NGHIÊN CỨU VĂN BẢN NHỮNG TÁC PHẨM MANG TÊN NGUYỄN KHẮC TRẠCH HIỆN TÀNG TRỮ TẠI VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM - Pdf 31

§¹i häc Quèc Gia Hµ Néi
Trêng §¹i häc Khoa häc X· héi vÀ Nh©n v¨n
*****
NGUYỄN THỊ HOA LÊ
NGHIÊN CỨU VĂN BẢN NHỮNG TÁC PHẨM MANG
TÊN NGUYỄN KHẮC TRẠCH HIỆN TÀNG TRỮ TẠI
VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
CHUYÊN NGÀNH: HÁN NÔM
MÃ SỐ: 60.22.40
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS . TRẦN NGHĨA
HÀ NỘI - 2007
MỞ ĐẦU
1. Lí do lựa chọn đề tài:
Theo sách DSHNVN-TMĐY cho biết, hiện nay ở Viện nghiên cứu Hán
Nôm có tới 9 tác phẩm chữ Hán mang tên tác giả Nguyễn Khắc Trạch, với đủ
các thể loại như thơ, văn, trướng, đối…Ngoài số này ra, tác phẩm của Nguyễn
Khắc Trạch còn được chép lẫn trong không ít sách của người khác.
Trong các tác phẩm đó, thơ chiếm phần chủ yếu. Bản nhiều nhất có đến
422 bài (bản VHv.212), về văn, bản nhiều nhất có 54 bài. Nếu tổng cộng các văn
bản lại, có đến hơn một nghìn bài thơ và mấy trăm bài văn. Số lượng thơ văn
như thế quả là đồ sộ. Nhưng đó mới chỉ là nhìn từ góc độ hình thức. Còn khi đi
sâu vào nội dung cụ thể từng văn bản ta mới thấy chúng đang hàm chứa nhiều
ẩn số. Các nhà văn bản học Hán Nôm cho biết kho thư tịch Hán Nôm của chúng
ta hiện nay, nhất là các văn bản viết tay, thường có nhiều vấn đề phức tạp, rối
rắm về mặt văn bản. Nào là “thật giả lẫn lộn, sao đi chép lại quá nhiều”; nào là
“khó đọc, khó hiểu”…Các văn bản của nhóm tác phẩm mang tên Nguyễn Khắc
Trạch hiện còn cũng không nằm ngoài tình trạng đó. Khi xem cụ thể nội dung
trong từng tác phẩm, thấy sự tương đồng và dị biệt giữa các tác phẩm rất nhiều.
Ngoài ra, có những bản còn có chép cả thơ văn của người khác. Bởi vậy, việc
nghiên cứu văn bản nhóm tác phẩm mang tên Nguyễn Khắc Trạch là một nhu

các tập thơ văn sau đây: Nhuế Xuyên bạch bút thi tập, Nhuế Xuyên tập, Nhuế
Xuyên thi tập, Nhuế Xuyên văn tập… Nhìn chung, đối với một số tác phẩm Hán
Nôm hiện nay, còn có điều chưa được rõ ràng, cần tiếp tục được nghiên cứu”.
Ngay soạn giả Nguyễn Khắc Chính trong sách Danh nhân Nguyễn Khắc Trạch
(1797-1884), thân thế và sự nghiệp, trang 50, chú thích (32), sau khi liệt kê các
tác phẩm của Nguyễn Khắc Trạch, cũng cảm thấy băn khoăn: “Danh mục các
tác phẩm trên tập hợp từ nhiều sách, báo, tạp chí. Tuy nhiên vẫn còn những điều
chưa được xác định rõ ràng, cần nghiên cứu thêm”. Quả thực khi xem hết lượt
các tác phẩm mang tên Nguyễn Khắc Trạch hiện còn, thấy nhận định của học
giả Trần Văn Giáp trong Lược truyện các tác gia Việt Nam về tác giả của nhóm
tác phẩm trên đã có chỗ không đúng. Ông đã “lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia”.
Bởi vậy tôi quyết định nghiên cứu văn bản những tác phẩm mang tên Nguyễn
Khắc Trạch hiện còn, nhằm làm sáng tỏ ai trong bốn vị Nguyễn Khắc Trạch
cùng đỗ Cử nhân dưới triều Nguyễn là tác giả đích thực của nhóm tác phẩm này.
