§¹i häc Quèc Gia Hµ Néi
Trêng §¹i häc Khoa häc X· héi vÀ Nh©n v¨n
*****
NGUYỄN THỊ HOA LÊ
NGHIÊN CỨU VĂN BẢN NHỮNG TÁC PHẨM
MANG TÊN NGUYỄN KHẮC TRẠCH HIỆN TÀNG
TRỮ TẠI VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
CHUYÊN NGÀNH: HÁN NÔM
MÃ SỐ: 60.22.40
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS . TRẦN NGHĨA
H À NỘI - 2007
2
MỞ ĐẦU
1. Lí do lựa chọn đề tài:
Theo sách DSHNVN-TMĐY cho biết, hiện nay ở Viện nghiên cứu Hán
Nôm có tới 9 tác phẩm chữ Hán mang tên tác giả Nguyễn Khắc Trạch, với đủ
các thể loại như thơ, văn, trướng, đối…Ngoài số này ra, tác phẩm của Nguyễn
Khắc Trạch còn được chép lẫn trong không ít sách của người khác.
Trong các tác phẩm đó, thơ chiếm phần chủ yếu. Bản nhiều nhất có đến
422 bài (bản VHv.212), về văn, bản nhiều nhất có 54 bài. Nếu tổng cộng các
văn bản lại, có đến hơn một nghìn bài thơ và mấy trăm bài văn. Số lượng thơ
văn như thế quả là đồ sộ. Nhưng đó mới chỉ là nhìn từ góc độ hình thức. Còn
khi đi sâu vào nội dung cụ thể từng văn bản ta mới thấy chúng đang hàm chứa
nhiều ẩn số. Các nhà văn bản học Hán Nôm cho biết kho thư tịch Hán Nôm
của chúng ta hiện nay, nhất là các văn bản viết tay, thường có nhiều vấn đề
phức tạp, rối rắm về mặt văn bản. Nào là “thật giả lẫn lộn, sao đi chép lại quá
nhiều”; nào là “khó đọc, khó hiểu”…Các văn bản của nhóm tác phẩm mang
tên Nguyễn Khắc Trạch hiện còn cũng không nằm ngoài tình trạng đó. Khi
xem cụ thể nội dung trong từng tác phẩm, thấy sự tương đồng và dị biệt giữa
các tác phẩm rất nhiều. Ngoài ra, có những bản còn có chép cả thơ văn của
định trong các lĩnh vực giáo dục, lịch sử, kiến trúc, xây dựng và văn hóa. Về
sáng tác, sách Lược truyện các tác gia Việt Nam, Tập I, do Trần Văn Giáp chủ
biên, NXB KHXH, 1971, cho biết Nguyễn Khắc Trạch có các tập thơ văn sau
đây: Nhuế Xuyên bạch bút thi tập, Nhuế Xuyên tập, Nhuế Xuyên thi tập, Nhuế
Xuyên văn tập… Nhìn chung, đối với một số tác phẩm Hán Nôm hiện nay,
còn có điều chưa được rõ ràng, cần tiếp tục được nghiên cứu”. Ngay soạn giả
Nguyễn Khắc Chính trong sách Danh nhân Nguyễn Khắc Trạch (1797-1884),
thân thế và sự nghiệp, trang 50, chú thích (32), sau khi liệt kê các tác phẩm
của Nguyễn Khắc Trạch, cũng cảm thấy băn khoăn: “Danh mục các tác phẩm
trên tập hợp từ nhiều sách, báo, tạp chí. Tuy nhiên vẫn còn những điều chưa
được xác định rõ ràng, cần nghiên cứu thêm”. Quả thực khi xem hết lượt các
tác phẩm mang tên Nguyễn Khắc Trạch hiện còn, thấy nhận định của học giả
4
Trần Văn Giáp trong Lược truyện các tác gia Việt Nam về tác giả của nhóm
tác phẩm trên đã có chỗ không đúng. Ông đã “lấy râu ông nọ cắm cằm bà
kia”. Bởi vậy tôi quyết định nghiên cứu văn bản những tác phẩm mang tên
Nguyễn Khắc Trạch hiện còn, nhằm làm sáng tỏ ai trong bốn vị Nguyễn Khắc
Trạch cùng đỗ Cử nhân dưới triều Nguyễn là tác giả đích thực của nhóm tác
phẩm này.
