TIỂU LUẬN:
Quản trị công tác tiêu thụ sản phẩm
và một số giải pháp nhằm nâng cao
công tác tiêu thụ sản phẩm tại công
ty cổ phần xi măng Bím Sơn
LỜI MỞ ĐẦU Từ khi nền kinh tế nước ta chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ
chế thị trường đến nay tuy còn mới mẻ nhưng nó đã cuốn hút hầu hết các Doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia. Từ đây, nhiều Doanh nghiệp đã bắt kịp
được với cơ chế mới và kinh doanh có hiệu quả, tuy nhiên cũng có không ít những
Doanh nghiệp vẫn nằm trong tình trạng làm ăn thua lỗ và đứng trước nguy cơ phá sản.
Bởi trong cơ chế mới các Doanh nghiệp cùng sản xuất hàng hoá, cùng tồn tại cạnh
PHẦN I:
GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN
XI MĂNG BỈM SƠN .
đỡ to lớn của Liên Xô (cũ). Theo thoả thuận ký kết thì Liên Xô sẽ giúp đỡ cho Việt
Nam toàn bộ dây chuyền công nghệ và trang thiết bị hiện đại, thiết kế kỹ thuật để xây
dựng nhà máy với hai dây chuyền sản xuất có công suất 1,2 triệu tấn / năm.
Ngày 01/10/1974, công việc thi công chuẩn bị cho việc xây dựng nhà máy bắt
đầu. Đến năm 1980, Chính phủ ra quyết định số 334 / BXD – TC CB ngày 04/03/1980
thành lập Nhà máy xi măng Bỉm Sơn.
Tháng 10 năm 1981 , dây chuyền 1 đã được lắp ráp hoàn chỉnh và đến
28/12/1981 những bao xi măng đầu tiên mác P400 nhãn hiệu “Con voi” của Nhà máy
xi măng Bỉm Sơn đã chính thức xuất xưởng.
Từ năm 1982 – 1985, các đơn vị tiếp tục xây lắp các phần còn lại và hoàn chỉnh
nhà máy.
-Giai đoạn 3: Sản xuất kinh doanh, thực hiện cơ chế quản lý mới (1986 - 1990).
Từ năm 1986 – 1990 là giai đoạn nhà máy xi măng Bỉm Sơn chuyển dần từ cơ
chế quản lý cũ sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa theo nghị quyết Đại hội
Đảng IV. Nhà máy xi măng Bỉm Sơn đã vượt qua những khó khăn thử thách mới như:
Các dây chuyền sản xuất thiếu nguyên vật liệu, thiếu phụ tùng thay thế, ý thức tổ chức
kỷ luật lao động của công nhân còn lỏng lẻo, tư tưởng bảo thủ trì trệ, tâm lý bao cấp
còn nặng nề,…Những bài học kinh nghiệm và thành công đã nâng cao một bước năng
lực quản lý điều hành, tổ chức lao động sản xuất của nhà máy.
-Giai đoạn 4: Xi măng Bỉm Sơn đổi mới (Từ năm 1991 đến nay)
Tháng 08 năm 1993, Thực hiện chủ trương sản xuất gắn liền với tiêu thụ, ngày
12/8/1993, Bộ Xây Dựng ra quyết định số 366/BXD-TCLĐ hợp nhất Công ty Kinh
doanh Vật tư số 4 và Nhà máy Xi măng Bỉm Sơn, đổi tên thành Công ty Xi măng Bỉm
Sơn, là công ty nhà nước trực thuộc Tổng công ty Xi măng Việt Nam với tổng số công
nhân viên là 2864 người, trong đó nhân viên quản lý là 302 người.
Ngày 19/02/2002, được sự đồng ý của Nhà nước và sự chỉ đạo của Tổng công
ty xi măng Việt Nam, Công ty xi măng Bỉm Sơn đã khởi công xây dựng, cải tạo và
hiện đại hoá dây chuyền sản xuất với công suất thiết kế giai đoạn I đạt sản lượng 1,8
triệu tấn xi măng / năm, giai đoạn II đạt sản lượng 2,4 triệu tấn xi măng / năm.
+Đạt huy chương vàng tại triển lãm quốc tế về vật liệu xây dựng BUILDMAT
2004.
