Nghiên cứu đánh giá thực trạng, xây dựng bản đồ thổ nhưỡng nông hóa và đề xuất giải pháp cải tạo đất tại Trung tâm sản xuất giống Trảng Bàng - Tây Ninh - Pdf 13

VIỆN NGHIÊN CỨU DẦU VÀ CÂY CÓ DẦU BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG, XÂY DỰNG
BẢN ĐỒ THỔ NHƯỠNG NÔNG HÓA VÀ ĐỀ XUẤT
GIẢI PHÁP CẢI TẠO ĐẤT TẠI TRUNG TÂM SẢN XUẤT
GIỐNG TRẢNG BÀNG - TÂY NINH
CNĐT: LÊ CÔNG NÔNG
8280

TP.HCM – 2010

ứu Dầu và cây có dầu,
được thành lập theo Quyết định số 2540/QĐ-TCCB, ngày 01/11/2001 của Bộ
trưởng Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) và Trung tâm có các nhiệm
vụ như sau:
1.Triển khai trồng thực nghiệm và sản xuất các giống cây có dầu, cây tinh
dầu và các cây, con khác theo kế hoạch của Viện;
2. Liên kết với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, tiếp
nhận kỹ thuật mới và nguồn vốn đầu tư để
xây dựng Trung tâm thành khu nông
- công nghiệp công nghệ cao;
3. Xây dựng các mô hình trình diễn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật mới,
sản xuất thử nghiệm các sản phẩm từ cây có dầu, cây tinh dầu, các loại cây, con
khác và các chế phẩm phục vụ nông nghiệp;
4. Tổ chức các dịch vụ khoa học kỹ thuật, thông tin chuyên ngành, các
lớp tập huấn kỹ thuật và giới thiệu các sản phẩm;
Cơ sở pháp lý/xuất xứ củ
a đề tài
Đề tài được thực hiện theo Quyết định số 6363/QĐ-BCT ngày
02/12/2008 của Bộ trưởng Bộ Công Thương về việc đặt hàng thực hiện các
nhiệm vụ Khoa học và công nghệ năm 2009 cho Viện Nghiên cứu Dầu và Cây
có dầu và hợp đồng số 201.RD/2009/HĐ-KHCN ngày 16/03/2009 của Bộ Công
Thương ký với Viện, Hợp đồng giao khóan nội bộ số 11/HĐGK-VD ngày
7/4/2009 giữa Viện trưởng và Chủ nhi
ệm đề tài.

2

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước:
1.1.1. Vị trí địa lý của tỉnh Tây Ninh.

V.N): tỷ lệ 1/1.000.000, FR. Moorman, 1961. Trên cơ sở những giải đoán
không ảnh, bằng việc sử dụng các tổ hợp và các nhóm đất có cùng nguồn gốc
phát sinh, tác giả đã xây dựng chú dẫn tổng quát cho bản đồ này gồm 25 đơn vị.
Trong đó tỉnh Tây Ninh có các đơn vị sau: Đất phù sa không phân biệt
(Undifferentiated Alluvial soil);Đất Podzolic xám trên phù sa cổ (Gray podzolic
soils on old alluvial sediments); T
ổ hợp đất núi (Complex of mountainous
soils). Từ bản đồ đất của Moorman đã phóng ra bản đồ đất tỷ lệ 1/200.000 cho
các tỉnh (1972, Bộ canh nông cũ). Trong đó bản đồ đất Tây Ninh, với các đơn vị
tương tự như bản đồ của Moorman, có bổ sung về thành phần sa cấu.
1.1.2.2. Thái Công Tụng: thuộc sở Địa học biên soạn tài liệu nghiên cứu
về đất đai miền cao nguyên Trung phần và miề
n Đông Nam phần năm 1971.
Trong tài liệu này tác giả đã mô tả 5 nhóm đất chính của miền ĐNB về nguồn
gốc phát sinh, tính chất lý hóa học, phân bố và khả năng sử dụng. Bao gồm: Đất
Podzolic xám tương đương với đơn vị số 14 của Moorman, có nguồn gốc từ phù
sa cổ sinh; Đất Latosols nâu đỏ, tương ứng với đơn vị số 8 và số 19 của
Moorman, đất được hình thành do sự hủ
y hoại của đá basalt; Đất có ít chất hữu
cơ và có đốm rỉ (Low humic gley soils), có nguồn gốc từ phù sa cổ; Đất
Latosols nâu và cạn trên đá basalt (Terres brunes basaltiques), có nguồn gốc từ

3

đá bọt basalt trong điều kiện úng thủy; Đất phù sa tương ứng với đơn vị số 01
của Moorman.
Thực chất tài liệu của Thái Công Tụng là làm rõ thêm các tính chất các
loại đất mà Moorman đã phát hiện. Tài liệu của Moorman có tính khái quát
chung toàn Miền Nam, còn tài liệu của Thái Công Tụng làm rõ thêm tài liệu của
Moorman và cũng là chú giải bản đồ đất 1/200.000 các tỉnh. Đây là hai tài liệu

(2) Nhóm đất phù sa, có 3 đơn vị: Đất phù sa gley; Đất phù sa có tầng loang
lổ
đỏ vàng; Đất phù sa sông suối.
(3) Nhóm đất xám bạc màu, có 3 đơn vị: Đất xám trên phù sa cổ; Đất xám
trên macma acid và đá cát; Đất xám glây.
(4) Nhóm đất đỏ vàng, có 4 đơn vị: Đất nâu đỏ trên đá bazan; Đất đỏ vàng
trên đá macma acid; Đất vàng nhạt trên đá phiến sét; Đất nâu vàng trên
phù sa cổ.
(5) Nhóm đất thung lũng dốc tụ, có 1 đơn vị: Đất dốc tụ.
(6) Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá, có 1 đơn vị là:
Đất xói mòn trơ sỏi đá.
Đây là tài liệu làm nền tảng cho những nghiên cứu đất trên phạm vi tỉnh
Tây Ninh tiếp theo và trong nhiều năm đã trở thành tài liệu đóng góp phần quan
trọng trong quy hoạch và định hướng sử dụng đất trong phạm vi toàn tỉnh.