2. Lịch sử vấn đề:
Từ trước đến nay chưa có một chuyên khảo nào về văn bản những tác
phẩm mang tên Nguyễn Khắc Trạch. Chỉ có sách Danh nhân Nguyễn Khắc
Trạch – thân thế và sự nghiệp xuất bản năm 2004 của Nguyễn Khắc Chính
nói trên có đề cập đến một số khía cạnh nhỏ về nội dung nhóm tác phẩm
mang tên Nguyễn Khắc Trạch. Như trong phần viết về tình hình văn học của
tác giả Nguyễn Khắc Trạch làng Bình Hồ, Nguyễn Khắc Chính đã giới thiệu
tác phẩm của ông bao gồm những tác phẩm như LTCTGVN và sách
DSHNVN-TMĐY đã thống kê. Trong phần phụ lục sách này, tác giả Nguyễn
Khắc Chính có giới thiệu bản dịch và chú thích khoảng 80 bài thơ trích trong
tác phẩm Nhuế Xuyên tùy bút thi tập (VHv.212) và Nhuế Xuyên thi tập
4. Phương pháp tiến hành:
4.1. Phương pháp văn bản học:
Do yêu cầu nghiên cứu văn bản, luận văn sẽ vận dụng các phương pháp
của văn bản học, bắt đầu là việc thu thập đầy đủ văn bản nhóm tác phẩm mang
tên Nguyễn Khắc Trạch mà cuốn DSHNVN-TMĐY đã nêu trong thư mục. Thứ
đến, tiến hành mô tả vật lý, đọc văn bản, xử lí các nội dung chứa trong văn bản,
làm thư mục các bài thơ bài văn để so sánh đối chiếu nhằm tìm ra bản tiêu biểu
nhất, đáng tin cậy nhất. Ngoài ra còn tìm hiểu về quá trình truyền bản, chữ
kiêng húy để xác định niên đại của văn bản.
4.2. Phương pháp thống kê, so sánh đối chiếu, phân tích chứng minh.
Luận văn thống kê những cứ liệu liên quan đến thân thế và sự nghiệp của
các vị Cử nhân Nguyễn Khắc Trạch trong và ngoài tác phẩm (nội chứng, bàng
6
chứng) để từ đó tiến hành so sánh đối chiếu, từ đó chứng minh ai là tác giả
đích thực của nhóm văn bản này.
5. Đóng góp mới của luận văn.
Thứ nhất, trên cơ sở thu thập văn bản những tác phẩm mang tên Nguyễn
Khắc Trạch hiện còn, tiến hành nghiên cứu văn bản tìm ra bản đáng tin cậy
nhất, đây là điều trước đây chưa ai làm. Đồng thời, lập thư mục số lượng các
bài trong các dị bản, tiến hành so sánh đối chiếu sự tương đồng và dị biệt để
đi đến xác định số lượng các bài thơ, bài văn đích thực của tác giả là bao
nhiêu.
Thứ hai, từ các nội chứng trong tác phẩm, kết hợp với những bàng chứng
về thân thế và sự nghiệp của tác giả, luận văn đã chứng minh được ai là tác
giả đích thực của nhóm tác phẩm này, nhằm đem lại quyền tác giả cho tác
phẩm. Tránh tình trạng từ một ngộ nhận của một học giả đi trước mà kéo theo
bao nhận định sai lầm khác của các thế hệ kế sau.
6. Bố cục của luận văn.
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, luận văn có 3 chương như sau:
Chương 1: Về văn bản những tác phẩm mang tên Nguyễn Khắc Trạch
trong Minh đô thi tuyển. Kí hiệu A.2171; Vi giang hiệu tần tập. Kí hiệu
VHv.216; Vũ trung tùy bút. Kí hiệu A.2312. Phú có chép trong Tam đăng
Hoàng Giáp trường phú. Kí hiệu VHv.321.
Ở đây chúng tôi chủ yếu chỉ đi vào mô tả tình trạng văn bản và đi sâu
tìm hiểu các văn bản độc lập của Nguyễn Khắc Trạch, còn thơ văn trướng phú
8
của ông chép ở tác phẩm của người khác thì chỉ tìm hiểu về phần của Nguyễn
Khắc Trạch ở trong đó mà thôi. Sau đây là tình trạng của từng loại văn bản.