2. Lịch sử vấn đề:
3
Từ trước đến nay chưa có một chuyên khảo nào về văn bản những tác
phẩm mang tên Nguyễn Khắc Trạch. Chỉ có sách Danh nhân Nguyễn Khắc
Trạch – thân thế và sự nghiệp xuất bản năm 2004 của Nguyễn Khắc Chính nói
trên có đề cập đến một số khía cạnh nhỏ về nội dung nhóm tác phẩm mang tên
Nguyễn Khắc Trạch. Như trong phần viết về tình hình văn học của tác giả
Nguyễn Khắc Trạch làng Bình Hồ, Nguyễn Khắc Chính đã giới thiệu tác phẩm
của ông bao gồm những tác phẩm như LTCTGVN và sách DSHNVN-TMĐY đã
thống kê. Trong phần phụ lục sách này, tác giả Nguyễn Khắc Chính có giới
thiệu bản dịch và chú thích khoảng 80 bài thơ trích trong tác phẩm Nhuế Xuyên
tùy bút thi tập (VHv.212) và Nhuế Xuyên thi tập (A.444). Theo nguyên chú ở
trong sách, phần trích dịch này do GS.Trần Nghĩa và Thọ Nhân dịch. Ngoài ra,
trong sách này tác giả Nguyễn Khắc Chính còn trích rất nhiều những nhận định,
nhận xét của các sách, các bài báo khác ở tỉnh Hưng Yên viết về sự nghiệp văn
học của Nguyễn Khắc Trạch ở xã Bình Hồ. Chẳng hạn như Nguyễn Phúc trong

thư mục các bài thơ bài văn để so sánh đối chiếu nhằm tìm ra bản tiêu biểu nhất,
đáng tin cậy nhất. Ngoài ra còn tìm hiểu về quá trình truyền bản, chữ kiêng húy
để xác định niên đại của văn bản.
4.2. Phương pháp thống kê, so sánh đối chiếu, phân tích chứng minh.
Luận văn thống kê những cứ liệu liên quan đến thân thế và sự nghiệp của
các vị Cử nhân Nguyễn Khắc Trạch trong và ngoài tác phẩm (nội chứng, bàng
chứng) để từ đó tiến hành so sánh đối chiếu, từ đó chứng minh ai là tác giả đích
thực của nhóm văn bản này.
5. Đóng góp mới của luận văn.
Thứ nhất, trên cơ sở thu thập văn bản những tác phẩm mang tên Nguyễn
Khắc Trạch hiện còn, tiến hành nghiên cứu văn bản tìm ra bản đáng tin cậy nhất,
đây là điều trước đây chưa ai làm. Đồng thời, lập thư mục số lượng các bài trong
các dị bản, tiến hành so sánh đối chiếu sự tương đồng và dị biệt để đi đến xác
định số lượng các bài thơ, bài văn đích thực của tác giả là bao nhiêu.
Thứ hai, từ các nội chứng trong tác phẩm, kết hợp với những bàng chứng
về thân thế và sự nghiệp của tác giả, luận văn đã chứng minh được ai là tác giả
đích thực của nhóm tác phẩm này, nhằm đem lại quyền tác giả cho tác phẩm.
Tránh tình trạng từ một ngộ nhận của một học giả đi trước mà kéo theo bao nhận
định sai lầm khác của các thế hệ kế sau.
6. Bố cục của luận văn.
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, luận văn có 3 chương như sau:
5
Chương 1: Về văn bản những tác phẩm mang tên Nguyễn Khắc Trạch
hiện còn.
Chương 2: Ai là tác giả đích thực của nhóm tác phẩm trên.
Chương 3: Sơ bộ tìm hiều giá trị nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm.
Cuối luận văn là phần Phụ lục (phần trích dịch những bài mà trong luận văn
đã đề cập đến trong Chương 2 và Chương 3)
6
Chương 1

1.1.1. Tình trạng các văn bản thơ.
7
1. Bản Nhuế Xuyên tùy bút thi tập. Kí hiệu VHv.212.
Khổ 15 x 26 cm, viết tay trên giấy dó mỏng đã ố vàng. Bìa có hai tờ: tờ bìa
chính ở ngoài làm bằng giấy các-tông, được quét sơn đen; tờ bìa phụ ở trong
bằng giấy dó, quét sơn màu vàng đất. Trên tờ bìa phụ thứ hai có tem của “Thư
viện khoa học Trung ương”. Sau hai tờ bìa chính và phụ, đến tờ ghi tên tác
phẩm. Tên tác phẩm viết dọc bằng bút lông mực tàu đen, cỡ chữ lớn hơn phần
chính văn. Sau tờ này, còn có hai tờ giấy để trống, rồi mới đến phần chính văn.
Mặt a tờ thứ nhất (trong hai tờ giấy để trống) có dòng chữ Hán “Sơn Tây Yên
Sơn Thuấn Nhuế nhân, Tự Đức tứ thập niên Tân Dậu khoa Cử nhân, quan sử
quán biên tu”. Dòng chữ này viết bằng bút mực xanh của thời nay, nên đây là
chữ của người thời nay mới viết vào. Tiếp đến là phần chính văn. Dòng đầu tiên
của phần chính văn “Nhuế Xuyên tùy bút thi tập quyển chi nhất”. Sau dòng này,
có một đoạn đề bạt (khoảng ba dòng), tiếp đến thơ.
