.2 đặc điểm của TQM
4.3 các nguyên tắc của TQM
B-ỨNG DỤNG VÀO DOANH NGHIỆP TOYOTA Ở VIỆT NAM
I. Giới thiệu về công ty TOYOTA
II những sự cố của công ty Toyota
III Toyota khăc phục lỗi
IV.Thành quả đạt được và các thời điểm đáng ghi nhớ của Toyota
Chúng ta đang sống trong một thê giới đầy rẫy những biến động .sự cạnh
tranh gay gắt trên quy mô toàn cầu đã tạo ra những thách thức mới trong
kinh doanh trở thành sự sống của doanh nghiệp .trong đó chất lượng hàng
hóa giữ vai trò quan trọng để nâng cao vị thế cạnh tranh.joseph M.Jura
chuyên gia chất lượng nổi tiếng đã nhận đinh:”thế kỉ 21 sắp tới sẽ là thế kỉ
-Chất lượng không tự sinh ra ,chất lượng không phải là một kết quả
ngẫu nhiên,nó là kết quả của sự tác động hàng loạt các yếu tố có liên quan
chặt chẽ với nhau. Muốn đạt được chất lượng mong muốn cần phải quản lý
đúng đắn các yếu tố này. Hoạt động trong lĩnh vực chất lượng gọi là quản lý
chất lượng.Phải có hiểu biết và kinh nghiệm đúng đắn về quản lý chất lượng
mới giải quyết tốt bài toán chất lượng .
-Quản lý chất lượng được áp dụng trong mọi ngành công nghiệp,
không chỉ trong lĩnh vực sản phẩm mà trong mọi lĩnh vực, trong mọi loại
hình công ty, công ty quy mô lớn đến những công ty có quy mô nhỏ, cho dù
công ty có tham gia vào thị trường quốc tế hay không. Quản lý chất lượng
đảm bảo công ty làm đúng những viếc phải làm và những việc quan trọng.
Nếu công ty muốn cạnh tranh trên thị trường quốc tế thì phải tìm hiểu và áp
dụng các khái niệm về quản lý chất lượng có hiệu quả .
1.1. Khái niệm quản lý chất lượng
Chất lượng được hình thành là kết quả sự tác động của hàng loạt các
yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau. Muốn đạt được chất lượng mong
muốn cần phải quản lý đúng đắn các yếu tố này. Hoạt động quản lý trong
lĩnh vực chất lượng được gọi là quản lý chất lượng. Cần thiết phải hiểu biết
và kinh nghiệm về quản lý chất lượng mới có thể giải quyết bài toán chất
lượng.
Quản lý chất lượng là một khoa học, nó là một phần của khoa học
quản lý. Quản lý chất lượng đã được áp dụng trong mọi lĩnh vực từ sản xuất
đến các loại hình dịch vụ cho mọi loại hình doanh nghiệp. Quản lý chất
lượng đảm bảo cho doanh nghiệp làm đúng các công việc phải làm.
Theo tiêu chuẩn ISO 9000:2000, TCVN ISO 9000:2000, đã định
nghĩa về quản lý chất lượng: “ Các hoạt động có phối hợp để định hướng
và kiểm soát một tổ chức về chất lượng” và thực hiện chúng bằng các
biện pháp như hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất
lượng và cải tiến chất lượng
Chính sách chất lượng : là ý đồ và định hướng chung của một tổ chức
+ khoa học quản lý
+ kỹ thuật, công nghệ
+ khoa học tâm lý, khoa học tổ chức, lao động
Quản lý chất lượng là một quá trình thực hiện các biện pháp quản lý
kinh tế - kỹ thuật, hành chính xã hội, văn hoá tư tưởng nhằm mục đích đảm
bảo và nâng cao chất lượng. Quản lý chất lượng một cách khoa học là điều
kiện chủ yếu để :
- đảm bảo chất lượng, duy trì chất lượng trong suốt quá trình hình
thành và lưu thông sản phẩm,
- trên cơ sở đảm bảo chất lượng, năng suất lao động nâng lên, năng
lực thực hiện kế hoạch sản xuất được đảm bảo,
- khi chất lượng được đảm bảo góp phần hạn chế các chi phí đem lại
hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp,
2. Chức năng quản lý chất lượng
Quản lý chất lượng phải được xem xét trên chu trình chất lượng,
không thể bỏ sót hay xem nhẹ một khâu nào. Khái quát, quản lý chất lượng
có các chức năng
• Chức năng quy định chất lượng
Chức năng này thể hiện ở khâu điều tra nghiên cứu nhu cầu và thị
trường từ đó thiết kế, đề xuất mức chất lượng, hoặc quy định các điều kiện,
tiêu chuẩn kỹ thuật cụ thể để sản phẩm đáp ứng được nhu cầu và phù hợp
với những định chế.
