giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn trên địa bàn huyện diễn châu, tỉnh nghệ an (giai đoạn 2010-2012) - Pdf 13

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế nước ta trong những năm qua đã đạt được những thành tích đáng kế nhất
là kinh tế nông nghiệp và nông thôn, đời sống kinh tếxã hội đã có nhiều thay đổi. Tuy
nhiên hiện nay nước ta vẫn đang là nước nông nghiệp, vẫn còn gần 80 % dân số sinh
sống ở nông thôn,lực lượng lao động nông thôn chiếm 75 % lực lượng lao động của
cả nước. Mỗi năm lực lượng này được bổ sung thêm khoảng 1 triệu người. Đất canh
tác ít, kinh tế nông thôn còn kém đa dạng, tập trung chủ yếu là kinh tế nông nghiệp vì
vậy nhu cầu tạo ra việc làm và giải quyết việc làm cho bản thân số lao động hiện có và
số lao động mới gia tăng là hết sức khó khăn. Không có việc làm, nguồn nhân lực sẽ
bị lãng phí, tăng trưởng kinh tế bị kìm hãm, thu nhập của người lao động giảm sút, tệ
nạn xã hội và tội phạm phát triển dẫn đến mất ổn định nền kinh tế xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “ Chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân
lao động thoát khỏi bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm được ấm no và
được sống một đời hạnh phúc”. Tư tưởng của người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt
trong các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề giải quyết việc làm
cho người lao động. Tại Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng ta khẳng
định : “Chú trọng đào tạo nghề, tạo việc làm cho nông dân và cho lao động nông thôn,
đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn, giảm nhanh tỷ trọng lao động
làm nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động làm công nghiệp và dịch vụ, tạo điều kiện
cho lao động nông thôn có việc làm”. Tuy nhiên mỗi vùng kinh tế có những đặc thù
riêng biệt về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và chịu ảnh hưởng của nhiều nguyên
nhân khác nhau mà việc thực hiện các chính sách giải quyết việc làm cho lao động ở
nông thôn chỉ được triển khai một cách chậm chạp và không mấy hiệu quả.
Diễn Châu là một huyện thuộc Tỉnh Nghệ An, là địa bàn khá rộng với phần lớn dân số
là sản xuất nông nghiệp. Nhiều năm qua mặc dù nền kinh tế có những chuyển biến
tích cực đáng kể tuy nhiên trình độ sản xuất nông nghiệp chưa được cải thiện, tỷ trọng
trong nông nghiệp còn quá cao, lao động thiếu việc làm và không có việc làm còn quá
nhiều, tỷ lệ qua đào tạo còn rất thấp vì vậy vấn đề lao động nông thôn dư thừa là
nguyên nhân làm xuất hiện sự gia tăng các tệ nạn xã hội mà theo các cơ quan có thẩm
quyền cho biết phần lớn các đối tượng vi phạm chủ yếu là những người không có việc

Nghệ An. Đặc biệt chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề trên chủ yếu vào giai đoạn 2010-
2012.
4. Ý nghĩa của đề tài
Về mặt lý luận: Quá trình thực hiện đề tài sẽ góp phần hệ thống hóa các quy định của
pháp luật hiện hành về nhu cầu việc làm và giải quyết việc làm cho lao động ở nông
thôn, những kết quả đạt được và những hạn chế còn tồn tại.
Về mặt thực triễn: Kết quả nghiên cứu này góp phần giúp cho các cơ quan chức
năng, sở, ban, nghành có liên quan có những cách nhìn khách quan đúng đắn và toàn
diện về việc hoạch định chính sách, chiến lược về vấn đề giải quyết việc làm cho lao
động ở nông thôn cũng như thực tiễn giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên
địa bàn huyện Diễn Châu nói riêng và địa bàn Tỉnh Nghệ An nói chung.
5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện đề tài: “ Giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn trên địa bàn
Huyện Diễn Châu Tỉnh Nghệ An (giai đoạn 2010 - 2012)”, tôi đã sử dụng phương
pháp luận duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử. Ngoài ra tôi còn sử
dụng kết hợp một số phương pháp cụ thể như: phân tích, giải thích, thống kê, tổng
hợp, dựa trên những khảo sát thực tế của các nghành có liên quan đến phạm vi nghiên
cứu để làm rõ vấn đề mà đề tài đề cập
6. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo , nội dung của đề tài
nghiên cứu gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về việc làm và giải quyết việc làm cho lao động ở
nông thôn
Chương 2: Thực trạng giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn trên địa bàn
Huyện Diễn Châu Tỉnh Nghệ An.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn trên
địa bàn Huyện Diễn Châu Tỉnh Nghệ An.
3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO
ĐỘNG Ở NÔNG THÔN