Phần gáy ở hai đầu quét sơn đỏ, để trống một khoảng để viết tên tác phẩm
“Nhuế Xuyên tùy bút thi tập”. Bản này không thấy đánh số trang. Phần chính văn
tổng cộng 189 trang, mỗi trang văn bản được chép 8 dòng, mỗi dòng có khoảng
23 đến 24 chữ. Cả bản đều chép thơ, tổng cộng 422 bài. Tên các bài thơ đều viết
án xuống nên rất dễ nhận ra. Thơ vừa có tứ tuyệt vừa có thất ngôn bát cú, cũng
có lẫn vài bài ngũ ngôn và thất ngôn trường thiên. Riêng trong “Nhuế Xuyên tùy
bút quyển chi nhất” đều làm theo thể thất ngôn tứ tuyệt; còn các quyển sau thì
chủ yếu là thơ thất ngôn bát cú. Trong thơ có rất nhiều phụ chú và cước chú, gần
như bài nào cũng có. Cước chú và phụ chú, cỡ chữ nhỏ hơn chính văn.
Dấu tích đọc duyệt văn bản được thể hiện qua màu mực đỏ gạch, viết bằng
bút lông, dùng trong các trường hợp như ngắt câu, bổ sung chữ thiếu, xóa chữ
viết sai, đồng thời viết chữ đúng theo cách nhìn của người đọc duyệt văn bản.
Nét bút duyệt này ở q1và q4 chỉ dùng để ngắt câu, không thấy có sửa chữa hay
thêm bớt gì. Ở q2 và q3 việc thêm chữ, thêm câu chú, gạch bỏ sửa lại xuất hiện
tương đối nhiều. Tính ra có đến khoảng 45 chỗ. Có những chỗ thêm cả câu chú

viết cùng một loại chữ, chữ viết theo thể hành, có nhiều chữ viết theo giản thể,
nhưng ít chữ viết ngoáy, nét viết hơi tròn. Sang q2 và q3 (t74 đến t170) nét bút
nhìn tổng thể khác với phần trên, cũng viết theo thể hành, có nhiều chữ viết
thảo, đá thảo, nét bút phóng khoáng hơn, thể hiện rõ nét thanh nét đậm, vuông
thành sắc cạnh hơn phần trước. Phần “Nhuế Xuyên thi tập, Đinh sửu niên dĩ hạ”
9
(t171 đến t189) nét chữ khác với hai phần trên, chữ viết theo thể hành, cũng có
chữ đá thảo. Đơn cử ra đây cách viết chữ “聲 thanh” ở trong 3 loại chữ:
Ở q1 và q4, chữ này được viết theo dạng chữ giản thể của thời hiện đại 声,
các nét rõ ràng như ở d6 t2, d7 t3, d2 t13, d3 t19, d4 t20, d5 t35, d5 t38, d2 t43,
d1 t53, d2 t54, d6 t55, d4 t59, d6 t60, d7 t62, d4 d6 t63…tất cả các chữ “thanh”
trong hai quyển này đều viết theo kiểu giản thể này.
Ở q2 và q3, chữ “thanh” cũng có một số nơi viết theo giản thể nhưng phần
lớn đều viết theo phồn thể và viết thảo, các nét trong chữ gần như viết liền nhau,
như ở: d1 t83, d5 t88, d5 t96, d3 t97, d8 t103, d8 t109, d6 t115, d6 d8 t121, d5
t129, d4 t132, d8 t132, d2 t134, d4 t136, d1 t141, d1 t153, d8 t154, d4 t155, d4
t156, d8 t157, d4 t159, d5 d7 t162…
Ở phần “Nhuế Xuyên thi tập Đinh Sửu niên dĩ hạ”, chữ “thanh” được viết
theo dạng phồn thể, các nét, các bộ phận trong chữ tương đối rõ ràng, chỉ có bộ
“nhĩ” viết tháu giống như con số 3 trong chữ quốc ngữ bây giờ, ví dụ ở: d8t172,
d6t183, d3t185…
Với ba loại chữ khác nhau như thế, cho thấy văn bản này do nhiều người
sao chép.