1.1.1. Tình trạng các văn bản thơ.
1. Bản Nhuế Xuyên tùy bút thi tập. Kí hiệu VHv.212.
Khổ 15 x 26 cm, viết tay trên giấy dó mỏng đã ố vàng. Bìa có hai tờ: tờ
bìa chính ở ngoài làm bằng giấy các-tông, được quét sơn đen; tờ bìa phụ ở
trong bằng giấy dó, quét sơn màu vàng đất. Trên tờ bìa phụ thứ hai có tem của
“Thư viện khoa học Trung ương”. Sau hai tờ bìa chính và phụ, đến tờ ghi tên
tác phẩm. Tên tác phẩm viết dọc bằng bút lông mực tàu đen, cỡ chữ lớn hơn
phần chính văn. Sau tờ này, còn có hai tờ giấy để trống, rồi mới đến phần
chính văn. Mặt a tờ thứ nhất (trong hai tờ giấy để trống) có dòng chữ Hán
“Sơn Tây Yên Sơn Thuấn Nhuế nhân, Tự Đức tứ thập niên Tân Dậu khoa Cử
nhân, quan sử quán biên tu”. Dòng chữ này viết bằng bút mực xanh của thời
nay, nên đây là chữ của người thời nay mới viết vào. Tiếp đến là phần chính
văn. Dòng đầu tiên của phần chính văn “Nhuế Xuyên tùy bút thi tập quyển chi
nhất”. Sau dòng này, có một đoạn đề bạt (khoảng ba dòng), tiếp đến thơ.
Phần gáy ở hai đầu quét sơn đỏ, để trống một khoảng để viết tên tác
phẩm “Nhuế Xuyên tùy bút thi tập”. Bản này không thấy đánh số trang. Phần
chính văn tổng cộng 189 trang, mỗi trang văn bản được chép 8 dòng, mỗi
dòng có khoảng 23 đến 24 chữ. Cả bản đều chép thơ, tổng cộng 422 bài. Tên
các bài thơ đều viết án xuống nên rất dễ nhận ra. Thơ vừa có tứ tuyệt vừa có
thất ngôn bát cú, cũng có lẫn vài bài ngũ ngôn và thất ngôn trường thiên.
Riêng trong “Nhuế Xuyên tùy bút quyển chi nhất” đều làm theo thể thất ngôn
tứ tuyệt; còn các quyển sau thì chủ yếu là thơ thất ngôn bát cú. Trong thơ có
cho rõ thêm “hữu tại đệ tam quyển”.
- “Nhuế Xuyên thi tập, nc: Đinh Sửu dĩ hạ”, từ t171 đến t189 (đến hết).
Phần này không chia theo quyển mà chia theo trình tự thời gian sáng tác. Năm
sáng tác được ghi chú ngay dưới tên phần thơ đó.
Như vậy bản này vừa chia theo quyển vừa chia theo trình tự thời gian
sáng tác. Các quyển trong văn bản cũng không đặt theo trình tự, q4 lại đặt lên
10
trước q2 và q3, có lẽ khi sưu tập thơ của tác giả, người chép tìm thấy q4
trước.
Trong cả bản, có ba loại chữ khác nhau. Cụ thể là: q1 và q4 (t1 đến t53)
viết cùng một loại chữ, chữ viết theo thể hành, có nhiều chữ viết theo giản
thể, nhưng ít chữ viết ngoáy, nét viết hơi tròn. Sang q2 và q3 (t74 đến t170)
nét bút nhìn tổng thể khác với phần trên, cũng viết theo thể hành, có nhiều
chữ viết thảo, đá thảo, nét bút phóng khoáng hơn, thể hiện rõ nét thanh nét
đậm, vuông thành sắc cạnh hơn phần trước. Phần “Nhuế Xuyên thi tập, Đinh
sửu niên dĩ hạ” (t171 đến t189) nét chữ khác với hai phần trên, chữ viết theo
thể hành, cũng có chữ đá thảo. Đơn cử ra đây cách viết chữ “ 聲 thanh” ở
trong 3 loại chữ:
Ở q1 và q4, chữ này được viết theo dạng chữ giản thể của thời hiện đại
声, các nét rõ ràng như ở d6 t2, d7 t3, d2 t13, d3 t19, d4 t20, d5 t35, d5 t38,
d2 t43, d1 t53, d2 t54, d6 t55, d4 t59, d6 t60, d7 t62, d4 d6 t63…tất cả các
chữ “thanh” trong hai quyển này đều viết theo kiểu giản thể này.