để sản xuấ ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội.
Việc làm cũng được hiểu như là một phạm trù kinh tế, tồn tại ở tất cả mọi hình thái
xã hội, đó là một tập hợp những mối quan hệ kinh tế giữa con người về việc đảm bảo
chỗ làm việc và tham gia của họ vào hoạt động kinh tế. (1)
Cũng có quan điểm cho rằng việc làm là hoạt động trong đó có sự trả công do có
sự tham gia có tính chất cá nhân và trực tiếp của người lao động vào quá trình sản
xuất.
Theo Guy- Hân Tơ thì “việc làm theo nghĩa rộng là toàn bộ các hoạt động kinh tế
của một xã hội, nghĩa là tất cả những gì quan hệ đến cách thức kiếm sống của con
người, tất cả các quan hệ xã hội và các tiêu chuẩn hành vi tạo thành khuôn khổ của
quá trình kinh tế” (2)
Có thể nói, dưới góc độ kinh tế- xã hội thì việc làm có những dấu hiệu cơ bản sau:
-Việc làm là một hoạt động luôn gắn với cá nhân người lao động.
-Việc làm là hoạt động phải tạo ra thu nhập cho người lao động hoặc tạo điều kiện cho
người lao động tham gia để tạo ra thu nhập.
-Việc làm là hoạt động có sự trả công bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật.
-Việc làm là hoạt động luôn gắn với thị trường lao động.
Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì: “việc làm có thể được định nghĩa như một
tình trạng trong đó có sự trả công bằng tiền hoặc hiện vật, do có sự tham gia tích cực,
có tính chất cá nhân và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất”.(3)
Dưới góc độ pháp lý: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị
pháp luật cấm” (Khoản 1 Điều 9 BLLĐ). Nếu căn cứ vào quan niệm này thì việc làm
có các đặc trưng sau:
Thứ nhất: Việc làm là hoạt động lao động của con người tạo ra nguồn thu nhập và
là hoạt động có sự trả công. Mỗi người lao động có một sức lao động riêng gắn với
mỗi việc làm nhất định, gắn với trình độ chuyên môn nghiệp vụ và thái độ ý thức,
5
nhân thân của người lao động. Mỗi một việc làm khác nhau gắn với một thị trường lao
động khác nhau sẽ được trả công khác nhau.
Thứ hai, việc làm là hoạt động không bị pháp luật cấm.

hơn quy định đối với các công việc theo quy định hiện hành của nhà nước.
Theo một số chuyên gia về chính sách lao động việc làm thì cho rằng người thiếu
việc làm là những người đang làm việc có mức thu nhập dưới mức lương tối thiểu và
họ có nhu cầu làm thêm.
Từ khái niệm người thiếu việc làm trên có thể hiểu như sau: “Người thiếu việc làm
là người lao động đang có việc làm nhưng họ làm việc không hết thời gian theo pháp
luật quy định hoặc làm những công việc mà tiền lương không đáp ứng đủ nhu cầu của
cuộc sống, họ muốn tìm thêm việc làm để bổ sung thu nhập”.
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): Khái niệm thiếu việc làm được thể
hiện dưới hai dạng:
Thiếu việc làm hữu hình: Là khái niệm để chỉ hiện tượng người lao động làm
việc có thời gian ít hơn thường lệ, họ không đủ việc làm, đang tìm kiếm thêm việc
làm và sẵn sàng làm việc.
Thiếu việc làm vô hình: Là những người có đủ việc làm, làm đủ thời gian
nhưng thu nhập thấp, nguyên nhân của tình trạng này là do tay nghề hoặc kĩ năng của
người lao động thấp không sử dụng hết khả năng hiện có hoặc do điều kiện lao động
thấp, tổ chức lao động kém.
1.1.1.4. Khái niệm về thất nghiệp
Theo khái niệm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), thất nghiệp theo nghĩa chung
nhất là tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động muốn có việc làm
nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền công nhất định. Người thất nghiệp là
người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, không có việc làm và đang có
nhu cầu tìm việc làm.
Theo các nhà kinh tế học thì thất nghiệp là hiện tượng gồm những phần mất thu
nhập, do không có khả năng tìm được việc làm trong khi họ còn trong độ tuổi lao
động, có khả năng lao động muốn làm việc và đăng kí ở cơ quan môi giới về lao động
nhưng chưa được giải quyết.
7
Theo Khoản 4 Điều 3 Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 thì người thất nghiệp là
người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng

Những vùng trung du và miền núi (đặc biệt là miền núi) có địa hình hiểm trở bị
chia cắt do đó rất khó khăn trong việc phát triển giao thông và thuỷ lợi. Việc áp dụng
máy móc kỹ thuật cũng rất hạn chế do đất đai bị chia cắt manh mún. Vì vậy, năng suất
lao động thấp, hạn chế trong khả năng giao lưu kinh tế và tiếp cận với thị trường, với
các thông tin về văn hoá, khoa học kỹ thuật do vậy cũng hạn chế quá trình sản xuất
kinh doanh và ảnh hưởng đến thu nhập.
+ Điều kiện khí hậu, thuỷ văn.
Các điều kiện về khí hậu và thuỷ văn có vai trò vô cùng quan trọng trong phát
triển nông nghiệp. Các vùng có khí hậu thuận lợi, điều kiện tưới tiêu thuận lợi sẽ có
năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp cao mang lại thu nhập cao cho nông
dân. Ngược lại những vùng có nhiều yếu tố bất lợi về thời tiết khí hậu, khan hiếm
nguồn nước sẽ khó khăn trong phát triển sản xuất và từ đó ảnh hưởng tới thu nhập và
đời sống của dân cư. Các sự biến đổi thất thường của thời tiết như hạn hán, bão, lũ lụt,
sương muối luôn gây những thiệt hại to lớn cho sản xuất và đời sống. Để hạn chế
thiệt hại của những hiện tượng này cần phải có hệ thống thông tin dự báo hiện đại để
có phương án phòng chống có hiệu quả .
• Các nhân tố kinh tế – xã hội
+ Mức độ hoàn thiện của hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội
Đây là yếu tố có ý nghĩa hết sức quan trọng. Trước hết là hệ thống giao thông,
thuỷ lợi, hệ thống thông tin và năng lượng. Hệ thống giao thông thuận lợi sẽ giảm chi
phí vận tải, thuận lợi cho giao lưu kinh tế và văn hoá với các vùng khác từ đó hình
thành nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá và phát triển các ngành nghề phi nông
nghiệp. Hệ thống điện, thông tin giúp cho người dân có khả năng trang bị máy móc kỹ
thuật vào sản xuất, nâng cao năng suất lao động, thuận lợi trong việc tiếp thu những
thành tựu mới về khoa học kỹ thuật, trình độ dân trí được nâng cao. Hệ thống trường
học, bệnh viện có vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân và
đào tạo nhân lực. Vì vậy, hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội tác động một cách tổng
hợp tới quá trình phát triển kinh tế xã hội và mức sống của dân cư.
+ Trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật của người lao động.
9