• Chức năng quản lý chất lượng
Đây là chức năng chủ yếu của quản lý chất lượng. Chức năng này thể
hiện tính xuyên suốt của quản lý quá trình tạo sản phẩm từ khâu nghiên cứu
thiết kế đến lưu thông phân phối sản phẩm.
• Chức năng đánh giá chất lượng
Chức năng này bao gồm đánh giá chất lượng trong từng khâu, từng bộ
phận cũng như chất lượng toàn phần của sản phẩm. Đây là chức năng quan
trọng thể hiện lượng hoá các yêu cầu chất lượng, đo lường và đặt các quá
ngoài;
- nghiên cứu nhu cầu của tất cả những người cùng chung quyền lợi;
- nêu được viễn cảnh trong lai của doanh nghiệp;
- nêu rõ vai trò, vị trí của việc tạo ra giá trị ở tất cả các cấp của
doanh nghiệp;
- xây dựng lòng tin và sự tín nhiệm của mọi thành viên;
- trao quyền bằng cách tạo cho họ chủ động hành động theo trách
nhiệm đồng thời phải chịu trách nhiệm;
- gây cảm hứng và cổ vũ thừa nhận sự đóng góp của mọi người;
- thúc đẩy quan hệ cởi mở, trung thực;
- giáo dục, đào tạo và huấn luyện;
- thiết lập các mục tiêu kích thích;
- thực hiện chiến lược và chính sách để đạt được mục tiêu này.
Nguyên tắc 3: Sự tham gia của mọi thành viên
Con người là nguồn lực quan trọng nhất của mọi doanh nghiệp và sự
tham gia đầy đủ với những hiểu biết và kinh nghiệm của họ có thể được sử
dụng cho lợi ích của của doanh nghiệp. Thành công trong cải tiến chất
lượng, công việc phụ thuộc rất nhiều vào kỹ năng, nhiệt tình hăng say trong
công việc của lực lượng lao động. Do đó những yếu tố liên quan đến vấn đề
an toàn, phúc lợi xã hội của mọi thành viên cần phải gắn với mục tiêu cải
tiến liên tục và các hoạt động của doanh nghiệp.
Khi được huy động đầy đủ, nhân viên sẽ
- giám nhận công việc, nhận trách nhiệm để giải quyết các vấn đề;
- tích cực tìm kiếm các cơ hội để cải tiến, nâng cao hiểu biết, kinh
nghiệm và truyền đạt trong nhóm;
- tập trung nâng cao giá trị cho khách hàng;
- đổi mới và sáng tạo để nâng cao hơn các mục tiêu của doanh
nghiệp;
- giới thiệu doanh nghiệp cho khách hàng và cộng đồng;
- thoả mãn nhiệt tình trong công việc và cảm thấy tự hào là thành
Theo nguyên tắc này doanh nghiệp phải
- xác định một hệ thống các quá trình bằng cách nhận biết các quá
trình hiện có hoặc xây dựng quá trình mới có ảnh hưởng đến các
mục tiêu đề ra;
- lập cấu trúc của hệ thống để đạt được mục tiêu một cách hiệu quả
nhất;
- hiểu sự phụ thuộc lẫn nhau trong các quá trình của hệ thống;
- cải tiến liên tục thông qua việc đo lường và đánh giá;
Nguyên tắc 6: Cải tiến liên tục
Cải tiến liên tục là hoạt động lặp lại để nâng cao khả năng thực hiện
các yêu cầu
Cải tiến liên tục là mục tiêu, đồng thời cũng là phương pháp của mọi
doanh nghiệp. Muốn có được khả năng cạnh tranh và mức độ chất lượng cao
nhất, doanh nghiệp liên tục cải tiến. Cách thức cải tiến cần phải “ bám chắc”
vào công việc của doanh nghiệp.