Ở q2 và q3, chữ “thanh” cũng có một số nơi viết theo giản thể nhưng
phần lớn đều viết theo phồn thể và viết thảo, các nét trong chữ gần như viết
liền nhau, như ở: d1 t83, d5 t88, d5 t96, d3 t97, d8 t103, d8 t109, d6 t115, d6
d8 t121, d5 t129, d4 t132, d8 t132, d2 t134, d4 t136, d1 t141, d1 t153, d8
t154, d4 t155, d4 t156, d8 t157, d4 t159, d5 d7 t162…
Ở phần “Nhuế Xuyên thi tập Đinh Sửu niên dĩ hạ”, chữ “thanh” được
viết theo dạng phồn thể, các nét, các bộ phận trong chữ tương đối rõ ràng, chỉ
có bộ “nhĩ” viết tháu giống như con số 3 trong chữ quốc ngữ bây giờ, ví dụ ở:
Dưới tiêu đề bài “Quốc Oai phủ thành” của phần “Quốc Oai thi” có
cước chú: “Tập trung đại thú khẩu vẫn” (trong tập này ta thay cho giọng điệu
của thái thú). Nếu như dựa vào câu nói này thì phần này lại là thơ của Khắc
Trạch ư? Ở bản Nhuế Xuyên thi tập, Kí hiệu A.444 cũng có phần “Quốc Oai
thi”. Phần “Quốc Oai thi” ở Nhuế Xuyên thi tập được mang tên “Nhuế Xuyên
lịch hoạn thi - Quốc Oai thi thảo”, không thấy viết lời tựa nói trên, không
12
thấy chép phần đầu (phần “Thanh Hóa thi”). Như thế tác phẩm Nhuế Xuyên
thi tập A.444 đã công nhận phần “Quốc Oai thi” là của Nguyễn Khắc Trạch.
Nhưng riêng tôi thì không, tôi cho rằng nửa sau của quyển 1 (tức phần
“Quốc Oai thi” <t24b80 đến t41b138> vẫn là thơ của Nguyễn Phát Khoa. Kết
luận này căn cứ vào: thứ nhất như lời của tác giả trong bài tựa đầu quyển 1 đã
nói: “Nhưng số thơ này để riêng ở đầu tập, vì chúng nguyên chẳng phải là thơ
làm theo đề của ta”. “Đầu tập” trong câu này chắc là đầu của “Nhuế Xuyên
tùy bút thi tập” tức đầu tác phẩm. Thứ hai, ở trong phần này dưới nhiều bài
thơ có các cước chú ở cuối bài thơ kiểu như: “Nam kì nhân hữu bất tri loa
giả, cựu thường vấn dư, dư thư thử dĩ đáp chi” (Người ở Nam Kì không biết
loa như thế nào, trước đây hay hỏi ta, ta viết bài này để trả lời họ) <Phụ đáp
vấn loa, t35 b116>; “Nam Kì vô thử thuế cố Thái thú dị nhi mệnh vi đề” (Nam
Kì không có loại thuế này cho nên thái thú thấy lạ mà làm bài này) <Cước mễ
thuế, t40b132>; “Nam vô đê bất tri tác pháp dị nhi mệnh chi” (Trong Nam
không có đê, nên không biết cách làm, thấy lạ nên làm bài này) <Đê tâm gia
chử, t41b138>…>. Nguyễn Phát Khoa là bạn thân với Nguyễn Khắc Trạch.