1.2.1. Trách nhiệm của nhà nước trong bảo đảm việc làm.
10
Giải quyết việc làm, bảo đảm việc làm cho mọi người có khả năng lao động
đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn
xã hội. Nhà nước xác định chỉ tiêu tạo việc làm tăng thêm trong kế hoạch phát triển
kinh tế- xã hội, tạo điều kiện hỗ trợ tài chính, cho vay vốn hoặc giảm, miễn thuế và áp
dụng các biện pháp khuyến khích khác để người có khả năng lao động tự giải quyết
việc làm, để các tổ chức, đơn vị cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển nhiều
nghề mới nhằm tạo việc làm cho nhiều người lao động. Ngoài ra, nhà nước còn có
nhiều chính sách ưu đãi về giải quyết việc làm để thu hút và sử dụng lao động là
người dân tộc thiểu số, cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
Chỉ tiêu tạo việc làm và việc làm mới được hiểu là số lao động mới có tuyển
thêm vào làm việc thường xuyên tại doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị, cá nhân sử dụng
lao động thuộc mọi thành phần kinh tế do nhu cầu mới thành lập hoặc mở rộng thêm
về các mặt hoạt động, sắp xếp lại lao động. Chính vì vậy, các cơ quan nhà nước phải
có trách nhiệm, phối hợp trong việc tạo ra môi trường lao động thuận lợi và có cơ chế
thích hợp để đảm bảo việc làm cho người lao động.
Pháp luật lao động quy định trách nhiệm của nhà nước trong tạo việc làm, bảo
đảm việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động cụ thể như sau:
Chính phủ lập chương trình quỹ quốc gia về giải quyết việc làm, dự án đầu tư
phát triển kinh tế - xã hội, di dân phát triển vùng kinh tế mới gắn với chương trình giải
quyết việc làm; lập quỹ quốc gia về việc làm từ ngân sách nhà nước và các nguồn
khác, phát triển hệ thống tổ chức dịch vụ việc làm. Hằng năm Chính phủ trình Quốc
hội quyết định chương trình và quỹ quốc gia về việc làm.
Chính phủ có chính sách và biện pháp tổ chức dạy nghề, đào tạo nghề, hướng
dẫn sản xuất kinh doanh, cho vay vốn với lãi suất thấp từ quỹ quốc gia giải quyết việc
làm, tạo điều kiện để người lao động tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm; hỗ trợ về tài
chính cho những địa phương và ngành có nhiều người thiếu việc làm hoặc mất việc
làm do thay đối cơ cấu hoặc công nghệ. Có chính sách bảo hiểm thất nghiệp, các
chính sách khuyến khích để người lao động tự tạọ việc làm; hỗ trợ người sử dụng lao

thời trợ cấp cho người lao động trong doanh nghiệp bị mất việc làm. Mức trích quỹ dự
phòng về trợ cấp mất việc làm từ 1% - 3% trên quỹ lương làm cơ sở đóng bảo hiểm xã
hội của doanh nghiệp và được hoạch toán vào giá thành và phí lưu thông.
1.2.3. Trách nhiệm của tổ chức dịch vụ việc làm
12
Theo Điều 14 của Bộ luật lao động năm 2012 thì tổ chức dịch vụ việc làm bao
gồm các trung tâm dịch vụ việc làm và doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm.
Trung tâm dịch vụ việc làm được thành lập, hoạt động theo quy định của Chính phủ.
Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm được thành lập và hoạt động theo quy định
của luật doanh nghiệp và phải có giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm do cơ quan
quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh cấp.
Tổ chức dịch vụ việc làm có chức năng tư vấn, giới thiệu việc làm và dạy nghề
cho người lao động cung ứng và tuyển lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao
động; thu thập, cung cấp thông tin về thị trường lao động và thực hiện nhiệm vụ khác
theo quy định của pháp luật.
1.3. Ý nghĩa của giải quyết việc làm đối với lao động nông thôn
Giải quyết việc làm cho người lao động có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình phát
triển kinh tế, xã hội. Bởi vì, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát
triển kinh tế và là yếu tố tạo ra lợi ích kinh tế, xã hội. Bất kì một quá trình sản xuất
nào cũng đều là sự kết hợp của ba yếu tố cơ bản, đó là sức lao động, tư liệu lao động
và đối tượng lao động. Tư liệu sản xuất không thể tự nó tạo ra các sản phẩm phục vụ
cho nhu cầu của con người và xã hội nếu như không có sự kết hợp của sức lao động
của đối tượng lao động. Mặt khác, đất nước ta đang bước vào giai đoạn đẩy mạnh
CNH - HĐH, trong đó CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn là một nhiệm vụ trọng
tâm. Để góp phần thực hiện tốt và có hiệu quả quá trình trên thì vấn đề việc làm và
giải quyết việc làm cho lao động cả nước nói chung và lao động trong nông nghiệp -
nông thôn nói riêng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong tình hình hiện nay.
Việc làm là nhu cầu của tất cả mọi người lao động nhằm đem lại thu nhập cho
bản thân và gia đình họ một cách hợp lý, tạo một nguồn thu nhập chính đáng, để trang
trải cho hoạt động đời sống của bản thân, thỏa mãn nhu cầu của gia đình nhằm tiết