Để thực hiện cải tiến doanh nghiệp phải
- cải tiến liên tục sản phẩm, quá trình và hệ thống là mục tiêu của
từng người trong doanh nghiệp;
- áp dụng các phương pháp cơ bản của cải tiến từng bước và cải tiến
lớn;
- cải tiến liên tục hiệu quả và hiệu suất của tất cả các quá trình;
- giáo dục và đào tạo cho các thành viên về các phương pháp và
công cụ cải tiến như
+ chu trình PDCA
+ kỹ thuật giải quyết vấn đề
+ đổi mới kỹ thuật cho quá trình
+ đổi mới quá trình
- thiết lập các biện pháp và mục tiêu để hướng dẫn cải tiến;
- thừa nhận các cải tiến.
Nguyên tắc 7: Quyết định dựa trên sự kiện
Mục tiêu của quản trị chất lượng hiện đại là cải tiến chất lượng sản
phẩm và thỏa mãn khách hàng ở mức độ tốt nhất cho phép .Đặc điểm nổi bật
của quản trị chất lượng hiện đại so với các phương pháp quản lý trước đây là
nó cung cấp một hệ thống toàn diện cho công tác quản lý và cải tiến mọi
khía cạnh có liên quan đến chất lượng và huy động sự tham gia của mọi bộ
phận và cá nhân để đạt được mục tiêu chất lượng đã đề ra.
II.Đảm bảo chất lượng – cải tiến chất lượng
2.1.đảm bảo chất lượng
Theo ISO 9000 thì “Đảm bảo chất lượng là toàn bộ hoạt động
có kế hoạch và hệ thống được tiến hành trong hệ thống chất lượng và được
chứng minh là đủ mức cần thiết để tạo sự tin tưởng thỏa đáng rằng thực thể
sẽ đáp ứng các yêu cầu về chất lượng”
Đảm bảo chất lượng nhằm cả hai mục đích : trong nội bộ tổ
chức nhằm tạo lòng tin cho lãnh đạo và đối với bên ngoài nhằm tạo lòng tin
cho khách hàng và những người khác có liên quan. Nếu những yêu cầu về
chất lượng không phản ánh đầy đủ những nhu cầu của người tiêu dùng thì
sản phẩm sẽ không tạo dựng được lòng tin thỏa đáng nơi người tiêu dùng.
Khi xem xét vấn đề đảm bảo chất lượng cần chú ý :
(1) Đảm bảo chất lượng đáp ứng nhu cầu người tiêu
dùng không có nghĩa là chỉ đảm bảo thỏa mãn các yêu cầu của các tiêu
chuẩn (quốc gia hay quốc tế) bởi vì trong sản xuất kinh doanh hiện đại, các
doanh nghiệp không có quyền và không thể đưa ra thị trường các sản phẩm
không đạt yêu cầu của các tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm cụ thể . Nhưng
như thế cũng chỉ mới đáp ứng được các yêu cầu mang tính pháp lý chứ chưa
thể nói đến việc kinh doanh có hiệu quả được.
(2) Đối với việc xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài
cũng tương tự, toàn bộ sản phẩm xuất sang nước khác phải đáp ứng được
yêu cầu của người đặt hàng nước ngoài.
(3) Những nhà lãnh đạo cấp cao phải ý thức được
tầm quan trọng của đảm bảo chất lượng và phải đảm bảo cho tất cả mọi
các hoạt động và quá trình nhưng đối với phương pháp này thì lại khong cần
phải đầu tư lớn mà rất cần đến sự nỗ lực của tập thể và chủ yếu tập trung vào
con ngưofi và sự cố gắng để hoàn thiện ngày một tốt hơn.
phương pháp đổi mới : nhằm vào mục đich nâng cao chất lượng cảu các
hoạt động cũng như chất lượng sản phẩm hang hóa dịch vụ để thu lợi nhuận
nhanh cho nên sẵn sang phá bỏ đi tất cả và xây dụng lại vief thé phương
pháp này đòi hỏi phải có sự đầu tư lớn để áp dụng những thành tựu mới của
khoa học kĩ thuật .chính điều đó mà làm cho tác động của nó tới h iệu quả
của cacs hoạt động hay quá trình thường đột ngột.phương pháp này thích
hợp với những nơi có trình độ phát triển cao và những đơn vị tổ chức có
tiềm lực kinh tế mạnh.