Sách NÔNÔCTN cho biết: “Nguyễn Phát Khoa trước có tên là Nguyễn Đôn
Khiêm người xã Thành Công, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Thi
Hương khoa Đinh Mão, Tự Đức thứ 20 (1967) tại trường Thừa Thiên. Làm
đến chức Án sát”. Theo bài văn “Tứ Quốc Oai phủ nha hạ bản quan trướng
tự” (Trướng trần bày cấp trên ban cho sở quan phủ Quốc Oai chúc mừng quan
của bản phủ) <VHv.214, t126b48>, Phát Khoa sau khi thi đỗ Cử Nhân chức
giữ chức đầu tiên là Án sát tỉnh Thanh Hóa, một thời gian làm Tri huyện
này được viết bằng bút mực xanh của thời nay, nên đây là do người sau này
mới viết. Sau tờ này đến tác phẩm Nhuế Xuyên thi tập. Đây là bản hợp đính
nên có hai tác phẩm, tác phẩm Nhuế Xuyên thi tập có kí hiệu A.444 ở nửa đầu
văn bản, nửa sau là Tốn Trai thi tập kí hiệu A.445. Phần gáy quét sơn đỏ, trên
đó viết tên của tác phẩm nhưng do mối mọt ăn nên đã mất một số chữ chỉ còn
“Xuyên thi tập - Tốn Trai thi”. Như vậy đã mất đi chữ “Nhuế” và “tập hợp
đính”.
14
Ở mỗi trang, mép bên ngoài đều ghi Nhuế Xuyên thi tập, phía dưới ghi
số thứ tự tờ. Phần chính văn tổng cộng 246 trang, viết trên hai mặt giấy, mỗi
trang văn bản có 9 dòng, mỗi dòng có khoảng 19 chữ. Dòng đầu tiên tờ 1
phần chính văn là “Nhuế Xuyên cử nhân Nguyễn Khắc Trạch thi tập”, ở đây
chữ “Trạch” tên tác giả được viết bằng chữ (澤), nhưng ở các bản khác đều
viết chữ (宅), cỡ chữ dòng này bằng chính văn. Từ đầu tác phẩm đến cuối tác
phẩm được viết cùng một loại chữ, chữ chân phương, rõ ràng, dễ đọc. Các
cước chú, phụ chú khá nhiều, nhưng viết không nhất quán, có chỗ viết chữ
nhỏ hơn phần chính văn (ví dụ: d4 t39; d1 t39; d2 t41), có chỗ lại viết chữ to
bằng phần chính văn (d7,8 t38; cả trang 49). Tiêu đề các bài thơ viết không
đài lên hay án xuống nên rất khó nhận ra.
Dấu tích đọc duyệt văn bản được thể hiện qua màu mực đỏ hồng, bằng
bút lông, dùng trong các trường hợp như ngắt câu, đánh dấu bên địa danh,
nhưng không thấy sửa chữa, gạch xóa hay thêm bớt. Cả bản đều nhất quán
viết kiêng húy chữ “thời” thành chữ “thìn”.
Văn bản không có bạt tựa gì, tên tác phẩm là “thi tập”, nhưng trong đó
chép lẫn cả thơ, văn, phú và câu đối. Cả bản tổng cộng có 331 bài thơ, 19 bài
văn, hơn 100 cặp câu đối, câu đối chép xen lẫn trong phần văn. Từ trang đầu
đến trang 159 chép thơ, sau trang 159 đến hết chép văn và câu đối.
Mặc dầu không chia quyển nhưng có các phần đặt theo trình tự như sau:
- “Nhuế Xuyên Cử nhân Nguyễn Khắc Trạch thi tập” từ t1 đến t92,
- “Hoàng triều ngự chế quan chức thi” từ d4 t92 đến hết t126. Trong
cũng chưa biết có phải thơ của Nguyễn Khắc Trạch không?
- Từ trang 160 đến hết chép câu đối lẫn văn, phần văn này chép rất tùy
tiện, nhiều bài không có tiêu đề. Nói chung phần văn và câu đối trong bản
này chủ yếu là của người khác, văn chỉ có bài “Sơn Tây thị độc Nguyễn Khắc
Trạch đại lục bộ vãn hiển điện đại học sĩ tướng công Nguyễn Tri Phương
văn” có chú do Nguyễn Khắc Trạch soạn. Riêng câu đối phần lớn là của
người khác phúng viếng, mừng tặng Nguyễn Khắc Trạch.
16
3. Nhuế Xuyên bạch bút thi tập. Kí hiệu A.517.
Khổ 22 x 32, viết trên giấy dó dày. Bìa bằng giấy các tông màu vàng
đóng đôi, phần gáy phía sau đã sờn rách. Khoảng 1/3 nửa trên của gáy phía
sau đề tên tác phẩm “Nhuế giang bạch bút thi”. Văn bản có đánh số trên tất cả
các trang ở mép ngoài.