1994, có hiệu lực từ ngày 1/1/1995 đã dành riêng chương II quy định những vấn đề cơ
bản về việc làm như: quyền tự do việc làm của người lao động, quyền tuyển chọn và
sử dụng lao động của người lao động, trách nhiệm tạo việc làm của nhà nước, chỉ tiêu
tạo việc làm, chương trình và quỹ quốc gia về việc làm, tổ chức giới thiệu việc
làm, Ngoài ra, Bộ luật Lao động còn có những quy định về chính sách việc làm đối
với một số đối tượng đặc thù như lao động nữ (chương X), lao động là người tàn tật,
lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, lao động Việt Nam làm việc cho các tổ
chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam, lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài
(chương XI). Đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhất điều chỉnh các quan hệ việc làm.
14
Tiếp đó cùng với sự phát triển của các quan hệ xã hội về việc làm, Quốc hội đã
sửa đổi, bổ sung chương Việc làm Bộ luật Lao động lần một vào năm 2002 và tiếp tục
sử đổi vào năm 2012; ban hành Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng năm 2006, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 (Chương V- Bảo
hiểm thất nghiệp), Luật Người khuyết tật năm 2010 (Chương V- Dạy nghề và Việc
làm) nhằm điều chỉnh đầy đủ và toàn diện hơn quan hệ việc làm của một số đối
tượng đặc thù và các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp đến quan hệ việc làm như: lao
động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, bảo hiểm thất nghiệp, việc làm với người
khuyết tật
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 8 Nghị định, 7 Quyết định; sửa đổi,
bổ sung 5 Nghị định, 1 Quyết định; hủy bỏ, thay thế 2 Nghị định để quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động, Luật Người lao động Việt
Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Luật Bảo hiểm xã hội (chương V- Bảo
hiểm thất nghiệp).
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ: Lao động – Thương binh và Xã hội, Tài chính, Kế
hoạch và Đầu tư, Quốc phòng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành 29
Thông tư và Thông tư liên tịch, 5 Quyết định; sửa đổi, bổ sung 4 Thông tư; hủy bỏ,
thay thế 5 Thông tư để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ
luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội (Chương V- Bảo hiểm thất nghiệp), các Nghị
định Chính phủ và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

định, quyết định, thông tư hướng dẫn thi hành nên tính pháp lý chưa cao, gây nhiều
khó khăn vướng mắc trong quá trình triển khai, thực hiện.
Một số quy định pháp luật về việc làm còn mang nặng tính tuyên ngôn pháp lý,
hoặc tính định hướng, dự báo; phản ánh chưa đầy đủ những nhu cầu của xã hội và
chưa phù hợp với đối tượng tác động, các chế tài còn chưa đủ độ mạnh cần thiết nên
hiệu quả áp dụng không cao.
2.1.2. Về công tác thi hành pháp luật và chính sách về việc làm.
2.1.2.1. Công tác thi hành pháp luật về việc làm.
Nhìn chung những quy định chung về việc làm đã khẳng định quyền làm việc và tự do
lựa chọn việc làm của người lao động, quyền tuyển chọn và sử dụng lao động của
người sử dụng lao động, đưa người lao động đứng vào vị trí trung tâm, năng động và
chủ động tự tạo việc làm; Đã đưa ra khái niệm và quy định trách nhiệm của các cơ
quan quản lý nhà nước trong việc xây dựng và thực hiện chỉ tiêu tạo việc làm. Những
năm qua chỉ tiêu tạo việc làm đã đóng vai trò lớn trong quá trình phát triển kinh tế - xã
hội, phản ánh được trình độ phát triển kinh tế xã hội, ổn định kinh tế của đất nước
Tuy nhiên, những quy định về việc làm này cũng bộc lộ những mặt hạn chế như: chưa
có quy định giải thích các khái niệm: thị trường lao động, lực lượng lao động, thất
nghiệp; chưa có quy định về các chỉ tiêu của thị trường lao động để có thể đánh giá
16
được sự phát triển của thị trường lao động; chưa có quy định về quyền, nghĩa vụ của
người lao động, người sử dụng lao động trong thị trường lao động.
2.1.2.2. Chính sách về việc làm.
Các chính sách về việc làm đã được ban hành tương đối đầy đủ, toàn diện trong
nhiều văn văn bản, nhiều lĩnh vực khác nhau bao gồm: Chính sách chung về việc làm;
Chính sách hỗ trợ để tạo và tự tạo việc làm cho người lao động; Chính sách hỗ trợ đưa
người lao động đi làm việc ở nước ngoài
Đã ban hành một số chính sách riêng về việc làm cho các đối tượng đặc thù, những
chính sách này đã tạo môi trường thuận lợi cho lao động nữ, lao động là người khuyết
tật bình đẳng tham gia thị trường lao động, tạo cơ hội cho họ tìm việc làm và tự tạo
việc làm, từng bước cải thiện thu nhập, ổn định cuộc sống, bảo đảm việc làm bền