+Đạt giải vàng(cúp vàng) trong giải thưởng chất lượng Việt Nam năm
2007,2008.
+Nằm trong tốp 100 thương hiệu mạnh của Việt Nam do người tiêu dùng bình
chọn năm 2007
+Được nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động thời kì đổi mới.
2. Một số thông tin cơ bản về công ty xi măng bỉm sơn .
Tên Công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG BỈM SƠN
+ Tên gọi tắt : Công ty xi măng Bỉm Sơn.
+ Tên giao dịch Quốc tế : BIMSON JOINT STOCK COMPANY.
+ Tên viết tắt : BCC.
+ Trụ sở Công ty: Phường Ba Đình-Thị xã Bỉm Sơn-tỉnh Thanh Hóa.
+ Tel/Fax : 037.824.242/037.824.046
+Website: www.ximangbimson.com.vn
+Email:
Ngành nghề kinh doanh:
- Sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu xi măng, clinker
- Sản xuất, kinh doanh các loại vật liệu xây dựng khác.
Vốn điều lệ :
-956.613.970.000 đồng Việt Nam.
-Lượng cổ phiếu đắng kí giao dịch : cổ phiếu thường .
-Khối lượng cổ phiếu giao dịch : 95,661,357 .
-Giá trị đăng kí giao dịch : 956, 613, 970,000.
Người đại diện theo pháp luật của Công ty.
Khối sản xuất phụ có nhiệm vụ hỗ trợ cho khối sản xuất chính hoàn thành công
việc của mình. Khối sản xuất phụ gồm 5 xưởng với mỗi nhiệm vụ khác nhau như sau:
Xưởng Cơ khí chế tạo: Thực hiện sửa chữa các thiết bị của các đơn vị trong
Công ty, chế tạo một số phụ tùng phục vụ cho công tác sửa chữa và thay thế.
Xưởng Sửa chữa thiết bị: Thực hiện công tác sửa chữa máy móc thiết bị phần
cơ khí thuộc dây chuyền sản xuất của Công ty.
Xưởng sửa chữa công trình cấp thoát-nén khí: Thực hiện công tác sửa chữa các
công trình kiến trúc, xây lót lò nung và làm công tác vệ sinh công nghiệp trong Công
ty.
Xưởng Điện tự động: Tổ chức quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả hệ thống
điện được Công ty giao, đảm bảo vận hành an toàn các thiết bị cung cấp điên của Công
ty.
Xưởng may bao: Cung cấp vỏ bao phục vụ cho đóng bao
* Khối tiêu thụ :
Gồm có 6 chi nhánh và 1 trung tâm tiêu thụ
-Trung tâm tiêu thụ có nhiệm vụ ký kết hợp đồng mua bán sản phẩm trực tiếp
với công ty , hợp đồng vận tải của công ty với các cá nhân, tập thể bên ngoài để vận
chuyển xi măng đến các địa bàn tiêu thụ, viết hoá đơn kiêm phiếu xuất kho bán xi
măng cho tất cả các đối tượng mua xi măng đầu nguồn, điều độ nguồn hàng hợp lí đến
các địa bàn tại từng thời điểm.
- Các chi nhánh ( Chi nhánh Thái Bình; Chi nhánh Nam Định; Chi nhánh Ninh
Bình; Chi nhánh Thanh Hoá; Chi nhánh Nghệ An và chi nhánh Hà Tĩnh )có nhiệm vụ
bán xi măng trên địa bàn của mình phụ trách, chịu trách nhiệm theo dõi số hàng bán ra
cũng như các chi phí liên quan đến việc bán hàng và theo dõi các đại lý thuộc lĩnh vực
của chi nhánh quản lý.
* Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty:
Tổ chức hoạt động là tổ chức quá trình hoạt động của con người trong sự kết
-Phó giám đốc phụ trách công tác tiêu thụ sản phẩm:Giúp giám đốc công ty
trực tiếp chỉ đạo điều hành công tác thị trường,tổ chức mạng lưới bán hàng,vận tải
hàng hóa và tiêu thụ sản phẩm nhằm đáp ứng sản xuất kinh doanh của công ty.Trực
tiếp quản lý chỉ đạo các đơn vị:Trung tâm giao dịch tiêu thụ,văn phòng đại diện tại các
tỉnh trong nước và văn phòng đại diện tại nước CHDC nhân dân Lào.