Trong bản, đầu q1 có một đoạn đề tựa đặt sau dòng “Nhuế Xuyên tùy bút thi
tập quyển chi nhất ” như sau: “Dư nhân bình duyệt bản phủ Thái thú Nguyễn
Phát Khoa, (nc: Thừa Thiên Thành Công) Lịch hoạn thi phổ, mỗi ngộ vị an xứ,
tùy bút cải chính, cựu hủy tân thành, toại vi kỷ tác, hỗn nhập tập trung, chí dư thi
dã. Biệt cư tập thủ, minh phi dư đề dã. Ngự sử cải thụ Thị lang Thuấn Nhuế
Ngoại thôn Nguyễn tiên sinh cẩn thức.” (Ta nhân lúc bình duyệt ‘Lịch hoạn thi
phổ’ của Nguyễn Phát Khoa người xã Thành Công, huyện Quảng Điền, tỉnh

nói: “Nhưng số thơ này để riêng ở đầu tập, vì chúng nguyên chẳng phải là thơ
làm theo đề của ta”. “Đầu tập” trong câu này chắc là đầu của “Nhuế Xuyên tùy
bút thi tập” tức đầu tác phẩm. Thứ hai, ở trong phần này dưới nhiều bài thơ có
các cước chú ở cuối bài thơ kiểu như: “Nam kì nhân hữu bất tri loa giả, cựu
thường vấn dư, dư thư thử dĩ đáp chi” (Người ở Nam Kì không biết loa như thế
nào, trước đây hay hỏi ta, ta viết bài này để trả lời họ) <Phụ đáp vấn loa, t35
b116>; “Nam Kì vô thử thuế cố Thái thú dị nhi mệnh vi đề” (Nam Kì không có
loại thuế này cho nên thái thú thấy lạ mà làm bài này) <Cước mễ thuế,
t40b132>; “Nam vô đê bất tri tác pháp dị nhi mệnh chi” (Trong Nam không có
đê, nên không biết cách làm, thấy lạ nên làm bài này) <Đê tâm gia chử,
11
t41b138>…>. Nguyễn Phát Khoa là bạn thân với Nguyễn Khắc Trạch. Sách
NÔNÔCTN cho biết: “Nguyễn Phát Khoa trước có tên là Nguyễn Đôn Khiêm
người xã Thành Công, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Thi Hương
khoa Đinh Mão, Tự Đức thứ 20 (1967) tại trường Thừa Thiên. Làm đến chức
Án sát”. Theo bài văn “Tứ Quốc Oai phủ nha hạ bản quan trướng tự” (Trướng
trần bày cấp trên ban cho sở quan phủ Quốc Oai chúc mừng quan của bản phủ)
<VHv.214, t126b48>, Phát Khoa sau khi thi đỗ Cử Nhân chức giữ chức đầu tiên
là Án sát tỉnh Thanh Hóa, một thời gian làm Tri huyện huyện Hòa Vinh, phủ
Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Sau đó lại cải bổ Thái thú phủ Quốc Oai. Không
những Nguyễn Khắc Trạch duyệt bình, nhuận sắc thơ của Nguyễn Phát Khoa
mà còn làm rất nhiều thơ tặng tiễn, chúc mừng ông, chẳng hạn như chùm thơ
“Tập Đường thập thủ tống song linh tân doãn Nguyễn Phát Khoa chi quan”
<A.515, t43>… Thứ ba, cũng theo bài văn “Tứ Quốc Oai phủ nha hạ bản quan
trướng tự” có những đoạn viết: “Tân thú doanh phủ Nguyễn công lai, nhi phụ
mẫu ngã, thất nguyệt dĩ cập kim hĩ. Mệnh thủy hạ, mạc hữu thức kì tường giả.
Chất chư Ngự sử Nhuế Xuyên Nguyễn đài, đài viết ‘ngô hữu dã, ngô tri chi, quốc
sơ Thành Công tổng trấn quan’… Nhuế Xuyên thường tập Đường thi dĩ tiễn công
khứ…Phục văn công hữu ‘Lịch hoạn thi phổ’, cận lai ngã phủ sơn xuyên, cảnh
vật, nhân tài, phong tục, đương dĩ nhập vịnh.” (Thái thú mới ông Nguyễn lớn lao

cùng một loại chữ, chữ chân phương, rõ ràng, dễ đọc. Các cước chú, phụ chú
khá nhiều, nhưng viết không nhất quán, có chỗ viết chữ nhỏ hơn phần chính văn
(ví dụ: d4 t39; d1 t39; d2 t41), có chỗ lại viết chữ to bằng phần chính văn (d7,8
t38; cả trang 49). Tiêu đề các bài thơ viết không đài lên hay án xuống nên rất
khó nhận ra.
Dấu tích đọc duyệt văn bản được thể hiện qua màu mực đỏ hồng, bằng bút
lông, dùng trong các trường hợp như ngắt câu, đánh dấu bên địa danh, nhưng
không thấy sửa chữa, gạch xóa hay thêm bớt. Cả bản đều nhất quán viết kiêng
húy chữ “thời” thành chữ “thìn”.
Văn bản không có bạt tựa gì, tên tác phẩm là “thi tập”, nhưng trong đó chép
lẫn cả thơ, văn, phú và câu đối. Cả bản tổng cộng có 331 bài thơ, 19 bài văn,
hơn 100 cặp câu đối, câu đối chép xen lẫn trong phần văn. Từ trang đầu đến
trang 159 chép thơ, sau trang 159 đến hết chép văn và câu đối.