4

Tuy vậy lúc đó do việc đi lại khó khăn, dân cư thưa thớt, an ninh phức
tạp, cũng phải kể đến những thiếu thốn về cơ sở vật chất và trang bị kỹ thuật
Một số vùng khảo sát với mật độ thưa, các mẫu đất chưa được phân tích đầy đủ,
cũng còn phải kể đến những hạn chế về sự hiể
u biết về đất phèn lúc đó. Cho đến
nay tài liệu đã quá cũ và lạc hậu.
1.1.3.3. Giai đoạn những năm 1980-1988: Những năm 1980-1988, Phân
viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp điều tra chi tiết xây dựng bản đồ đất ở
bản đồ tỷ lệ 1/10.000 cho các nông trường và các vùng chuyên canh lúa, lạc: (1)
Bản đồ đất nông trường mía Nước Trong; (2) Bản đồ đất-nông hóa vùng chuyên
canh lạc huyện Gò Dầu và vùng thâm canh lúa huyệ
n Hòa Thành Các bản đồ
đất tỷ lệ chi tiết nêu trên được xây dựng với một quy trình thống nhất, tài liệu

Đất phèn hoạt động có
độ chua lớn và nhiều độc tố nên thường bị bỏ
hoang hóa (cỏ năn, lác, tràm ). Nếu được lên líp và bón phân (phosphorit, vôi,
tro kết hợp rữa phèn) có thể trồng mía, dứa, đậu đen, điều là những cây có thể
chịu được đất chua.

5

* Đất phèn thủy phân: Diện tích 10.924 ha, chiếm 2/5 tổng diện tích đất
phèn của tỉnh. Xuất hiện trong vùng phèn tại các địa hình cao hơn có bề mặt
khô 6 tháng trong năm.
Phân bố khá tập trung ở nam Châu Thành tới Hòa Thành xung quanh
sông Vàm Cỏ Đông.
Đất phèn thủy phân có thể trồng lúa hoặc các loại hoa màu khác.
b/ Đất than bùn:
Diện tích 1.072 ha, chiếm 0,26% tổng diện tích quỹ đất
của tỉnh. Xuất hiện từng vệt rải rác, thường xen trong vùng phèn dọc theo hạ lưu
sông Vàm Cỏ Đông tại những địa hình thấp trũng, phân bố ở huyện Châu
Thành, nam Hòa Thành, Gò Dầu và Bến Cầu.
Đất than bùn ngoại trừ các diện tích có lớp than bùn rất dày dùng để khai
thác than, diện tích còn lại có thể trồng lúa, rau màu (cải, bầu bí, đậu, dưa ).
Khi trồng trọt chú ý thoát nướ
c, cày sâu, bón vôi.
c/ Đất phù sa:
Gồm có 2 loại: i) Đất phù sa có tầng loang lỗ; ii) Đất phù
sa gley. Chúng được phân bố và sử dụng như sau:
* Đất phù sa có tầng loang lỗ
: Diện tích 1.685 ha, chiếm > 0,4% tổng
diện tích quỹ đất của tỉnh. Xuất hiện ở địa hình thấp, một ít ở xa sông, mùa mưa
ít ngập nước, mùa khô không ngập nước. Phân bố tập trung xung quanh sông

nghiệp có giá trị như cao su, mía, lạc, hoặc hoa màu như khoai lang, sắn. Độ
màu mỡ của đất xám thấp vì vậy trong quá trình sử dụng cần bón nhiều chất
hữu cơ (phân chuồng, thân cây sau thu hoạch, phân xanh, phân rác ), vôi, lân,
đạm và kali hoặc tro thực vật kết hợp xới xáo và che phủ đất để giữ ẩm. Cần
chú ý tưới nước trong mùa khô kết hợ
p với sử dụng và cải tạo đất hợp lý để khai
thác hiệu quả và bền vững.
* Đất xám có tầng loang lổ và đất xám có tầng kết von đá ong:

- Diện tích đất xám có tầng loang lổ: 109.446 ha. Xuất hiện ở các địa hình
cao đến vừa.
- Diện tích đất xám có tầng kết von đá ong: 7.140 ha. Xuất hiện ở chân
đồi, phần cuối dốc là nơi chuyển tiếp từ đồi phù sa cổ xuống đồng bằng phù sa
trẻ hoặc thung lũng thấp.
- Việc sử dụng hai loại đất này tương tự nhau, có thể sử dụng để trồng
cao su, hoa màu, cây công nghi
ệp ngắn ngày. Nếu có tầng đá ong ở độ sâu 50-
120 cm thì nên sử dụng để trồng lúa hoặc hoa màu ngắn ngày chứ không nên
trồng cao su. Trong quá trình sử dụng nên chú ý bón phân hữu cơ, vô cơ, vôi kết
hợp cày sâu, bừa kỹ, tiêu thoát nước tốt trong mùa mưa.
* Đất xám mùn:
Diện tích 18.938 ha. Xuất hiện ở những vùng thấp vừa ở
triền đồi phẳng phía cuối bề mặt dốc hoặc ở phần giữa hai đồi lượng sóng, nằm
xen lẫn với các loại đất xám khác.
Việc sử dụng đất xám mùn tùy thuộc vào mức độ ngập nước để sử dụng
trồng lúa 1 vụ, hoa màu hoặc cao su. Trong quá trình sử dụng cần chú ý thiết kế
hệ thố
ng tiêu nước để trồng màu và cây công nghiệp, tăng cường bón vôi, cân
đối đạm, lân, kali.
* Đất xám gley và đất xám đọng mùn gley:

: Diện tích 1.780 ha. Xuất hiện duy nhất trên đồi
85 ở phía nam huyện Tân Biên.Chủ yếu là cây bụi thưa, dốc và xói mòn mạnh
xuất hiện nhiều đá lộ đầu, khó cày bừa và canh tác.Vì vậy đất này ít được sử
dụng trong nông nghiệp, chỉ nên sử dụng để trồng rừng che phủ tạo môi trường
sinh thái và giữ nước.
Ở Miền Nam Việt Nam các đất xám chiếm rất nhiều diện tích ở miền
Đ
ông Nam bộ (Bình Dương, Tây Ninh, Biên Hòa).
Còn ở miền cao nguyên đất xám có nhiều ở phía Tây bắc Ban Mê Thuột và lan
mãi chiếm các bực thềm phù sa cổ sinh của hệ thống sông ngòi của vùng này.
Trước đây, năng suất lúa trên đất bạc màu rất thấp, nhưng hiện nay lại
khác. Những tính chất "nghèo, chua, khô, rắn" dần dần được cải thiện Ở Đông
Nam Bộ, rải rác một số nơi ở Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, người dân
bi
ết rõ mặt mạnh, mặt yếu, từ đó cải tạo lớp đất mặt, tăng lượng hữu cơ và các
chất dinh dưỡng khác như: đạm, lân và kali đi đôi với áp dụng giống mới. Do
địa hình cao, đất nhẹ, dễ thoát nước nên cũng dễ tăng vụ, dễ đưa các cây trồng
khác vào, hiệu quả kinh tế cao hơn lúa.
Theo TS. Nguyễn Thanh Phương, Viện KHKT nông nghiệp Duyên hải
Nam Trung bộ, kế
t quả từ mô hình đậu phộng xen mì thực hiện ở xã Cát Hiệp
và Cát Lâm mở ra triển vọng tăng hiệu quả kinh tế cho các vùng đất xám bạc
màu trong tỉnh. Với mô hình trên, khi áp dụng vào sản xuất không những nâng
cao hiệu quả sử dụng đất mà còn góp phần bảo vệ tài nguyên đất, giúp quá trình
canh tác bền vững hơn.
Theo Sở NN & PTNT Tây Ninh : Nhằm sử dụng hợp lý và nâng cao
hiệu quả sử dụng đất lúa vùng tưới Dầ
u Tiếng, Sở Nông nghiệp đã điều chỉnh,
tổ chức sản xuất nông nghiệp dự kiến chuyển đổi theo hướng như sau:
- Sản xuất lúa: mặc dù được đánh giá là kém lợi thế về sản xuất nhưng lúa

hiện đúng quy hoạch vùng nguyên liệu cho từng nhà máy, đảm bảo cự ly vận
chuyển ngắn nh
ất, các nhà máy và địa phương có các biện pháp kinh tế hỗ trợ
nông dân để ổn định vùng nguyên liệu; tổ chức lại sản xuất của các nhà máy để
giảm chi phí chế biến.
- Sản xuất rau thực phẩm: khi công nghiệp và đô thị phát triển nhanh thì
các vùng rau truyền thống ven đô của Tp, HCM sẽ chịu sức ép về đất đai, nguồn
nước, lao động và môi trường; do vậy Tây Ninh sẽ có cơ hội tốt
để phát triển
rau thực phẩm.
- Sản xuất hoa, cây cảnh: để phát triển hoa, cây cảnh cần ứng dụng công
nghệ cao vào sản xuất trong đó đặc biệt là công nghệ sinh học, hình thành các tổ
chức hiệp hội, đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là các nghệ nhân trong sản xuất
cây kiểng, tìm kiếm thị trường để tổ chức sản xuất xuất khẩu.
- Trồng cỏ chă
n nuôi: dự báo khi gia nhập WTO, ngành chăn nuôi nước ta
phải chuyển sang phương thức tập trung, khép kín với sự kiểm soát chặt chẽ về
thú y và an toàn vệ sinh thực phẩm, áp dụng công nghệ tiên tiến. Để đáp ứng
nhu cầu thức ăn xanh cho đại gia súc, cần dành diện tích đất thích hợp trồng
thức ăn xanh trong đó chủ yếu là chuyển từ đất trồng lúa.
- Sản xuất cây ăn trái: theo Phân viện Quy hoạch và Thiế
t kế Nông nghiệp
miền Nam chuyển đổi đất lúa sang cây ăn trái nên thực hiện ở các huyện Hoà
Thành, thị xã Tây Ninh, Dương Minh Châu có kết hợp dịch vụ du lịch.
- Nuôi trồng thuỷ sản: hiện nay, nuôi trồng thuỷ sản đang là hướng
chuyển đổi có hiệu quả ở những khu vực có điều kiện; khu vực ven sông Vàm
Cỏ Đông và một số vùng trũng thấp khác có điều kiện nuôi thuỷ
sản nước ngọt.
Để phát triển thuỷ sản cần xây dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là đê bao an toàn
chống lũ; nghiên cưu xác định loài, giống thuỷ sản nuôi phù hợp, chuyển giao