Trừ tờ bìa chính và tờ bìa phụ, tổng cộng có 142 trang chính văn, chép
trên hai mặt giấy, mỗi trang 9 dòng, mỗi dòng 20 chữ. Cả bản viết cùng một
loại chữ, chữ viết rõ ràng chân phương, dễ đọc, không có chữ viết tháu hay
thảo. Cả tác phẩm có 306 bài thơ, chép liền mạch không chia quyển hay phần.
Trang đầu, dòng đầu viết “Nhuế Xuyên tùy bút thi tập”, dòng thứ hai
“Ngự sử An Chi Nguyễn Khắc Trạch”. Trong dòng thứ hai chữ “Trạch” tên
tác giả có hai chữ, chữ trên viết 澤, bên phải chữ này có dấu gạch bỏ, phía
dưới viết lại bằng chữ 宅 .
Trong văn bản không có dấu tích đọc duyệt văn bản, rất ít cước chú, phụ
chú. Cỡ chữ của phần phụ chú, cước chú hầu như viết bằng chính văn nên rất
khó phân biệt, ví dụ ở d 7,8,9 t1; d1,2,6,7,8 t4; d4 t6…Về tình hình kiêng húy,
chữ “thời” trong toàn văn bản đều viết kiêng húy thành chữ “thìn”.
4. Nhuế Xuyên thi tập. Kí hiệu VHv.213.
Khổ 20 x 18, viết tay trên giấy dó dày. Bìa chính bằng giấy xi-măng
quét sơn đen, sau đó có hai tờ bìa phụ bằng giấy dó. Phần gáy ở hai đầu quét
sơn đỏ, có để một khoảng trống viết tên tác phẩm. Sách được kẻ khung bằng
mực đỏ nhạt để viết cho ngay. Mép ngoài giữa hai trang có chữ “Tường Thái
tổng cộng 39 bài. Đây là tác phẩm “thi tuyển” nên phần thơ của Nguyễn Khắc
Trạch trong tác phẩm này được tuyển từ nhiều nguồn, trong đó tuyển cả
những bài ở nửa đầu quyển 1 bản VHv.212 (phần “Thanh Hóa thi” và “Quảng
Xương thi”, tức phần chúng tôi đã nhận định là thơ của Nguyễn Phát Khoa do
Khắc Trạch bình duyệt và nhuận sắc). Nói chung, thơ trong phần ít, nhưng
tương đồng nhiều, chỉ có 5 bài dị biệt.
18
- Phần thơ trong Vi giang hiệu tần tập. Kí hiệu Vhv.216.
Trong tác phẩm này, phần thơ của Nguyễn Khắc Trạch từ tờ 69a đến tờ
74b, chữ in rõ ràng. Tờ đầu, dòng đầu phần thơ Nguyễn Khắc Trạch có dòng:
“Nhuế Xuyên Nguyễn An Chi thi tập, Sơn Tây Thuấn Nhuế nhân, tự Khắc
Trạch, Tân Dậu cử nhân”. Tổng cộng có 37 bài thơ, trong đó có 10 bài dị biệt
với các bản độc lập và các phần ở tác phẩm người khác.
Trong phần này có 1 chữ “thời” ở d2 tờ 73a không viết kiêng húy, chứng
tỏ phần thơ trong tác phẩm này được in sau thời Tự Đức.
Hiện chỉ còn 4 bản thơ độc lập được mô tả tỉ mỉ ở trên và 3 phần chép
trong tác phẩm của người khác. Trong quá trình mô tả văn bản, khi đi vào nội
dung của từng phần trong tác phẩm, chúng tôi đã phát hiện trong trong bản
VHv.212 và A.444 có chép khá nhiều thơ của người khác. Bởi vậy, chúng tôi
tổng hợp số lượng thơ của các tác phẩm trước và sau khi đã sàng lọc thơ của
người khác qua bảng I dưới đây.
Bảng I: Bảng tổng hợp số lượng thơ trong các tác phẩm trước và
sau khi khấu trừ những bài được nhận định của người khác.