-Phó giám đốc công ty kiêm giám đốc BQL dự án:Chuẩn bị hồ sơ thiết
kế,dựtoán,tổng dự toán xây dựng công trình để chủ đầu tư tổ chức thẩm định phê
duyệt theo quy định.Lập kế hoạch đấu thầu,lập hồ sơ mời thầu cho các gói thầu.
Các phòng ban:
-Phòng tổ chức lao động:Tham mưu cho giám đốc về công tác tổ chức cán bộ
,tổ chức sản xuất kinh doanh,tổ chức lao động,tiền lương,tiền thưởng,định mức lao
động,công tác đào tạo,bồi dưỡng thi đua khen thưởng,kỷ luật.
-Phòng Kinh tế Kế Hoạch: Tham mưu giúp giám đốc công ty định hướng chiến
lược sản xuất kinh doanh.Xây dựng toàn bộ hệ thống kế hoạch thuộc các lĩnh vực
trong công ty,kiểm tra đôn đốc việc thực hiện kế hoạch đã đề ra.
-Phòng Kế toán thống kê tài chính: Quản lý tài chính và giám sát việc hoạt
động kinh tế tài chính trong công ty.Tổ chức chỉ đạo thực hiện toàn bộ công tác kế
toán,hạch toán kế toán theo đúng chuẩn mực kinh tế Việt Nam và hoạch toán kinh tế
nội bộ.
-Phòng Thẩm định: Tham mưu giúp giám đốc công ty thẩm định kế hoạch sản
xuất kinh doanh đầu tư xây dựng và kết quả đấu thầu các gói thầu mua bán hàng hóa
của công ty và của dự án thuộc công ty quản lý.
-Phòng Kỹ thuật sản xuất: Quản lý kỹ thuật công nghệ sản xuất xi măng ,đảm
bảo xi măng sản xuất đúng chất lượng theo quy định ,quản lý chặt chẽ các quá trình
sản xuất,quản lý chất lượng sản phẩm,tiến bộ kỹ thuật môi trường, định mức, nguyên,
nhiên vật liệu nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao.
-Phòng cơ khí:Quản lý kỹ thuật các thiết bị cơ khí,thiết bị xe máy của công
-Trạm y tế công ty: Quản lý và chăm sóc sức khỏe ban đầu.Khám chữa
bệnh,phòng chống dịch bệnh,cấp cứu tai nạn lao động cho người lao động và người lao
động theo khả năng chuyên môn và phân cấp của ngành y tế.
-Ban quản lý dự án : Là đơn vị trực thuộc công ty,chịu trách nhiệm quản lý,điều
hành dự án đầu tư xây dựng dây chuyền mới nhà máy xi măng Bỉm Sơn.Ban quản lý
dự án chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư về việc thực hiện nhiệm
vụ,quyền hạn được giao.
Nhìn vào có thể thấy công ty đã phân công trách nhiệm chính cho 5 phó giám
đốc : Mỗi phó giám đốc phụ trách một tổ hợp, phòng ban, phân xưởng có chức năng
tương tự và có liên quan đến nhau . Điều đó chứng tỏ công ty đã có sự nghiên cứu
chấn chỉnh sắp xếp bộ máy quản lý, các đơn vị sản xuất một cách hợp lý để mỗi phó
giám đốc phụ trách một lĩnh vực riêng vừa đảm bảo nắm bắt được tình hình một cách
cụ thể, vừa tránh được sự chồng chéo trong quản lý .
4. Môt số đặc điêm kinh doanh của công ty .
a , Sản phẩm của công ty .
Sản phẩm chính hiện nay Công ty đang sản xuất là xi măng pooclăng hỗn hợp
PCB 30 và PCB 40 theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) 6260 năm 1997, xi măng PC 40
theo TCVN 2682 năm 1999 và Clinker thương phẩm theo TCVN 7024 năm 2002. Các
sản phẩm này Công ty đã công bố sản phẩm phù hợp tiêu chuẩn và chất lượng hàng
hoá tại Chi cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng (TC – ĐL – CL) Thanh Hoá và được
Chi cục tiếp nhận. Đặc biệt đối với hai sản phẩm xi măng chủ đạo là PCB 30 và PCB 40 đã
được Trung tâm Chứng nhận Phù hợp Tiêu chuẩn QUACERT thuộc Tổng cục TC – ĐL –
CL cấp chứng nhận sản phẩm phù hợp tiêu chuẩn.