d) Chúng ta quá chú trọng đến năng suất t
ối đa mà chưa quan tâm nhiều đến
vấn đề chất lượng sản phẩm.
Biểu hiện rối loạn dinh dưỡng do thiếu trung và vi lượng thể hiện phổ
biến trên thực tế, một phần do nhu cầu sinh lý của các giống mới, mặt khác do
một thời gian dài khai thác tiềm năng của đất mà thiếu bổ sung các nguyên tố
này làm cho đất bị suy kiệt.
Về phương diện sinh lý thực vậ
t, các nguyên tố vi lượng mặc dù được
tiêu thụ với lượng ít hơn so với đa lượng, các nguyên tố trung, vi lượng vẫn
giữ một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống cây trồng. Vi lượng tham gia
tạo thành các enzim, coenzim, các men xúc tác sinh học, trực tiếp hay gián
tiếp tham gia vào quá trình tổng hợp phytohocmôn, gây ảnh hưởng đến quá
trình quang hợp, trao đổi chất và vì thế các yếu tố này sẽ điều khiển quá trình
sinh trưởng cũng như tác độ
ng mạnh tới năng suất của cây trồng. Thiếu vi
lượng có thể dẫn đến hiện tượng rối loạn sinh lý, cây sinh trưởng kém, năng
suất cây trồng giảm mạnh. Việc thiếu nguyên tố Bo làm cho hạt phấn và vòi
phấn phát triển kém, quá trình thụ tinh xảy ra không hoàn chỉnh, phôi phát
triển kém và vì thế năng suất cây trồng giảm là điều dễ hiểu. Theo nhiều tài
liệu sơ bộ, bội thu do sử dụng vi lượng có thể đạt 25 - 35% so với đối chứng
không dùng vi lượng. Thậm chí trong một số trường hợp cá biệt, chỉ cần phun
vi lượng 1 lần cho 1 chu kỳ sinh trưởng có thể cho bội thu năng suất trên 50%.

10

Đối với các nguyên tố trung lượng, hiện tượng thiếu canxi (Ca) trên đất
chua cũng có thể làm cho cây phát triển kém. Đặc biệt đối với cây ăn trái, cây
lấy dầu nếu thiếu Ca, tỷ lệ rụng quả sẽ cao, thành quả mềm, dễ bị tổn thương,
độ axít cao và chất lượng quả thường thấp. Ngược lại với yếu tố Ca, với vùng

• Phân đạm vô cơ: Nên dùng phân đạm vô cơ để bón lót vào 2 thời điểm:
sau gieo 15 ngày (khi lạc có 2-3 lá kép) và khi lạc ra hoa.
Bón phân đạm cho lạc đòi hỏi hết sức thận trọng. Nếu bón không đúng kỹ thuật,
đôi khi dẫn đến giảm năng suất do hiện tượng lạc lốp đổ. Chỉ bón đạm vô cơ
cho những trường hợ
p sau:
- Lượng phân chuồng bón lót không đủ, đất xấu, thiếu dinh dưỡng.
- Cây sinh trưởng kém, có biểu hiện thiếu đạm. Bộ rễ lạc tạo nốt sần
kém, lượng đạm cố định do vi khuẩn cung cấp cho cây ít.

11

- Bón đạm vô cơ trên cơ sở bón lân, kali và bón vôi đầy đủ, tạo sự cân
đối trong dinh dưỡng khoáng. Lượng phân đạm vô cơ có thể bón tối đa tới 40kg
đạm nguyên chất cho 1ha.
Phân lân
• Lượng lân (P
2
O
5
) bón cho lạc khoảng 40-60kg/ha. Tất cả các dạng lân
đều có tác dụng tốt đối với lạc. Các loại lân khó tiêu như apatit,
tecmophotphat thì nên ủ với phân chuồng để tăng lượng dễ tiêu và chỉ
dùng để bón lót, còn super lân có thể bón trực tiếp (bón thúc) cho lạc.
Thời kỳ bón thúc lân cũng trùng với thời kỳ bón đạm vô cơ (khi cây lạc 2-3 lá
và thời kỳ ra hoa). Lượng lân nên dùng 50% để bón lót và bón thúc 50% (bằng
super lân).
Phân kali
• Bón kali (K
2

dụng các loại phân vô cơ, tăng năng suất lạc, mà còn làm tăng cấu tượng đất,
tăng hàm lượng các chất dễ tiêu, tạo điều kiện dinh dưỡng tốt cho cây trồng ở
vụ kế tiếp.

12

1.1.6. Mối quan hệ đất – cây và các kết quả nghiên cứu về dinh dưỡng:
• Giữa đất và cây trồng có mối quan hệ rất chặt chẽ, việc phân tích, khảo
sát đánh giá chất lượng đất để quy hoạch phát triển cho mỗi loại cây trồng
là hết sức cần thiết nhằm đáp ứng tốt nhu cầu dinh dưỡng cho cây và khai
thác tốt lợi thế về độ màu mỡ của đất. Vì vậy có th
ể nói rằng “đất nào –
cây ấy”.
• Để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho mỗi loại cây chúng ta phải biết được
khả năng cung cấp dinh dưỡng của đất cho cây (đất tốt – xấu…), yêu cầu
dinh dưỡng của mỗi loại cây từ đó nghiên cứu xây dựng quy trình bón
phân thích hợp, cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao.
• Trong nhiều năm qua, nhiều nghiên cứu đã làm nổi bật được vai trò c
ủa
các nguyên tố N,P,K trong việc nâng cao năng suất cây trồng. Tuy nhiên
các nguyên tố trung lượng Ca, Mg, S và đặc biệt là các nguyên tố vi
lượng mặc dù là một bộ phận không thể tách rời trong dinh dưỡng cây
trồng nhưng hầu như ít được quan tâm nghiên cứu. Các nghiên cứu về
trung, vi lượng chủ yếu thông qua các thí nghiệm phun hoặc bón vào đất
sau đó theo dõi tình hình sinh trưởng và năng suất. Như vậy các nghiên
cứu chủ yếu mang tính thăm dò thông qua phản ứng của cây trồng mà
chưa đi từ nghiên cứu cơ bản – đó là thực trạng của chúng có ở trong đất.
• Nguyễn Thị Liên Hoa và CTV (1995 – 1998) đã nghiên cứu thành công
phân ACA (N,P,K, Mg, Ca, Bo…) chuyên dùng cho cây lạc thay thế tro
dừa đã làm tăng năng suất lạc 30-36% so với đ/c không bón phân, tăng 1-