Tuy nhiên, các quy định pháp luật còn thể hiện nhiều bất cập như: Chưa chấp nhận
hoàn toàn tính “thị trường” của dịch vụ việc làm, thể hiện qua việc sử dụng tên “giới
thiệu việc làm”; Quy định về tổ chức hệ thống các trung tâm giới thiệu việc làm thuộc
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trực thuộc các địa phương nên chưa thống nhất
trong tổ chức, hoạt động của hệ thống trung tâm giới thiệu việc làm gây nên hạn chế
trong việc đầu tư cũng như hoạt động giới thiệu việc làm và thông tin thị trường lao
động; Quy định về vấn đề thu phí giới thiệu việc làm của Trung tâm giới thiệu việc
làm và doanh nghiệp hoạt động giới thiệu việc làm còn chưa khả thi.
2.1.4. Quy định của pháp luật về bảo đảm việc làm
Các quy định của pháp luật về việc làm đã kịp thời điều chỉnh mối quan hệ giữa
người lao động và người sử dụng lao động đồng thời xác định rõ vai trò, trách nhiệm
và quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước về lao động. Đây là cơ sở, nền tảng pháp
lý cho việc thiết lập, thực hiện và chấm dứt quan hệ lao động góp phần bảo vệ việc
làm cho người lao động.
Các quy định về bảo hiểm thất nghiệp đã góp phần tạo và ổn định việc làm
cho người lao động, giải quyết những khó khăn cho người lao động không may gặp
khó khăn khi đang làm việc, giải quyết vấn đề an sinh xã hội, giảm tỷ lệ thất nghiệp;
Công tác triển khai chính sách bảo hiểm thất nghiệp được thực hiện đồng bộ, kịp thời
đã góp phần hỗ trợ người lao động và gia đình vượt qua khó khăn, có việc làm và thu
nhập, ổn định cuộc sống,
Về mặt hạn chế thì các quy định pháp luật trong việc bảo đảm việc làm chưa thể
hiện rõ là một chính sách riêng, quy định không đầy đủ; Một số quy định về bảo đảm
việc làm không khả thi hoặc không còn phù hợp với thực tiễn; Chính sách bảo hiểm
mới chỉ dừng ở việc giải quyết chính sách khi chấm dứt quan hệ lao động, vấn đề thúc
đẩy doanh nghiệp duy trì việc làm tốt, sắp xếp lại doanh nghiệp chưa được đề cập đến.
Hiện nay, các văn bản quy phạm pháp luật mới chỉ quy định hỗ trợ cho người lao
động sau khi họ mất việc làm chưa có chế độ hỗ trợ cho người lao động trong thời
gian làm việc .
18
Về đối tượng, phạm vi tham gia bảo hiểm thất nghiệp còn hạn chế nên chưa phát