STT Tên tác phẩm Kí hiệu
Số thơ khi chưa
khấu trừ trong
các tác phẩm
Số thơ xác
định của
người khác
thơ được thể hiện trong bảng II. Còn sau đây là so sánh để tìm ra để bản.
- Bản VHv.212, như tình trạng văn bản đã mô tả, trong một bản có ba
loại chữ, nên bản này do ba người sao chép. Hiện chỉ còn thủ cảo của tác giả ỏ
phần “Nhuế Xuyên tùy bút thi biên toàn tập quyển chi nhị” chép ở tác phẩm
Vũ trung tùy bút. Chúng tôi đã so sánh nét chữ ở phần này với ba loại chữ
trong VHv.212, không có loại chữ nào giống nhau, vậy có thể kết luận bản
VHv.212 này không phải thủ cảo của tác giả. Trong bản này cũng có “Nhuế
Xuyên tùy bút thi tập quyển chi nhị” nhưng số lượng bài nhiều gần gấp đôi
phần “Nhuế Xuyên tùy bút thi biên toàn tập quyển chi nhị” trong tác phẩm Vũ
trung tùy bút (VHv.212 có 143 bài, VTTB có 84 bài). Như vậy, qua đây cho
thấy q2 của VHv.212 sưu tập đầy đủ hơn.
Đem VHv.212 so với ba bản độc lập VHv.213, A.444, A.517 có một số
điểm vượt trội như sau: Thứ nhất giấy dó bản này mỏng và cũ hơn các bản.
Sách mang kí hiệu VHv, có dấu triện của Thư viện KHTƯ, theo nhận định về
các phông sách của DSHNVN-TMĐY, sách ở Thư viện KHTƯ, chủ yếu sách
sưu tầm từ các thư viện thời trước, nên bản này là sách sưu tầm. Trong tác
phẩm còn lưu dấu tích bình duyệt và nhuận sắc, điều mà các bản còn lại
20
không có nên nó gần với thủ cảo hơn. Thứ hai, tác phẩm chia quyển và phần
rõ ràng, trong các quyển và phần đó thời gian sáng tác hầu như chưa bị xáo
trộn trình tự vốn có. Ví dụ quyển hai chép các bài làm bắt đầu từ năm Tân
Dậu (1861), tiếp đến năm Nhâm Tuất (1862), năm Đinh Mão (1867), rồi Mậu
Thìn (1868); quyển 3 gồm các bài làm trong năm Giáp Tuất (1874); quyển 4
gồm các bài làm năm Ất Hợi (1875) và Bính Tí (1876)… Thứ ba, cước chú
và phụ chú trong bản này nhiều hơn đầy đủ hơn so với các bản khác. Luận
văn đã thống kê về cước chú và phụ chú của 10 bài trong chùm thơ “Thống
trung thiềm phát thập thủ” và 10 bài trong chùm thơ “Nhâm Tuất niên kinh
hành khán cố Lê tiết nghĩa truyện…” làm đại diện. Kết quả được tổng hợp
trong bảng sau:
Tên chùm thơ
đưa ra một số quy định như, khổ sách (thường là khổ sách to, 31 x 21 cm);
cách ghi không đầy đủ: thiếu lạc khoản, có thể thiếu cả Tựa, Bạt; hoặc cách
ghi tổng hợp từ nhiều nguồn do được sao chép về sau…”. Bản này cũng gặp
phải các tình trạng như lời ông Dương Thái Minh nói. Thứ nhất, văn bản
mang kí hiệu A. Thứ hai, bản này giấy dó dày, đang mới, lại có khổ giấy 32 x
23. Vì vậy đây là bản có nguồn gốc từ Thư viện Trường Viễn đông bác cổ, có
lẽ do các kí lục của trường sao chép lại.
Không những bản này không có Tự, Bạt gì mà khi chép còn rất tùy tiện.