Mỗi phương pháp trên đều có những mặt mạnh yếu .nếu như phương pháp
cả tiến đạt được hiệu quả trong dà hạn và cần đầu tư ít thì phương pháp đổi
mới đạt hiệu quả nhanh chóng nhưng cần đàu tưu lớn mà không cần doanh
nghiệp hay tổ chức nào cũng có đủ điều kiện.do đó tùy từng điều kiện
vàhoafn cảnh cụ thể mà doanh nghiệp hay tổ chức hãy lưacj chọn phương
pháp cho phù hợp
2 cải tiến lien tục các quá trình là quá tình hoàn thiện lien tục nhằm đạt
đươcj những kết quả tăng dần cải tiến chất luonwgj lien tục triển khai thong
qua mô hình 6 bước
Xác định vấn đề
Nhận dạng và mô tả
quá trình
Đo lường
Tìm hiểu nguyên nhân
Phát triển ý tưởng
Áp dụng các giải pháp
Trong đó xác định vấn đề .phải xác định được các yếu tố cơ bản như
-xác định đầu ra
-xác định khách hàng
nhiều đén chất lượng.nguyên lí quan trọng của phát triển và thử nghiệm các
ý tưởng mới là phòng ngừa các sai sót tái diễn và đưa mức chất lượng thực
tiễn lên cao hơn.sữ dụngcasc công cụ thống kê trong giai đoạn này chúnga ta
sẽ biế được là cần phải tập trung nguồn lực vào đâu.tránh được itnfh tạng
phân tán nguồn lực mà không mang lại hiệu quả giừ
Bước cuối cùng là áp dụng các giả pháp cải tiến và đánh giá kết quả của các
giải pháp đó.các giải pháp này cần được dô lường đánh giá tỉ mỉ những vấn
đề mới để cải tiến.hoàn thành bước này quá trình cải iến lại quay về bước
một với một chu kì cái tiến mới ở mức cao hơn.đây là quá trình lien tục
không có điểm kết thúc.trong bước này điều quan trọng là huy động được
mọi thàh viên tham gia tích cực vào hoạt động cải tiến trên cơ sở đó kích
thích được lòng nhiệt tình tham gia của ngưoif lao đọng vào quá trình cải
tiến lien tục.từ đó doanh nghiệp hay tổ chức có thể tạo ra những sản phẩm
mới hoàn thiện và thỏa mãn được người tiêu dùng.
III .Phương pháp benchmarking trong cải tiến chất lượng
3.1.Khái niệm
ủy ban benchmarking của viện kế toán chiến lượng dã định nghĩa
benchmarking là một quy trình lien tục và có hệ thống để so sánh các sản
phẩm dịch vụ và các hoạt động của mình với các đối tác bên ngoài đeer cải
tiesn sự thức hiện
Khái niêm về benchmarking thường được hiểu thông qua lối diễn đạt "ghi lại
những thực hành tốt nhất". Benchmarking là một công cụ mạnh mẽ giúp các
doanh nghiệp cải thiện mình trong mọi lĩnh vực. Đó là một kĩ thuật
marketing bao gồm việc tìm kiếm trên khắp thế giới những nơi mà người ta
đang thực hiện một quy trình, một công việc theo cách hiệu quả nhất, học
hỏi họ và sau đó tìm cách áp dụng những quy trình đó vào chính doanh
nghiệp của mình.
Nói cách khác, Benchmarking là một kỹ thuật quản trị nhằm cải thiện hoạt
động kinh doanh. Kỹ thuật này được sử dụng để so sánh tình hình hoạt động
giữa các tổ chức khác nhau nhưng hoạt động trong lĩnh vực tương tự nhau
công nghiệp, hoạch định quá trình, các báo cáo kiểm soát chất lượng hay
phân tích tài chính
- Xác định những công ty đứng đầu trong những vấn đề trên: Hãy tìm kiếm
những công ty tốt nhất trong lĩnh vực ở bất cứ khu vực hay quốc gia nào.