Quy trình sản xuất của công ty là sản xuất đơn giản kiểu khép kín. Sản phẩm tạo ra trải
qua nhiều giai đoạn kế tiếp nhau, Sản phẩm chính của công ty là xi măg PCB 30, PCB
40, Clinker, ximăng lixăng, được sản xuất trên dây chuyền công nghệ đồng bộ, liên
tục.Với chính sách chất lượng nhất quán, sản phẩm xi măng mang nhãn hiệu “Con
là 415 người. So với năm 2008, năm 2009 số lao động nam giảm 20 người, tương ứng
giảm 1,03%; lao động nữ giảm 77 người, tương ứng giảm 15,65%. Năm 2010 số lượng
lao động nam tăng 0,36%, tương ứng tăng 7 người; Nhưng số lao động nữ lại tiếp tục
giảm, giảm 4,58% hay giảm 19 người.
Xét theo trình độ chuyên môn: Qua bảng 1 cho thấy, qua 3 năm, lao động có
trình độ đại học và trên đại học tăng nhanh. Nếu năm 2008 là 322 lao động chiếm
13,23% thì năm 2009 tăng lên 31 người, tương ứng tăng 9,635% so với năm 2008.
Đến năm 2010, đội ngũ lao động này tiếp tục tăng lên 22 người, tức là tăng 6,23%.
Đặc biệt, trong năm 2010 này thì so với năm 2009 lao động ở các trình độ như cao
đẳng, công nhân nghề cũng tăng lên. Trong khi đó, thì lao động chưa qua đào tạo giảm
đi một cách đáng kể, giảm 15,83% hay tương ứng giảm 41 người so với năm 2009.
Trình độ chuyên môn của người lao động không ngừng được cải thiện đặc biệt là lao
động có trình độ đại học tăng, chiếm tỷ trọng ngày càng cao, tỉ lệ lao động chưa qua
đào tạo giảm đáng kể, đây là tín hiệu đáng mừng cho doanh nghiệp. Tất cả những biến
động về mặt trình độ chứng tỏ sự quan tâm của ban lãnh đạo tới lực lượng lao động
của Công ty, đã tạo cơ hội cho CBCNV nâng cao trình độ, nâng cao tay nghề và phát
huy tinh thần không ngừng học tập.
Xét theo tính chất công việc: Công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn là một doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng bởi vậy tỷ trọng lao động trực tiếp cao
hơn rất nhiều so với lao động gián tiếp. Năm 2008, số lao động trực tiếp chiếm 75,68%
tương ứng với 1.842 người, lao dộng gián tiếp chỉ chiếm 24,32% tương ứng với 592
người. Năm 2009, lao động trực tiếp của Công ty giảm tương đối nhiều so với năm
2007, giảm 117 người, tương ứng giảm 6,35%. Lao động gián tiếp năm 2009 đang có
xu hướng tăng so với năm 2008, tăng 20 người, tức là tăng 3,38%.
So sánh năm 2010 và năm 2009, số lượng lao động trực tiếp của Công ty tiếp tục
giảm nhưng không giảm mạnh như năm 2009, giảm từ 1.725 người xuống còn 1.694
người, giảm về tuyệt đối 31 người, về tương đối giảm 1,80%.
-3,99
-12
-0,51
1.Phân theo giới tính
- Nam 1.942
79,79
1.922
82,24
1.929
82,97
-20
-1,03
7
0,36
- Nữ 492
20,21
31
9,63
22
6,23
- Cao đẳng 134
5,51
106
4,54
119
5,12
-28
-20,90
13
12,26
- Trung cấp 312
-21
-1,59
54
4,16
- Chưa qua đào tạo 347
14,25
259
12,88
218
9,38
-88
-25,36
-41
-15,83
3. Phân theo tính chất
631
23,91
20
3,38
19
3,10
(Nguồn: Phòng tổ chức lao động - CTCP xi măng Bỉm Sơn)
c, Tình hình cơ sở vật chất của công ty .