KCl)/cây/năm tại xã Lương Hòa và Hưng Phong, cho năng suất tăng gấp 30-
50% so với bón phân theo kinh nghiệm của nông dân (Phạm Thị Lan, 2004).
Lượng phân N và K
2
O thích hợp cho cây dừa lai PB121 thời kỳ kiến thiết cơ
bản trên vùng đất phèn Bến Lức- Long An (Diệp Thị Mỹ Hạnh, 1999), trong đó
đã nghiên cứu lượng phân N (dùng Ure) và K
2
O (dùng KCl) thích hợp cho cây
dừa lai từ năm thứ 1 đến năm thứ 4 (năm thứ 4 với lượng phân bón/cây/năm là:
1,0 kg Urê + 1,5 kg Super lân + 0,8 kg KCl). Kết quả điều tra khảo sát tình hình
bón phân cho cây dừa Ta, Dâu đang ra trái tại xã Lương Hòa-Giồng Trôm-Bến
Tre, cho thấy, 50% số hộ nông dân không bón phân, 50% còn lại có bón phân
cho cây dừa, song lượng phân bón không ổn định (tùy theo điều kiện kinh tế và
giá cả của trái dừa). Khi bón, loại phân được dùng chủ yếu là NPK (16:16:8)
với liều lượ
ng 1,0 kg /cây/năm, năng suất giao động từ 35-50trái/cây/năm. (Lưu
Quốc Thắng, 2005).
Năm 2003-2004, kết quả điều tra tại huyện Hoài Nhơn - Bình Định cho
thấy 85% số hộ nông dân không bón phân cho cây dừa, năng suất trung bình chỉ
đạt từ 25-30 trái/cây/năm (Phạm Thị Lan, 2004).
Cây Lạc thích ứng với khí hậu bán khô hạn hoặc bán ẩm ướt, với lượng
mưa khoảng 500-1200 mm/năm. Cây lạc ưa đất nhẹ, t
ơi xốp, từ cát pha thịt đến
thịt pha cát. Giới hạn pH thích hợp là 5,5-6,5.
Nhu cầu dinh dưỡng cây lạc rất lớn, nhất là đạm. Tuy nhiên, trên thực tế,
nhu cầu bón đạm cho cây lại rất thấp. Do cây có vi khuẩn cộng sinh trong nốt
sần ở rễ, có khả năng đồng hóa được đạm khí trời để cung cấp cho cây. Nếu sản
lượng thu hoạch khoảng 3 tấn quả (củ)/ha, cây lạc lấy đi cho c
ả quả và thân lá là

14

hiệu lực của 2 nguyên tố này không rõ. Ngược lại, ở những đất có độ phì thấp,
thì hiệu lực của 2 nguyên tố này rất rõ, nhất là đất có độ cố định lân cao.
Ở Việt Nam, cây lạc thường được trồng ở những chân đất rất xấu, phần
lớn là đất xám và xám bạc màu do vậy, ngoài các loại phân bón chính, nông dân
thường phải bắt buộc bón "Tro dừa" như là phần thay thế cho một số
nguyên tố
vi lượng quan trọng mà đất thiếu. Lượng phân bón khuyến cáo dùng ở Việt
Nam là:
- Phân chuồng: 8-12 tấn /ha (ở miền Bắc).
- Tro dừa: 1,5-2 tấn /ha (ở miền Đông Nam bộ).
- Vôi bột: 300-500 kg/ha.
- Phân đạm: 30-40 kg N/ha.
- Phân lân: 40-60 kg P
2
O
5
/ha.
- Phân kali: 40-60 kg K
2
O/ha.
Chú ý, toàn bộ lượng phân đạm cho cây lạc nói trên, nên dùng ở dạng
phân SA, vì có như vậy mới cung cấp đồng thời cho cây lượng dinh dưỡng lưu
huỳnh cần thiết. Nên dùng toàn bộ lượng phân lân nung chảy. Về phân vi lượng,
các cây họ đậu nói chung thường rất cần molypđen, bo và đồng. Các loại phân
này thường được dùng dưới dạng vi lượng tổng hợp để phun lên lá hoặc xử lý
hạt là kinh tế nhất. Hiện Xí nghiệp Phân bón Chánh Hưng
đã sản xuất phân
chuyên NPK "Con ó đen” cho cây lạc, có thể kết hợp dùng phân đơn theo liều

0
5
– 60 K
2
0/ha.
Theo KS Đào Ngọc Hải, 2006, phun phân bón lá 16-16-8 hai lần vào 15
và 30 ngày sau gieo cho vừng đạt năng suất cao hơn đối chứng không phun 0,19
tấn/ha có ý nghĩa so sánh.
Hiện nay, theo www.agroviet.com khuyến cáo bón phân cho vừng như
sau: Vôi bột: 400kg/ha (bón trước khi cày bừa) + Phân chuồng: 4-5 tấn/ha +
Phân NPK 500 kg/ha loại 3:9:6. Tất cả các loại phân này đều bón lót vào lần
cày bừa cuối cùng (đối với đất không cày thì bón trước khi bừa). Riêng đất quá
xấu bón thúc 2kg urê/sào khi vừng 2-3 lá. Tùy theo đất tốt hay xấu mà ta đầu tư
phân bón nhiều hay ít, nhưng ph
ải cân đối theo tỷ lệ 1 đạm 1 lân và 1 kali
(1:1:1). Mức bón 45N + 45 P
2
0
5
+ 45 K
2
0/ha.
1.1.7. Thực trạng đất canh tác ở Trảng Bàng:

15

- Đất tại Trung tâm Sản xuất giống Trảng Bàng – Tây Ninh chủ yếu là đất
xám bạc màu (Haplic Acrisol), đất xấu (chua, nghèo chất hữu cơ, N, P, K, Ca,
Mg…), kết cấu kém, theo số liệu phân tích (04 mẫu đất) của Trường Đại học
Nông Lâm TP HCM năm 2002 - 2003 cho thấy pH

Các nhà khoa học đất ở thế kỷ XXI đã và đang cùng với các nhà khoa học khác
xây dựng các thể chế để chống lại sự hủy hoại đất và nêu cao vai trò của đất
trong phạm vi môi trường toàn cầu. Theo Oguike, PC; Chukwu GO và Njoku
NC thuộc Đại học Nông nghiệp Umudike và Việ
n nghiên cứu nông nghiệp
Umudike - Nigeria nghiên cứu cho thấy:
Nghiên cứu hiệu quả của chất thải xay lúa (rice mill waste - RMW) kết
hợp có bón hoặc không bón NPK theo tỷ lệ 15:15:15 đã có ảnh hưởng đến một
số tính chất hóa học của đất xám (Haplic Acrisol) vùng Umudike, Đông Nam
Nigeria. Các thử nghiệm bao gồm 10 công thức (20, 10, 5 và 2,5 tấn RMW/ha
kết hợp với 200 hoặc 400 kg/ha NPK, 30 tấn RMW/ha, 400 kg NPK/ha NPK và
đối chứng). Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối đầy đủ ngẫu nhiên
hoàn toàn với 3 lần lặp lại. Kết quả cho thấy bón RMW 30 tấn/ha đã có tác
dụng làm tăng lân tổng số. Tương tự, công thức bón kết hợp 20 tấn RMW/ha +

16

NPK tại 200-400 kg/ha và bón 30 tấn RMW/ha đã làm tăng đáng kể hàm lượng
chất hữu cơ (OM) điều này cho thấy tiềm năng của RMW trong việc cải thiện lý
hoá tính của đất nghèo dinh dưỡng như đất xám.
Theo SN Sharma; R. Prasad; MK Dwivedi; Sandeep Kumar; MR
Davari và Moola Ram thuộc Viện Nghiên cứu Nông nghiệp New Delhi, Ấn Độ
đã nghiên cứu trong ba năm (2001 đến 2004) để tìm hiểu tác dụng của hệ thống
canh tác và ảnh hưởng của chúng đến tính chất hóa học và đặc tính sinh học của
đất. Kết quả cho thấy hệ thống canh tác: Lúa - khoai tây – đậu xanh đã cho
năng suất cao hơn so với đối chứng 59-89%, sản lượng tăng 18-38% và hàm
lượng lân trong đất tăng 7-16% cao hơn so với hệ
thống canh tác lúa - lúa mì.
Tương tự hệ thống canh tác lúa - cải dầu –
đậu xanh cũng đã cho kết quả năng suất cao hơn 12-15%, sản lượng tăng 19-

kết quả phân tích các mẫu đất nông nghiệp” đã đưa ra các ngưỡng đánh giá
trung, vi lượng trong đất và trong cây cho phần lớn các cây trồng nhiệt đới.
Trung tâm kỹ thuật bón phân cho cây lương thực ở Châu Á cũng đã đưa ra các
thang khuyến cáo đánh giá tình trạng trung, vi lượng trong đất. Chỉ riêng ở châu
Á, n
ăm 1999, tại Đài Loan đã có một cuộc hội thảo quốc tế lớn về vi lượng đối

17

với cây trồng. Tại hội nghị này, các báo cáo của các quốc gia Châu Á đã tái
khẳng định rằng thiếu hụt vi lượng là một trong những yếu tố giảm năng suất
cây trồng ở vùng châu Á và nghiên cứu , nhận dạng tình trạng thiếu hụt vi lượng
trong mối quan hệ đất – cây trồng là một việc làm rất cần thiết để nâng cao tiềm
năng của đất.
Cây lạc (Arachis hypogaea L.
) là cây lấy dầu và dùng làm thực phẩm khá
phổ biến ở trên thế giới và được trồng ở 115 nước. Trung bình một vụ cây lạc
lấy đi của đất 112 kg N + 27 kg P
2
0
5
+ 34 kg K
2
0/ha. Tại bang Andhra Pradesh -
Ấn Độ đã khuyến cáo bón phân cho lạc trong điều kiện trồng lạc có tưới là : 30
kg N + 60 kg P
2
0
5
+ 45 kg K

- Sắt: Bón 10 kg FeS0
4
.7H
2
O/ha hoặc phun qua lá FeS0
4
.7H
2
O 0,5%;
- Kẽm:Bón 15 kg ZnS0
4
.7H
2
O/ha hoặc phun qua lá 10 kg ZnS04.7H2O /ha;
- Bo: Bón 10 kg Borax/ha hoặc phun qua lá 0,1ppm Bo vào giai đoạn nở hoa;
- Đồng: Bón 2-6 kg CuS0
4
.5H
2
O /ha hoặc phun qua lá 0,1% CuS0
4
.5H
2
O /ha;
- Molipđen: Bón 1 kg Molipđat amôn hoặc phun qua lá Molipđat amôn 200
ppm trước khi nở hoa;
- Măng gan: Bón 10 kg MnS0
4
.H
2