Hãy tham khảo ý kiến khách hàng, nhà cung cấp, các nhà phân tích tài
chính, các hiệp hội kinh doanh, các tạp chí để xác định xem công ty nào
đáng để nghiên cứu.
- Nghiên cứu thực tiễn tốt nhất: Các nghiên cứu ban đầu có thể thực hiện
thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, trong các cơ sở dữ liệu có
sẵn hoặc trên mạng, từ đó có thể có được các thông tin khái quát. Tuy nhiên,
để có được những thông tin chi tiết hơn cần phải gặp gỡ trực tiếp với những
công ty được lựa chọn làm chuẩn đối sánh. Trước khi tham quan công ty,
cần phải chuẩn bị chu tất từ khâu thông báo, chuẩn bị người tham quan đến
khâu chuẩn bị câu hỏi, quà tặng Trong quá trình trao đổi trực tiếp, cần
quan sát tất cả những gì nổi bật của công ty và trao đổi ngay những gì học
được và những gì có thể áp dụng, lập kế hoạch chi tiết những gì mà họ có
thể áp dụng đối với công việc của họ
- Áp dụng thực tiễn tốt, trao trách nhiệm cho những cá nhân hoặc những
nhóm chức năng chéo. Thiết lập mục tiêu có thể đo lường được trong
khoảng thời gian xác định. Giám sát kết quả thực hiện. Yêu cầu nhân viên
viên chủ chốt báo cáo tóm tắt việc áp dụng được diễn ra như thế nào. Chia sẻ
thông tin một cách rộng rãi trong toàn công ty.
- Lặp lại quy trình. Chuẩn đối sánh là quá trình liên tục. Những phương pháp
thực hành tốt ngày hôm nay có thể được coi là tốt nhất nhưng ngày mai có
thể có những phương pháp tốt hơn!
Benchmark là quá trình không tốn kém nhiều chi phí. Thực tế là nhiều công
ty nước ngoài nhận thấy rằng cái họ đạt được sẽ lớn hơn nhiều so với chi phí
bỏ ra. Chủ yếu có 3 dạng chi phí:
- Chi phí tham quan: Đi lại, ăn ở cho đoàn tham quan, quà và chi phí giờ
công lao động.
- định hướng vào người tiêu dùng.các hoạt động của TQM phải luôn
định hướng vào người tiêu dùng nội bộ và người tiêu dùng ngoài
doanh nghiệp
- con người – yếu tố số một trong quản trị.
4.3.Các nguyên tắc của TQM
Một là thoả mãn mọi yêu cầu của khách hàng.khách hàng thì bao gồm khách
hàng nội bộ của doanh nghiệp và khách hàng ngoài doanh nghiệp.thoả mãn
nhu cầu của khách hàng là phải đảm bảo thích về 3 mặt : giá.chất lượng.và
thời điểm cung ứng
Hai là liên tục cải tiến chất lượng bằng cách áp dụng vòng tròn deming.
Hoạch định chất lượng (P)
Đây là giai đoạn đầu tiên của quản trị chất lượng.hoạch định chất lượng
chính xác đầy đủ giúp định hướng tốt các hoạt động tiếp theo.hoạch định
chất lượng được coi là chức năng cần ưu tiên hàng đầu hiện nay.hoạch định
chất lượng là hoạt động xác định mục tiêu và các phương tiện nguồn lực và
biện pháp nhằm thực hiện các mục tiêu chât lượng sản phẩm.
Nội dung của hoạch định chất lượng sản phẩm bao gồm
- xác định khách hàng
- xác lập những mục tiêu chất lượng tổng quát và chính sách chất lượng
- xác định nhu cầu và đặc điểm nhu cầu của khách hàng
- phát triển quá trình có khả năng tạo ra những đặc điểm của sản phẩm
- chuyển giao các kết quả của hoạch định cho bộ phận tác nghiệp
tổ chức thực hiện (D) đây là quá trình điều khiển các hoạt động tác nghiệp
thông qua các hoạt động,những kĩ thuật ,phương tiện,phương pháp cụ thể
nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm theo đúng những yêu cầu đã đặt ra.mục
đích yêu cầu đặt ra đối với các hoạt động triển khai là
- Đảm bảo mọi người có trách nhiệm thực hiện các kế hoạch,nhận thức
một cách đầy đủ mục tiêu và sự cần thiết của chúng
- Giải thích cho mọi người biết chính xác những nhiệm vụ kế hoạch
chất lượng cụ thể cần thiết phải thực hiện
chất lượng.