19
Phòng lao động thương binh và xã hội huyện Diễn Châu phối hợp với công ty
Đức Quyền đã đào tạo được 22 lớp mây tre đan với hơn 800 học viên. Đồng thời,
Phòng lao động thương binh- xã hội huyện cũng đã phối hợp với công ty SEOHA
VINA Hàn Quốc đóng tại khu công nghiệp Diễn Hồng để đào tạo cho trên 500 lao
động học may công nghiệp, đảm bảo cho nguồn nhân lực nhà máy đưa vào hoạt động
theo kế hoạch, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho bà con nhân dân trên địa bàn
huyện.
Nhìn chung, việc ban hành cũng như thực hiện các quy định về dạy và học
nghề đã ghi nhận đây là một quyền của công dân, đã quy định cụ thể về người học
nghề, cơ sở đào tạo nghề, các nội dung liên quan đến hoạt động đào tạo nghề Tuy
nhiên, những quy định pháp luật này vẫn còn nhiều mặt hạn chế thể hiện như:
Thứ nhất: Việc quy định hoạt động đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề
quốc gia trong Luật dạy nghề là không hợp lý vì: Phạm vi điều chỉnh của Luật dạy
nghề (điều 1) quy định về “tổ chức, hoạt động của cơ sở dạy nghề; quyền và nghĩa vụ
của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động dạy nghề”. Hoạt động đánh giá kỹ năng
thuộc quan hệ lao động, vì vậy tại chương IX Luật dạy nghề về đánh giá, cấp chứng
chỉ kỹ năng nghề quốc gia, các quy định về trách nhiệm hướng dẫn thi hành đều giao
cho Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về lao động ở trung ương, trong khi các
điều luật khác của Luật dạy nghề có các quy định về trách nhiệm hướng dẫn thi hành
giao cho Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề ở trung ương.
Thứ hai, Luật dạy nghề mới chỉ có các quy định về việc đánh giá, cấp chứng
chỉ kỹ năng nghề, chưa có quy định về việc đào tạo phát triển kỹ năng nghề, chính
sách hỗ trợ đào tạo phát triển kỹ năng nghề.
Thứ ba, Sự gắn kết và tham gia của các cơ sở dạy nghề, các doanh nghiệp,
người sử dụng lao động vào hoạt động đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề còn rất
hạn chế và không có chế tài đủ mạnh đối với các doanh nghiệp, người sử dụng lao
động khi không tham gia vào những hoạt động này.
Thứ tư: Chưa có quy định để điều chỉnh các hình thức giới thiệu việc làm mới
phát sinh gần đây như: các website đăng tin giới thiệu việc làm, cho thuê lại lao

và vừa hoạt động theo luật doanh nghiệp; chủ trang trại
Vốn vay được sử dụng vào các việc như: Mua sắm vật tư, máy móc, thiết bị,
mở rộng nhà xưởng; phương tiện vận tải, phương tiện đánh bắt thủy hải sản nhằm mở
rộng, nâng cao năng lực sản xuất- kinh doanh. Đồng thời vốn vay còn được sử dụng
21
để mua sắm nguyên liệu, giống cây trồng, vật nuôi, thanh toán các dịch vụ phục vụ
sản xuất - kinh doanh.
Mức lãi suất cho vay là: 0,5%/tháng, riêng các đối tượng vay vốn là người tàn
tật là 0,3%/tháng.
Như vậy, tính đến ngày 30/12/2012 thì tổng dư nợ tín dụng tại Ngân hàng chính
sáchxã hội huyện Diễn Châu là 510 tỷ đồng trong đó: Dư nợ hộ thương nhân vùng
khó khăn như các xã Diễn Bích, Diễn Vạn, Diễn Trung là 380 triệu đồng; Hộ sản xuất
kinh doanh vùng khó khăn vay là: 13.915 triệu đồng; Cho 20 ngàn hộ học sinh, sinh
viên có hoàn cảnh khó khăn vay là :327.560 triệu đồng; Cho vay chương trình giải
quyết việc làm với 200 dự án là 7.036 triệu đồng; Cho 2.955 hộ nghèo vay 120.278
triệu đồng; Cho vay chương trình nước sạch vùng nông thôn là : 19.175 triệu đồng;
Cho vay đi xuất khẩu lao động là : 3.022 triệu đồng.
Nhìn chung quá trình thực hiện chương trình cho vay giải quyết việc làm trên địa bàn
đã đạt được kết quả thiết thực về mặt kinh tế - xã hội, đồng thời nhận được sự hưởng
ứng nhiệt tình của các ngành, các cấp và đông đảo tầng lớp nhân dân. Vốn vay giải
quyết việc làm đã có hiệu quả thực sự, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo ra
nhiều việc làm cho lao động xã hội. Tuy nhiên chương trình cho vay giải quyết việc
làm trên địa bàn huyện cũng như các quy định của pháp luật vẫn còn những vướng
mắc cần được tháo gỡ, đó là:
Thứ nhất: Quy trình, thủ tục xét duyệt cho vay còn rườm rà, qua nhiều cơ quan đoàn
thể, thời gian xét duyệt kéo dài gây phiền hà cho người vay, khi giải ngân vốn không
đảm bảo kế hoạch kinh doanh hoặc thời vụ sản xuất của người vay.
Thứ hai: Cơ chế điều hành kế hoạch, quản lý vốn vay còn nhiều bất cập, toàn bộ
nguồn vốn thu hồi hiện nay phải được điều về tỉnh để Sở Lao động Thương binh và
Xã hội phê duyệt, phân bổ cho các địa phương, các hội, đoàn thể cho vay; các địa