Công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn là một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh vật
liệu xây dựng nên vấn đề CSVCKT luôn được coi trọng, quan tâm hàng đầu. Đặc
biệt là máy móc, trang thiết bị sản xuất. Bảng 2, phản ánh tình hình cơ sở vật chất
kỹ thuật của Công ty qua 3 năm (2008- 2010).
Nhìn chung, qua 3 năm tổng giá trị CSVCKT của Công ty đều tăng với tốc
độ tương đối cao. Năm 2009, tăng 1,18% hay tăng 21,03 tỷ đồng so với năm 2008
và đạt 1.796,83 tỷ đồng. Và đến năm 2010 tăng 4,95% hay tăng tương ứng 88,97 tỷ
đồng, đạt 1.885,80 tỷ đồng. Điều này chứng tỏ, Công ty luôn chú trọng trong việc
đầu tư tài sản cố định để phục vụ một cách tốt nhất cho quá trình sản xuất kinh
doanh nhằm nâng cao năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế của Công ty;
đồng thời đáp ứng nhu cầu về sản phẩm ngày càng cao của người tiêu dùng.
Máy móc thiết bị chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng giá trị cơ sở vật chất kỹ
thuật (trên 70%) của Công ty, cụ thể là: Năm 2008, giá trị máy móc thiết bị là
giảm
+/-
%tăng,
giảm
Tổng 1.775,80
100 1.796,83
100 1.885,80
100 21,03 1,18 88,97 4,95
1.Nhà cửa, vật kiến
trúc
363,64 20,48 366,48 20,40 383,10 20,31 2,84 0,78 16,62 4,54
2. Máy móc thiết bị 1.287,79
72,52 1.293,25
71,97 1.338,66
70,99 5,46 0,42 45,41 3,51
3. Phương tiện vận tải
truyền dẫn
110,64 6,23 119,51 6,65 140,27 7,44 8,87 8,02 20,76 17,37
4. Thiết bị dụng cụ
quản lý
13,62 0,77 14,60 0,81 15,99 0,85 0,98 7,20 1,39 9,52
5. TSCĐ hữu hình
khác
0,11 0,01 2,99 0,17 7,78 0,41 2,88 2.618,18
nhuận sau thuế của Công ty tăng mạnh. Điều này thể hiện những thành tích đáng
ghi nhận của Công ty trong giai đoạn bước đầu cổ phần hoá.
Năm 2010, lợi nhuận sau thuế của Công ty tăng đạt 229,36 tỷ đồng, tức là
tăng 14,60 tỷ đồng, tương ứng tăng trên 6,80%. Năm 2010, Công ty không được
miễn thuế thu nhập nữa tuy vậy, Công ty luôn cố gắng tiết kiệm chi phí, giảm tỷ lệ
phế liệu, tăng doanh thu bán hàng và vẫn đảm bảo lợi nhuận sau thuế ngày càng
được nâng cao.
Trong điều kiện nền kinh tế khủng hoảng, Công ty vẫn duy trì và phát triển
tốt hoạt động SXKD đạt được những kết quả và hiệu quả kinh doanh đáng ghi
nhận, cho thấy năng lực của ban lãnh đạo cùng toàn thể công nhân viên trong Công
ty là đáng ghi nhận.
BẢNG 3: KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA
CÔNG TY QUA 3 NĂM (2008- 2010)
ĐVT: Tỷ đồng
Chỉ tiêu
Năm
2008
Năm
2009
Năm
2010
so sánh2
009/2008
1.743,05
1.883,90
320,65
22,54
140,85
8,08
3.Lợi nhuận
trước thuế 134,49
214,76
247,65
80,27
59,68
32,89
15,31
4.Thuế TNDN 0
0
quá trình SXKD doanh nghiệp cần đặc biệt quan tâm đến nguồn vốn và cơ cấu của
nguồn vốn để từ đó có các giải pháp và sử dụng vốn kinh doanh tốt đảm bảo đạt
hiệu quả kinh tế cao.
Qua bảng 4, ta thấy tình hình tài chính của Công ty qua 3 năm (2008-2010)
có sự biến động đáng kể, tổng vốn của Công ty không ngừng tăng lên, cụ thể: năm
2008 tổng vốn của Công ty là 2.082,02 tỷ đồng thì đến năm 2009 con số này tăng
lên đạt 3.485,78 tỷ đồng, tăng 67,42% hay tăng tương ứng là 1.403,76 tỷ đồng.