Mặc dầu không chia quyển nhưng có các phần đặt theo trình tự như sau:
- “Nhuế Xuyên Cử nhân Nguyễn Khắc Trạch thi tập” từ t1 đến t92,
13
- “Hoàng triều ngự chế quan chức thi” từ d4 t92 đến hết t126. Trong phần
này, cuối một số bài thơ, cuối một số tiêu đề có những cước chú như: “Giải
nguyên quan soạn” <d6 t94> gồm ba bài, “Hữu Sơn Lộc tú tài đệ họa” <d2
t108>; hoặc tiêu đề một số bài thơ kiểu như: “Ngự chế Hoài Như Thanh sứ Phan
Huy Vịnh đẳng tác” <b202 t109>, “Sơn Tây tổng đốc quan soạn chẩm thi nhị
thủ” <b202 t109>, “Ngự chế khấp Nhạc Vũ Mục” <b206 t111>, “Sử cục biên tu
Phạm Vũ Khải phụng họa” <b207 t111>, “Trường Xuân phủ doãn Lê Khắc Cẩn
phụng họa” <b208 t112> vv. Như vậy, theo như tên của phần thơ “Hoàng triều
ngự chế quan chức thi” nên trong phần này có thơ của nhiều khác. Tính ra có 17
bài có chú hoặc tiêu đề dạng như vậy.
-“Nhuế Xuyên lịch hoạn thi - Quốc oai thi thảo” từ t126 đến t146, có 57 bài
thơ, toàn thơ làm theo thể thất ngôn tứ tuyệt. 57 bài thơ phần này tương đồng
với phần “Quốc Oai thi” ở nửa sau q1 của bản VHv.212 nói trên. Như đã chứng
minh, nhận định trong phần tình trạng bản VHv.212, đó là thơ của Nguyễn Phát

chữ viết rõ ràng chân phương, dễ đọc, không có chữ viết tháu hay thảo. Cả tác
phẩm có 306 bài thơ, chép liền mạch không chia quyển hay phần.
Trang đầu, dòng đầu viết “Nhuế Xuyên tùy bút thi tập”, dòng thứ hai “Ngự
sử An Chi Nguyễn Khắc Trạch”. Trong dòng thứ hai chữ “Trạch” tên tác giả có
hai chữ, chữ trên viết 澤, bên phải chữ này có dấu gạch bỏ, phía dưới viết lại
bằng chữ 宅 .
Trong văn bản không có dấu tích đọc duyệt văn bản, rất ít cước chú, phụ
chú. Cỡ chữ của phần phụ chú, cước chú hầu như viết bằng chính văn nên rất
khó phân biệt, ví dụ ở d 7,8,9 t1; d1,2,6,7,8 t4; d4 t6…Về tình hình kiêng húy,
chữ “thời” trong toàn văn bản đều viết kiêng húy thành chữ “thìn”.
4. Nhuế Xuyên thi tập. Kí hiệu VHv.213.
Khổ 20 x 18, viết tay trên giấy dó dày. Bìa chính bằng giấy xi-măng quét
sơn đen, sau đó có hai tờ bìa phụ bằng giấy dó. Phần gáy ở hai đầu quét sơn đỏ,
có để một khoảng trống viết tên tác phẩm. Sách được kẻ khung bằng mực đỏ
nhạt để viết cho ngay. Mép ngoài giữa hai trang có chữ “Tường Thái tạo”, cũng
bằng mực đỏ. Chứng tỏ giấy này do nhà sách Tường Thái làm. Sách không đánh
số trang, tính tổng cộng cả bản gồm 72 trang. Đầu tác phẩm viết “Nhuế Xuyên
thi tập”, nhưng dòng 7 trang 42 chép một tập thơ của người khác tên là “Duệ
15
Khê thi tập”. Như vậy, từ trang đầu đến d6 t42 thuộc tập thơ “Nhuế Xuyên thi
tập”, từ d7 t42 đến hết thuộc “Duệ Khê thi tập”
Trang 1, dòng đầu tiên viết “Nhuế Xuyên thi tập”, tiếp sau đến chính văn.
Tổng cộng 42 trang, mỗi trang văn bản có 11 dòng, mỗi dòng có khoảng 15 chữ,
chữ viết thảo, khó đọc. Cả tác phẩm có tổng cộng 90 bài thơ.
Trong bản không có dấu tích đọc duyệt văn bản. Các chữ “thì” trong văn
bản đều được viết kiêng húy thành chữ “thìn”.
5. Thơ của Nguyễn Khắc Trạch chép trong tác phẩm của người khác.
- Phần “Nhuế Xuyên bạch bút thi biên toàn tập quyển chi nhị” trong
tác phẩm Vũ trung tùy bút. Kí hiệu A.2312.