1.000.000 ha/năm và đạt sản lượng 500.000 – 700.000 tấn. Ngoài ra Xu Đăng,
Myanma và Uganda cũng có diện tích vừng trên 670.000 ha. Trung Quốc là
nước có năng suất vừng cao nhất thế giới, trong đó có 4 tỉnh là Hồ Nam, An
Hụy, Hồ Bắc và Giang Tây có diện tích vừng trên 33.340 ha chiếm 78,1% diện
tích c
ủa cả nước, riêng Hồ Bắc là tỉnh đạt năng suất cao nhất 1.512 kg/ha vượt
năng suất bình quân của cả nước Trung Quốc 50,7%.
Ở Triều Tiên, những năm gần đây cây vừng cũng được xem là một trong
những cây đem lại lợi ích quan trọng nhất và đang được Nhà nước quan tâm
nghiên cứu và phát triển.
Nghiên cứu phân bón cho vừng ở Ấn Độ cho thấy: Tại Hoshangabad, Madhya
Pradesh, India lượng phân bón thích hợp cho vừ
ng là: 60 kg N: 40 kg P
2
O
5
: 20
kg K
2
O/ha (Journal of Oilseeds Research, 2005 (Vol.22) (No.1) 63-65).
Ở Thái lan, theo Laksanawadee Panpruik, Sootin Claimon và Pairoj
Panpruik (Nhóm nghiên cứu đất và phân bón cho cây trồng cạn hàng năm, Bộ
môn Khoa học đất, Bộ Nông nghiệp Thái Lan (Bangkok)) tại Hội thảo về cây
vừng ở Ubon Ratchathani (Thailand), ngày 20-22 tháng 8 năm 1996, cho thấy:
Phân bón đã có tác dụng làm tăng sinh trưởng và năng suất vừng có ý nghĩa
thống kê ở tỷ lệ 4-4-2 kg N-P
2
O
5
-K

ng
- Thu thập, nghiên cứu bản đồ nền: Bản đồ địa hình và bản đồ giải thửa.
- Tổng hợp đánh giá các tài liệu đã thu thập được, phân tích xử lý số liệu
làm cơ sở ban đầu so sánh với kết quả hiện trường.
2.1.2. Khảo sát thực địa:
- Đào, mô tả phẫu diện đất, lấy tiêu bản và mẫu đất phân tích, quan trắc
và xác định ranh giới đất. Theo Quy phạm
điều tra lập bản đồ đất tỷ lệ lớn (10
TCN 68- 84), áp dụng cho Vùng đồi lượn sóng, dốc thoải, độ dốc <10
o
, không
bị cây trồng hoặc rừng cây che phủ (vùng III
1
), số phẩu diện quan trắc và mô tả
60 phẫu diện, trong đó có 10 phẫu diện chính phân tích, 10 phẫu diện chính
không phân tích và 40 phẩu diện thăm dò. Các phẫu diện đất phân tích cần phải
đại diện cho tất cả các dạng đất, các dạng địa hình và các loại hình sử dụng đất.
- Chụp ảnh cảnh quan và hình thái phẫu diện đất. Tất cả các phẫu diện đất
nghiên cứu đều được chụp các loại
ảnh: ảnh cảnh quan, ảnh hình thái phẫu diện
đất, ảnh các loại hình sử dụng đất đại diện và các đặc trưng khác.
2.1.3. Tập hợp, kiểm tra các tài liệu, biên tập và xây dựng các tài liệu gốc
- Tập hợp, kiểm tra các tài liệu, thông tin thu thập được trong quá trình khảo
sát thực địa.
- Xây dựng bản đồ gốc đất (bản đồ dự thảo) và Xây dựng bản đồ chính thức.
-
Đo và thống kê diện tích các loại đất và Biên tập ảnh phẫu diện đất và cảnh
quan.
- Lập hồ sơ bản tả các phẫu diện đất phân tích.
2.1.4. Số hóa bản đồ đất

O tổng số 16 Al
3+

7 N dễ tiêu 17 Fe
2+
, Fe
3+

8 P dễ tiêu 18 Thành phần cơ giới (3 cấp)
9 K dễ tiêu 19 Một số nguyên tố vi lượng (Mn, Mo,Bo, Zn)
10 Ca
2+
trao đổi
2.1.6. Viết báo cáo chuyên đề Chú giải bản đồ đất
2.2. Điều tra xây dựng bản đồ hiện trạng và bản đồ đánh giá đất
Đánh giá đất đai là một nội dung làm mới, được thực hiện theo quy trình
đánh giá đất đai do Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành (10 TCN 343-98). Bao
gồm các nội dung sau:
2.2.1. Khảo sát thực địa và điều tra tình hình sử dụng đất sản xuất nông
nghiệp
- Kh
ảo sát về tình hình bố trí sản xuất nông nghiệp trên địa bàn
- Xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất
- Điều tra thu thập các thông tin về các biện pháp kỹ thuật áp dụng trong sản
xuất nông nghiệp, về đầu tư thu nhập của các loại hình sử dụng đất nông
nghiệp.
2.2.2. Xử lý thông tin, xây dựng các bản đồ gốc và viết báo cáo chuyên đề
- Tập hợp và xử lý các thông tin thu th
ập được qua khảo sát thực địa và lập
các biểu kết quả xử lý

trạng sử dụng đất loại bản đồ khổ A-4.
- Xây dựng các bảng số liệu, biểu đồ
2.3.2. Xây dựng báo cáo: Báo cáo tổng hợp về Đất, đánh giá đất và đề
xuất sử dụng tài nguyên đất Trung tâm sản xuất giống Trảng Bàng – Tây
Ninh.
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU NĂM 2010