Sang đến năm 2010, tổng số vốn tiếp tục tăng so với năm 2009, tăng 41,15%
hay tăng 1.434,34 tỷ đồng. Để đánh giá một cách chính xác hơn về biến động tình
hình tài chính của Công ty chúng ta xem xét theo các chỉ tiêu sau:
Xét theo tính chất: gồm vốn cố định và vốn lưu động, trong cơ cấu nguồn
vốn của Công ty ta thấy rằng tỷ trọng VLĐ và VCĐ có sự thay đổi qua các năm,
biểu hiện là năm 2008 VLĐ của Công ty chiếm tỷ trọng 46,34% và VCĐ là
53,66%; Nhưng sang năm 2009 kết cấu VLĐ và VCĐ của Công ty đã có sự thay
đổi, trong đó VLĐ lại chiếm tỷ trọng lớn hơn VCĐ, thể hiện VLĐ chiếm tỷ trọng là
57,14% và VCĐ chiếm 42,86%, đã có sự chuyển dịch cơ cấu VLĐ và VCĐ.
Năm 2009 so với năm 2008 VLĐ và VCĐ của Công ty đều tăng, tuy nhiên
VLĐ tăng mạnh hơn, cụ thể VLĐ tăng 106,29% hay tăng 1.026,81 tỷ đồng, tức đạt
1.991,64 tỷ đồng; Còn VCĐ tăng 33,74% hay tăng 376,95 tỷ đồng, tức đạt 1.494,14
tỷ đồng; Năm 2009 có sự tăng nhanh của VLĐ như vậy là do Công ty mở rộng quy
mô sản xuất, số lượng sản phẩm sản xuất ra nhiều làm cho VLĐ tăng nhanh, và trong
năm này Công ty đã đầu tư mua thêm máy móc, thiết bị phụ vụ cho dây chuyền sản
xuất mới 2 triệu tấn/ năm để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh đáp ứng nhu cầu
thị trường, đồng thời Công ty cũng đầu tư mua thêm phượng tiện vận tải phục vụ việc
vận chuyển, nguyên vật liệu, hàng hoá nên số VCĐ cũng tăng đáng kể.
Sang năm 2010 VLĐ và VCĐ của Công ty tiếp tục tăng với tốc độ tăng cũng
khá mạnh, cụ thể là VCĐ tăng 44,83% hay tăng 669,86 tỷ đồng; VLĐ tăng 38,38%
Năm 2010, nguồn VCSH và nợ tiếp tục tăng, tuy nhiên tăng nhẹ hơn, không
tăng đột biến như năm 2009. Thể hiện: VCSH tăng 10,46% hay tăng tương ứng
115,29 tỷ đồng, khoản nợ tăng 54,59% hay tăng 1.301,05 tỷ đồng so với năm 2008,
trong đó nợ ngắn hạn và dài hạn cũng tăng lên.
Qua phân tích, ta thấy nguồn vốn của Công ty qua 3 năm đều tăng lên, đặc
biệt là nguồn VCSH bổ sung một lượng khá lớn thể hiện khả năng tự chủ của Công
ty ngày càng được nâng lên. Bên cạnh đó, khả năng huy động vốn ngắn hạn và dài
hạn tăng mạnh nhằm đáp ứng việc mở rộng quy mô SXKD. Cụ thể, vốn bình quân
trên lao động năm 2008 là 0,855 tỷ đồng đến năm 2010 con số này đạt 2,116 tỷ
đồng, tức đã tăng 1,261 tỷ đồng so với năm 2008.
Tóm lại, để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh được phát triển
cần phải có chính sách hiệu quả hơn để quản lý các khoản phải thu để tránh tình
trạng bị chiếm dụng vốn, các khoản phải trả tránh tình trạng nợ quá nhiều sẽ gặp
khó khăn trong việc trả nợ. Bên cạnh đó cần có chính sách để quản lý vốn bằng tiền
tốt hơn, để đảm bảo khả năng thanh toán tức thời của Công ty được tốt hơn trong
những thời điểm cần thiết. Mặt khác cũng cần có những biện pháp quản lý vốn cố
định như tài sản cố định, đầu tư trang bị máy móc thiết bị nhằm phục vụ tốt hơn
trong hoạt động sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.