B-ỨNG DỤNG VÀO DOANH NGHIỆP TOYOTA Ở VIỆT NAM
I. Giới thiệu về công ty TOYOTA
Tên công ty: Công ty ô tô Toyota Việt Nam
Ngày thành lập: Ngày 5 tháng 9 năm 1995 (chính thức đi vào hoạt động
10/1996)
Tổng vốn đầu tư: 89,6 triệu USD
Lĩnh vực hoạt động chính:
- Sản xuất, lắp ráp và kinh doanh ô tô Toyota các loại.
-Sửa chữa, bảo dưỡng và kinh doanh phụ tùng chính hiệu Toyota tại Việt
Nam.
- Xuất khẩu linh kiện phụ tùng ô tô Toyota sản xuất tại Việtnam.
Sản phẩm:
- Sản xuất và lắp rắp tại VN: Hiace, Camry, Corolla Altis, Innova, Vios và
Fortuner
- Kinh doanh xe nhập khẩu: Land Cruiser, Hilux
Công suất: 20.000 xe/năm/2 ca làm việc
Đối tác: Công ty ô tô Toyota Việt Nam (TMV) là liên doanh giữa 3 đối tác
lớn:
- Tập đoàn ô tô Toyota Nhật Bản (70%)
- Tổng công ty Máy Động lực và Máy nông nghiệp Việt Nam (20%)
- Công ty TNHH KUO Singapore (10%)
Nhân lực: gần 1400 người (bao gồm cả nhân viên mùa vụ)
Ban giám đốc:
- Tổng giám đốc: Ông Akito Tachibana
- Phó tổng giám đốc: Bà Đặng Phan Thu Hương
Địa chỉ:
- Trụ sở chính:
Phường Phúc Thắng, Thị xã Phúc Yên, Tỉnh Vĩnh Phúc
- Chi nhánh Hà Nội:
tùng chính hãng từ Nhật Bản và Thái Lan, Công ty ô tô Toyota Việt Nam có
thể cung cấp phụ tùng thay thế cho khách hàng nhanh chóng, kịp thời với
chất lượng tin cậy nhất
Trong nhiều thập niên, Toyota xây dựng thương hiệu và uy tín bằng chiến
lược “không ngừng cải tiến”. Trong văn hóa doanh nghiệp của Toyota, chất
lượng luôn là ưu tiên hàng đầu bởi chất lượng cao đồng nghĩa với chi phí
thấp, thị phần lớn.
II. Những sự cố của công ty toyota
Tuy nhiên, đến thập niên 1990, Toyota lại đặt mục tiêu trở thành hãng sản
xuất xe hơi lớn nhất thế giới. Với tốc độ tăng trưởng chóng mặt, Toyota đã
vượt qua GM để trở thành hãng xe hơi lớn nhất thế giới xét về doanh số kể
từ năm 2008. Tuy nhiên do mở rộng quá nhanh, xe hơi Toyota liên tục gặp
vấn đề về chất lượng trong những năm qua.
Khi lấy chất lượng làm ưu tiên hàng đầu, một công ty sẽ có chiến lược và
cách hành xử riêng. Nhưng nếu lấy thị phần làm mục tiêu chính, công ty đó
sẽ lại có chiến lược và cách hành xử khác.
Các phân tích cho rằng trong cuộc chạy đua mù quáng để tăng doanh số
và giảm chi phí, Toyota đã lơ là việc chuyển giao công nghệ và đào tạo kỹ
năng với sự tham gia của các chuyên viên kỳ cựu của hãng.
Xe tăng tốc là do thảm sàn sai quy cách. Kết quả là 3,8 triệu xe Toyota,
thuộc các dòng sản phẩm Camry, Avalon, Prius, Tacoma, Tundra, and Lexus
IS250, IS350, ES350 sẽ được thu hồi và sửa chữa chân ga.