diện tuyển lao động đi xuất khẩu. Xây dựng và triển khai mô hình phối hợp: xã-
huyện- đơn vị xuất khẩu lao động. Trong 6 tháng cuối năm 2012 đã giới thiệu cho 3
doanh nghiệp đủ năng lực trực tiếp tuyển lao động đi làm việc ở nước ngoài với tổng
số 200 người lao động.
Làm tốt công tác kiểm tra, giải quyết những vướng mắc trong công tác xuất
khẩu lao động. Hỗ trợ kịp thời cho 578 lao động đi xuất khẩu lao động ở Li Bi về
nước trước thời hạn. Các xã làm tốt công tác xuất khẩu lao động như: Diễn Lâm, Diễn
Lợi, Diễn Nguyên, Diễn Tân, Diễn Thịnh
23
Phối hợp với thanh tra chuyên ngành, tiến hành thanh tra việc chấp hành Luật
lao động tại 9 doanh nghiệp trên địa bàn huyện, nâng cao công tác quản lý nhà nước
về lao động.
Nhìn chung thì số lượng lao động tham gia xuất khẩu lao động ngày càng đông.
Trong những năm qua hoạt động xuất khẩu lao động là hoạt động vừa mang tính kinh
tế vừa mang tính xã hội góp phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm cho
người lao động và xây dựng thương hiệu lao động Việt Nam trên thị trường lao động
quốc tế. Trong đó, pháp luật về xuất khẩu lao động thực sự là “lưới đỡ an toàn”, là
hành lang pháp lý vững chắc cho người lao động, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân và
các cơ quan quản lý về xuất khẩu lao động tham gia vào hoạt động đưa người lao
động đi làm việc ở nước ngoài. Tuy nhiên, pháp luật về xuất khẩu lao động hiện hành
vẫn còn một số hạn chế tồn tại, vẫn còn thiếu sự đồng bộ, nhất quán giữa những quy
định của pháp luật và thực tiễn áp dụng, còn một số vấn đề bỏ ngỏ, chưa được pháp
luật quy định một cách cụ thể gây ra những khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp
dụng.
Thứ nhất, sự điều chỉnh của pháp luật đối với người lao động đi làm việc ở
nước ngoài và doanh nghiệp thực hiện chức năng xuất khẩu lao động.
Pháp luật hiện hành chưa quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các doanh
nghiệp trong quản lý lao động ở nước ngoài; chưa quy định cụ thể các khoản tiền dịch
vụ doanh nghiệp được thu, không được thu; chưa quy định cụ thể các khoản chi làm
thủ tục ban đầu đi xuất khẩu lao động như tiền làm hồ sơ lý lịch, hộ chiếu, khám sức

phạm các hoạt động xuất khẩu lao động.
Không những thế, mức chế tài quy định cho các hành vi vi phạm hành chính
trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài thấp nhất là 500.000đ,
cao nhất là 40.000.000đ như hiện nay là còn quá thấp chưa đủ mạnh để ngăn chặn, xử
lý người lao động, doanh nghiệp có hành vi vi phạm pháp luật về xuất khẩu lao động.
2.2.4. Thực trạng phát triển sản xuất, thu hút lao động nông thôn
• Phát triển các ngành nghề của huyện
Thực hiện Đề án 1956 về đào tạo nghề cho lao động nông thôn của thủ tướng
chính phủ, thời gian qua, trung tâm dạy nghề huyện Diễn Châu đã tổ chức đào tạo và
25

Trích đoạn Thuận lợi, khó khăn trong giảiquyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Diễn Châu. Những khó khăn trong việc giảiquyết việc làm cho người lao động nông Nguyên nhân của những khó khăn, tồn tạ xuất giải pháp về văn bản pháp luật Đẩy mạnh phát triển sản xuất trong nông thôn để thu hút lao động
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status