Phần “Nhuế Xuyên tùy bút thi biên toàn tập quyển chi nhị” chép trong tác

trong tác phẩm của người khác. Trong quá trình mô tả văn bản, khi đi vào nội
dung của từng phần trong tác phẩm, chúng tôi đã phát hiện trong trong bản
VHv.212 và A.444 có chép khá nhiều thơ của người khác. Bởi vậy, chúng tôi
tổng hợp số lượng thơ của các tác phẩm trước và sau khi đã sàng lọc thơ của
người khác qua bảng I dưới đây.
Bảng I: Bảng tổng hợp số lượng thơ trong các tác phẩm trước và sau
khi khấu trừ những bài được nhận định của người khác.
STT Tên tác phẩm Kí hiệu
Số thơ khi chưa
khấu trừ trong
các tác phẩm
Số thơ xác
định của
người khác
Số thơ khi đã
khấu trừ trong
các tác phẩm
1 N.X thi tập A.444 331 57+26+17=100 231
2 N.X tùy bút thi tập VH.v212 422 138 284
3 NX thi tập VHv.213 90 0 90
4 NX bạch bút thi tập A.517 306 0 306
5 Phần trong Vũ trung tùy bút A2312 84 0 84
6 Phần trong Minh đô thi tuyển A.2171 39 0 39
7 Phần trong Vi giang hiệu tần tập VHv.216 37 0 37
Tổng (Tổng tất cả các bản) 1309 238 1071
1.1.2. Đối chiếu văn bản và một vài nhận định bước đầu.
So sánh đối chiếu văn bản để chọn ra bản có niên đại tương đối sớm và tốt,
đồng thời tìm ra bản có nội dung khá hoàn chỉnh để làm bản nền “để bản”.
Qua bảng I, cho thấy số tổng lượng thơ của Nguyễn Khắc Trạch hiện còn
trong các tác phẩm độc lập và các phần chép trong tác phẩm của người khác là

lưu dấu tích bình duyệt và nhuận sắc, điều mà các bản còn lại không có nên nó
gần với thủ cảo hơn. Thứ hai, tác phẩm chia quyển và phần rõ ràng, trong các
quyển và phần đó thời gian sáng tác hầu như chưa bị xáo trộn trình tự vốn có. Ví
dụ quyển hai chép các bài làm bắt đầu từ năm Tân Dậu (1861), tiếp đến năm
Nhâm Tuất (1862), năm Đinh Mão (1867), rồi Mậu Thìn (1868); quyển 3 gồm
các bài làm trong năm Giáp Tuất (1874); quyển 4 gồm các bài làm năm Ất Hợi
(1875) và Bính Tí (1876)… Thứ ba, cước chú và phụ chú trong bản này nhiều
18
hơn đầy đủ hơn so với các bản khác. Luận văn đã thống kê về cước chú và phụ
chú của 10 bài trong chùm thơ “Thống trung thiềm phát thập thủ” và 10 bài
trong chùm thơ “Nhâm Tuất niên kinh hành khán cố Lê tiết nghĩa truyện…” làm
đại diện. Kết quả được tổng hợp trong bảng sau:
Tên chùm thơ
Số lượng cước chú, phụ chú của hai
chùm thơ các trong các bản
VHv 212 A 444 A 517
Thống trung thiềm phát thập thủ 38 28 1
Nhâm tuất niên kinh hành khán cố Lê
tiết nghĩa truyện, mỗi đáo nhất công
lược vịnh nhất thi dĩ tiện kí ức.
19 12 10
Qua bảng trên, cho thấy bản VHv.212 có số lượng cước chú nhiều nhất.
Không những thế, câu chữ trong từng chỗ cước chú ở bản này cũng đầy đủ hơn,
mang khẩu khí bạch thoại hơn các bản khác. Ví dụ có những chỗ bản này chép:
“giả hạn nhị cá nguyệt” (d8t120), “giáo thụ thất niên cửu hĩ” (d7t122), bản
A.444 chép: “hạn nhị cá nguyệt” (d6t70), “thất niên giáo thụ” (d4t72). Thứ tư,
qua so sánh đối chiếu ở bảng II về các bài tương đồng và dị biệt. Bản này có số
lượng bài thơ tương đồng với các bản khác rất nhiều (169 bài) trong tổng số 284,
số lượng dị biệt cũng nhiều (115 bài), chứng tỏ bản này sưu tập được đầy đủ
hơn. Qua đây có thể nhận định bản này gần với thủ cảo nhất, và đầy đủ hơn cả.