Theo Reuters, Toyota có sẵn 5,6 tỉ USD quỹ dành cho các vụ sửa chữa thu
hồi, do đó sẽ không ảnh hưởng tới thu nhập của hãng này. Ít nhất, thiệt hại
về tài chính cũng không tồi tệ bằng sự mất uy tín, hay tệ hơn, các vụ kiện
tụng chống lại Toyota khiến hãng này lao đao.
Sự cố thảm lót sàn là scandal lớn nhất của Toyota trong thời gian gần đây.
Trước đó, theo cục An ninh Đường bộ Quốc gia Mỹ (NHTSA) và đại diện
hãng Toyota, các chủ xe của 7 mẫu xe Toyota và Lexus phải hết sức lưu ý
đến vấn đề chân ga của xe có thể bị kẹt tại vị trí mở hết cỡ do “thảm sàn
Ông Phạm Hữu Tâm, Giám đốc Công ty Tradoco (TP Hồ Chí Minh) cho
biết, lượng khách hàng đặt mua xe Toyota nhập khẩu đã giảm mạnh do tác
động của lỗi kẹt chân ga. Một DN nhập xe tại Hải Phòng cho biết, nhiều nhà
nhập khẩu đang chết dở bởi xe Toyota các loại nhập về từ cuối 2009 để đầy
các kho ngoại quan.
III . Toyota khắc phục lỗi
TPO - Tập đoàn sản xuất ô tô Nhật Bản Toyota đã khắc phục sự cố cho phần
lớn trong số 5,6 triệu xe hơi và bán tải từng thu hồi tại Mỹ do sự cố có thể
gây tăng tốc đột ngột, một dấu ấn trong quá trình nỗ lực khôi phục danh
tiếng về chất lượng.
Trong khoảng một năm trở lại đây, nhà sản xuất xe hơn lớn nhất thế giới này
từng phải chật vật tìm cách cải thiện chất lượng sau khi danh tiếng bị hoen ố
vì hàng loạt các cuộc triệu hồi xe, lên tới hơn 10 triệu chiếc trên toàn cầu vì
nhiều sự cố, trong đó có vấn đề tăng tốc đột ngột.
Chính phủ Mỹ nhận được 3.000 đơn khiếu nại về sự cố tăng tốc đột ngột
trên các mẫu xe Toyota và cho rằng sự cố này có thể liên quan tới các vụ tai
nạn giao thông khiến 93 người thiệt mạng trong khoảng 10 năm trở lại đây.
Hôm 5-10, Toyota thông báo để khắc phục lỗi cho 3,7 triệu chiếc trong số
5,6 triệu chiếc xe hơi và bán tải thu hồi tại Mỹ vì lỗi kẹt chân ga hay thảm
lót sàn sai quy cách có thể gây tăng tốc đột ngột.
Đồng thời Toyota cho biết đã khắc phục lỗi cho 86% trong 148.000 chiếc
Prius và Lexus hybrid phải triệu hồi vì vấn đề trong hệ thống phanh. Hãng
bắt đầu trang bị hệ thống phanh thông minh cho các mẫu xe sản xuất trong
năm nay và “hộp đen” cho tất cả các mẫu xe đời 2011.
Công nghệ phanh mới của Toyota sẽ tự động ngắt ga khi cả chân phanh và
ga cùng được nhấn đồng thời, còn hộp đen, với tên chính thức là thiết bị ghi
dữ liệu sự kiện - Event Data Recorder – sẽ ghi lại lại thông tin của chiếc xe
trong khoảng thời gian trước, trong và sau sự cố giao thông (nếu có).
Các chuyên gia phân tích thị trường cho rằng Toyota cần nỗ lực hơn khi
doanh số bán xe tại Mỹ của hãng đang giảm, theo Autodata Corp, doanh số
Việt Nam đã đưa ra dịch vụ bảo dưỡng nhanh (Maintenance Express). “Đây
là kết quả của quá trình nghiên cứu, tối ưu hoá quy trình, nên việc bảo
dưỡng bảo đảm thực hiện đầy đủ các bước như bảo dưỡng bình thường”,
ông Lê Trung Chính, giám đốc Toyota Hùng Vương cho biết. Với dịch vụ