2. 4. Điều tra xây dựng bản đồ Nông hóa.
2.4.1. Điều tra, lấy mẫu đất phân tích các chỉ tiêu về nông hóa dựa trên bản đồ
giải thửa hiện có của vùng nghiên cứu. Độ sâu lấy mẫu đất theo quy định của
Bộ NN & PTNT áp dụng cho vùng trồng cây lâu năm là tầng 0-30cm và 30-60
cm; vùng trồng cây hàng năm là 0-30 cm.
2.4.2. Phân tích đất : Các chỉ tiêu phân tích như sau;
1 pH
KCl
5 K
2
O tổng số
2 OM (%) 6 N dễ tiêu
3 N tổng số 7 P dễ tiêu
4 P
2
O
5
tổng số 8 K dễ tiêu
2.4.3. Lập bản đồ nông hóa tỷ lệ 1/5.000.
2.5. Xây dựng bản đồ quy hoạch
2.5.1. Điều tra thu thập thông tin và xây dựng bản đồ quy hoạch dựa trên cơ sở
các tài liệu và phương pháp sau:
- Kết quả phân loại đất; - Độ phì đất.

2.7. Báo cáo tổng kết đề tài và tổ chức nghiệm thu đề tài
2.8. Mô tả phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật thực hiện đề tài:
Điều tra, lấy mẫu đất phân tích hàm lượng các nguyên t
ố dinh dưỡng trong
đất và lập các loại bản đồ theo các Tiêu chuẩn ngành của Bộ NN & PTNT, Hội
khoa học đất Việt Nam ban hành.
Sử dụng các phần mềm chuyên dụng GPS, GIS, v.v để xây dựng bản đồ,
phân tích và xử lý số liệu trên máy vi tính.
2.8.1 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu dưới
đây:
2.8.1.1. Phương pháp chung sử dụng trong điều tra xây dự
ng bản đồ đất
Bao gồm các phương pháp điều tra ngoại nghiệp truyền thống được sử dụng
trong điều tra xây dựng bản đồ đất ngoài thực địa như:
- Phương pháp quan trắc, mô tả phẫu diện đất và lấy mẫu đất phân tích
được thực hiện theo hướng dẫn của FAO và đã cụ thể hóa ở điều kiện Việt Nam
trong “Sổ tay Đ
iều tra Phân loại, Đánh giá đất” của Hội Khoa Học Đất Việt
Nam (1999).
-Phương pháp xây dựng khóa chuẩn và phương pháp chuyên gia sẽ được
sử dụng trong phân loại đất, chuyển đổi phân loại, tổng hợp đất và biên hội bản
đồ gốc đất.
- Các phương pháp phân tích đất phổ biến hiện hành được sử dụng để phân
tích mẫu đất.
* Nội dung thực hiện và phương pháp cụ th

(i) Công tác chuẩn bị:

23

- Quét và số hóa bản đồ: Bản đồ gốc chính thức được quét và số hóa trên máy
tính.
- Biên tập bản đồ đất kỹ thuậ
t số: Bản đồ sau khi số hoá được chuyển đổi về
khuôn dạng MapInfo để biên tập bản in; bao gồm 2 nhóm thông tin chính:
Nền địa hình và thổ nhưỡng.
+ Các lớp dữ liệu nền địa hình được biên tập màu sắc, kích thước, kiểu,
phông chữ, cỡ chữ theo qui phạm bản đồ địa hình do Bộ Tài nguyên và Môi
trường ban hành.
+ Các chỉ tiêu của lớp dữ liệu thổ nhưỡng: thể hiện ở nhãn (label) trên
khoanh
đất theo trình tự: Cấp độ dốc- địa hình, loại đất, mẫu chất- đá mẹ, thành
phần cơ giới, độ dày tầng đất mịn và các yếu tố phụ như glây, kết von, đá lẫn,
đá lộ đầu.
+ Màu sắc khoanh đất lấy theo tên đất, thực hiện theo qui phạm bản đồ thổ
nhưỡng.

24

- In bản đồ, kiểm tra, chỉnh lý, hoàn thiện bản đồ đất: Sau khi biên tập, bản
đồ gốc đất được in ra giấy để kiểm tra, phát hiện những sai sót. Chỉnh lý và
hoàn thiện lần cuối. In bản đồ đất màu chính thức. Đo và tổng hợp diện tích
các loại đất.
- Tổng hợp, viết báo cáo thuyết minh: Nội dung báo cáo chú giải như quy
định tại quy phạm đi
ều tra lập bản đồ đất của Bộ Nông nghiệp ban hành năm
1984.
2.8.1.2. Phương pháp nghiên cứu đánh giá thích nghi đất đai:
(1) Phương pháp đánh giá thích nghi đất đai: Được áp dụng theo ”Quy trình
đánh giá đất đai phục vụ nông nghiệp” (số 10 TCN 343-98), đồng thời có chi

hiện theo hướng dẫn của FAO và đã được cụ thể hóa ở điều kiện Việt Nam
trong “Sổ tay Điều tra Phân loại, Đánh giá đất” của Hội Khoa học Đất Việt
Nam (1999).
*. Phương pháp phân tích đất: Mẫu đất được phân tích một số
chỉ tiêu sử dụng
các phương pháp phân tích đất chuẩn hóa của Quốc tế (ISO 10381-2: 2002 =
TCVN 7538-2: 2005 và ISO 10381-3: 2002 = TCVN 7538-2: 2005).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status