quân (Non xanh như tạc, lại gặp ông). Năm 1874 khi vào kinh, qua huyện Minh
Linh (tỉnh Quảng Trị) lại nghe tin Song Linh Nguyễn Phát Khoa cũng vào kinh
nhận lệnh cải bổ, ông đã vui mừng nhắc lại câu hẹn ước năm xưa trong một bài
tứ tuyệt: Nhất cú tập Đường ưng thị sấm. Bích sơn như họa hựu phùng quân
(Một câu thơ Tập Đường đáng làm lời sấm, Non xanh như tạc, lại gặp ông)
<VHv.212, t158b363>. Như vậy, liên kết với ý của câu thơ cuối ở bài thứ 10,
dùng chữ “kết” mới đúng, có lẽ tự dạng chữ 结 khi viết đá thảo ở bản VHv.212
có tự dạng gần giống chữ 浩 nên bản này đã chép nhầm.
Sau khi so sánh sự tương đồng và dị biệt trong bảng II, kết quả 162 bài
giống với các bản khác, còn lại 69 bài dị biệt. Trong 162 bài giống với các bản
khác có 134 bài giống với bản VHv.212 ở trên. Tiêu đề của 134 bài giống nhau
giữa hai bản chỉ bị sửa đổi khoảng 20 tiêu đề, tức có 114 tiêu đề vẫn để nguyên
như VHv.212. Qua đây có thể nhận định rằng có những phần của của bản này
20
sao lại từ bản VHv.212, hoặc có thể hai bản cùng sao lại từ những phần nào đó
đã mất.
Trong bản này cũng có đến 69 bài dị biệt, vì vậy khi chứng minh ở chương
sau, nếu cần đến chúng tôi cũng phải lấy dẫn chứng trong bản này.
- Về bản A.517, sách mang kí hiệu A nên bản này cũng có nguồn gốc từ
Thư viện Trường Viễn đông bác cổ. Bản này chép cũng rất tùy tiện, cả bản chép
một mạch, không chia quyển, phần, không có tựa bạt gì, cước chú phụ chú rất ít.
Chỉ tính riêng 10 bài của chùm thơ “Thống trung thiềm phát thập thủ”, ở bản
VHv.212 có 38 chỗ cước chú mà bản này chỉ có 1 chỗ. Các cước chú còn viết
tùy tiện, chỗ thì viết cỡ chữ nhỏ hơn chính văn, chỗ thì viết bằng chính văn. Có
những chỗ chép sai. Ví dụ bản này có tiêu đề “Nhâm Tuất xuân đán Quảng
Xương huyện đường thí bút” <t1b1>, nhưng các bản khác đều chép “Giáp Tuất
xuân đán Quảng Xương huyện đường thí bút” <VHv.212, t147b342>, đúng ra
phải là năm Giáp Tuất (1874), vì năm Nhâm Tuất (1862) ông chưa ra làm quan.
Vậy bản này đã chép sai.
Về tiêu đề bài thơ, bản này soạn lại rất ngắn. Qua so sánh tương đồng và dị

Mưu sự an tri sự
bất thành.
Tâm dị nan bằng
Nghệ An Nguyễn
Viện
Tự tu chiến cụ kết
hương binh,
Mưu sự an tri sự bất
thành.
Tâm dị nan bằng
ngụy Tây tướng,
21
Thế cô phiên thất Nhật
Nam thành.
Nhất môn ủy sự trung
kiêm hiếu,
Thiên cổ lưu phương tử
diệc sinh.
Huống thị nghĩa cao
năng đắc sĩ,
(Nc: Xuất Hàn văn)
Đảo trung nhân chỉ
thức Điền Hoành.
Thế cô phiên tác
Nhật Nam thành.
Nhất môn ủy mệnh
trung kiêm hiếu,
Thiên cổ lưu phương
tử diệc sinh.
Huống thị nghĩa cao

thế chứng tỏ bản này được soạn lại theo ý đồ của người soạn sách. Thậm chí tên
tác phẩm cũng không nhất quán, phần gáy sách viết “Nhuế Giang thi tập”,
nhưng trang đầu dòng đầu phần chính văn lại viết “Nhuế Xuyên bạch bút thi
tập”.
Bản này còn có số lượng thơ khá nhiều, tổng cộng 306 bài. Có nguyên một
phần từ bài bài 131 đến bài 306 không tương đồng với bản hay phần khác. Các
bài thuộc phần này không thấy xuất hiện thời gian hay sự kiện như phần đầu.
Nội dung phần này chủ yếu vịnh về các nhân vật lịch sử, thần tiên, các điển tích,
điển cố trong sử sách, hoặc lấy các câu thành ngữ, cách ngôn, điển tích, điển cố
làm tiêu đề, chủ đề cho bài thơ. Bởi vậy, phần này cũng là tư liệu đáng quý để
nghiên cứu về nội dung và nghệ thuật thơ của Nguyễn Khắc Trạch.