Tên tác phẩm là “thi tập” nhưng trong đó lại chép lẫn cả văn và câu đối, thậm
chí còn chép rất nhiều văn thơ của người khác vào. Chép thiếu, chép sai, ví
dụ: bài “Ngâm kí Vĩnh Tường phủ thái thú” <t101b185> không có câu thơ
đầu, nhưng ở VHv.211 <t72b199> có câu này. Chép sai, chép nhầm cũng rất
nhiều, như cước chú ở bài cuối trong chùm thơ “Tống Song Linh doãn tập
Đường thập thủ”, bản này viết “thập thủ hạo cú hựu thị tương phùng dự vi
nhị nhân tác sám ngữ” (câu đầy hạo khí của 10 bài, dự định làm sấm ngữ cho
hai chúng tôi gặp nhau). Bản VHv.212 viết: “thập đề kết cú hựu thị tương
phùng dự vi ngô nhị nhân tác sám ngữ” (Câu kết của mười bài lại là gặp nhau,
vì dự định làm sấm ngữ cho hai chúng tôi gặp nhau). Câu kết của 10 bài này
là Bích sơn như họa hựu phùng quân (Non xanh như tạc, lại gặp ông). Năm
1874 khi vào kinh, qua huyện Minh Linh (tỉnh Quảng Trị) lại nghe tin Song
22
Linh Nguyễn Phát Khoa cũng vào kinh nhận lệnh cải bổ, ông đã vui mừng
nhắc lại câu hẹn ước năm xưa trong một bài tứ tuyệt: Nhất cú tập Đường ưng
thị sấm. Bích sơn như họa hựu phùng quân (Một câu thơ Tập Đường đáng
làm lời sấm, Non xanh như tạc, lại gặp ông) <VHv.212, t158b363>. Như vậy,
liên kết với ý của câu thơ cuối ở bài thứ 10, dùng chữ “kết” mới đúng, có lẽ tự
dạng chữ 声 khi viết đá thảo ở bản VHv.212 có tự dạng gần giống chữ 浩
nên bản này đã chép nhầm.
Sau khi so sánh sự tương đồng và dị biệt trong bảng II, kết quả 162 bài
giống với các bản khác, còn lại 69 bài dị biệt. Trong 162 bài giống với các
Nghệ An nhân)
Tự tu chiến cụ kết
hương binh,
Mưu sự an tri sự bất
thành.
Tâm dị nan bằng ngụy
Tây tướng,
Thế cô phiên thất Nhật
Nam thành.
Nhất môn ủy sự trung
kiêm hiếu,
Thiên cổ lưu phương tử
diệc sinh.
Huống thị nghĩa cao
năng đắc sĩ,
(Nc: Xuất Hàn văn)
Đảo trung nhân chỉ
thức Điền Hoành.
Nguyễn Đình Nghê
(Nc: Nghệ An)
Tự tu chiến cụ kết
hương binh,
Mưu sự an tri sự bất
thành.
Tâm dị nan bằng
ngụy Tây tướng,
Thế cô phiên tác
Nhật Nam thành.
Nhất môn ủy mệnh
trung kiêm hiếu,
Tự tu chiến cụ kết
hương binh,
Mưu sự an tri sự
bất thành.
Tâm dị nan bằng
ngụy Tây tướng,
Thế cô phiên thất
Nhật Nam thành.
Nhất môn ủy mệnh
trung kiêm hiếu,
Thiên cổ lưu
phương tử diệc
sinh.
Huống thị nghĩa
cao năng đắc sĩ.
Đảo trung nhân chỉ
thức Điền Hoành.
Nhìn vào bảng trên cho thấy bản này thay đổi nhiều nhất, thay đổi nguyên
cả bốn câu cuối, rồi cước chú, phụ chú cũng bị cắt. Việc thay đổi tiêu đề, viết
tiêu đề cho gọn lại, rồi từ ngữ, thậm chí cả câu thơ trong bài được sửa đổi
24
nhiều như thế chứng tỏ bản này được soạn lại theo ý đồ của người soạn sách.
Thậm chí tên tác phẩm cũng không nhất quán, phần gáy sách viết “Nhuế
Giang thi tập”, nhưng trang đầu dòng đầu phần chính văn lại viết “Nhuế
Xuyên bạch bút thi tập”.
Bản này còn có số lượng thơ khá nhiều, tổng cộng 306 bài. Có nguyên
một phần từ bài bài 131 đến bài 306 không tương đồng với bản hay phần
khác. Các bài thuộc phần này không thấy xuất hiện thời gian hay sự kiện như
phần đầu. Nội dung phần này chủ yếu vịnh về các nhân vật lịch sử, thần tiên,
các điển tích, điển cố trong sử sách, hoặc lấy các câu thành ngữ, cách ngôn,