- Về bản Vhv.213, số lượng bài thơ ít hơn so với 3 bản trên (90 bài). Bản
này chép cũng rất tùy tiện, tên tác phẩm là “Nhuế Xuyên thi tập” nhưng nửa sau
sách lại có chép tập thơ khác “Duệ Khê thi tập”. Chưa biết Duệ Khê là ai nhưng
đây có lẽ không phải thơ của Nguyễn Khắc Trạch.
Trong bản này có nhiều bài thơ tiêu đề được đặt lại khác hẳn các bản khác.
Ví dụ: VHv.212 có tiêu đề “Đinh Sửu chí niên tịnh tự tính thể dương lịch nhị
thiên”, ở bản này chia ra hai tiêu đề cho hai bài, b1: “Chí niên quan mê”(Ghi lại
22
sự mê muội trong khi làm quan), b2:“Chí niên quan bình sinh” (Ghi lại đời làm
quan). Trong bản tổng cộng có 90 bài, có 57 bài giống với ba bản trên, còn 33
bài dị biệt, như vậy bản này có số lượng thơ ít nhưng số lượng bài giống với bản
khác tương đối nhiều, chứng tỏ đây không phải là một phần riêng mà tổng hợp
từ nhiều nguồn, và có nguồn các bản trên không có.
Qua so sánh về sự tương đồng và dị biệt của bốn bản độc lập trong bảng
II dưới đây, luận văn tính ra được một số kết quả như sau:
11bài (cùng xuất hiện trong 4 bản), nên chỉ tính: 11 bài
95 bài (cùng xuất hiện trong 3 bản), nên chỉ tính: 95 bài
89 bài (cùng xuất hiện trong 2 bản), nên chỉ tính: 89 bài
229 bài (dị biệt, tức xuất hiện trong 1bản) nên tính: 229 bài

phẩy kéo dài ra như ở d2 t51, d5 t51, d3 t53, d3 t55, d1 t60, d1 t64, d1 t67, d1
t69,d2 t99,d1 t113…Còn chữ “hữu” ở trang 139 đến trang 149 có cách viết
ngoáy, các nét liền nhau, vì không phải dân chuyên về văn bản nên khi mới gặp
chữ này chưa nhận ra chữ gì, qua mấy lần gặp lại, mới nhận ra. Như ở d8 t139,
d4 t140, d4 d5 t144, d4 t149.
Loại chữ ở phần sau (trang 139 đến trang 149) giống với loại chữ ở phần
“Nhuế Xuyên thi tập. Nc: Đinh Sửu đông dĩ hạ” <t171 đến trang cuối 189> của
bản VHv 212. Như chữ “hữu” ở VHv.212 trong các dòng và các trang: d6 t173,
d3 t176, d5 d6 t177, d8 t182, d5 t187…Qua đây cho thấy phần cuối của bản văn
này và phần cuối của VHv.212 và bản này do một người chép.
Dấu tích đọc duyệt văn bản thể hiện qua màu mực đỏ, dùng trong các trường
hợp như ngắt câu, sửa sai, xóa chữ viết sai, bổ sung chữ thiếu.
Về chữ húy, văn bản nhất quán viết kiêng húy “thời” dưới dạng chữ “thìn”.
Khi đi sâu vào nội dung các bài, có sự tương đồng và dị biệt với bản VHv.215
nên đã lập thư mục so sánh trong bảng III.
2. Nhuế Xuyên trướng tập. Kí hiệu VHv.215.
Khổ 18 x 25, viết tay trên cả hai mặt, tổng cộng 71 trang giấy dó dày. Bìa
bằng giấy xi-măng, phía ngoài quét sơn đen. Hai đầu mép sách viết tên văn bản
“Nhuế Xuyên trướng tập”. Sau tờ bìa chính có hai tờ bìa phụ bằng giấy dó, trên
mặt a tờ bìa phụ thứ nhất có dấu triện vuông của Thư viện khoa học Trung
ương. Văn bản được kẻ khung và dòng bằng mực đỏ hồng. Mép ngoài cùng trên
tất cả các tờ của mặt a in chữ “ 祥 泰 造”, như vậy giấy viết của bản này có
nguồn gốc từ hiệu Tường Thái, điều này cũng giống với bản thơ VHv.213.
24
Mỗi trang viết 6 dòng, mỗi dòng có 16 chữ. Cả bản viết cùng một loại
chữ, nhưng nhiều trang, nhiều chữ viết thảo, rất khó đọc, như từ tờ 1 đến tờ 23
có nhiều chữ viết thảo, sau trang 23 có đỡ hơn. Cả bản có 29 bài văn, khi đi sâu
vào nội dung các bài này, có sự tương đồng dị biệt với bản VHv.214 nên được
lập thư mục so sánh trong bảng III.
Trong bản này, dưới tiêu đề của một số bài có cước chú như “Phạm Chi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status