NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VỀ GIÁO DÂN DI CƯ VÙNG NHÀ THỜ THÁI HÀ, HÀ NỘI TIẾP CẬN VỚI GIÁO DỤC - Pdf 26


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
VÀ NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC
------------ ˜ ² ™ ------------ NGUYỄN THỊ MINH PHƯỢNG NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG
VỀ GIÁO DÂN DI CƯ VÙNG NHÀ THỜ THÁI HÀ, HÀ NỘI
TIẾP CẬN VỚI GIÁO DỤC

LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÀNH QUẢN LÝ GIÁO DỤC


HÀ NỘI – NĂM 2008 LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là phần nghiên cứu do tôi thực hiện.
Các số liệu, kết luận nghiên cứu trình bày trong luận văn này chưa được công
bố ở các nghiên cứu khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.

Học viên

Nguyễn Thị Minh Phượng

2
LỜI CẢM ƠN
Học viên xin trân trọng bày tỏ lòng cảm ơn đối với
Trung tâm đảm bảo chất lượng đào tạo và nghiên cứu phát triển giáo dục
(CEQARD), các thấy, cô giáo của Trung tâm đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện
thuận lợi để học viên thực hiện nghiên cứu, viết khoá luận của mình.
Luận văn sẽ không thể hoàn thành tốt nếu không có sự chỉ bảo, hướng dẫn
của PGS.TS. Lê Đức Ngọc, người đã định hướng và giúp đỡ học viên hoàn
thành khoá luận. Học viên xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy
hướng dẫn của mình.
Đồng thời học viên cũng xin trân trọng gửi lời cảm ơn Trung tâm nghiên cứu
Giới, Gia đình và Môi trường trong Phát triển (CGFED) đã ủng hộ và tạo cơ
hội cho học viên được tiếp cận với đề tài nghiên cứu; cảm ơn các anh chị em,

4. Khái niệm về tiếp cận dịch vụ xã hội 19
4.1. Khái niệm chung về tiếp cận dịch vụ xã hội 19
4.2. Cơ hội tiếp cận với giáo dục 19
4

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu khoa học 21
I. VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 21
1. Xây dựng bộ công cụ đo lường 23
1.1. Lịch sử di cư 23
1.2. Điều kiện - Chất lượng cuộc sống 29
1.3. Cơ hội tiếp cận với các dịch vụ xã hội (đặc biệt là khả năng tiếp cận
với giáo dục)
35
1.4. Những khó khăn thường gặp của Giáo dân di cư 36
2. Thiết kế mẫu 43
3. Nhập và xử lý số liệu 44
II. PHƯƠNG PHÁP THU THẬP THÔNG TIN 45
1. Nghiên cứu định lượng 45
2. Nghiên cứu định tính 46
3. Phương pháp quan sát 46
4. Phân tích tài liệu thứ cấp 47
5. Tiến hành thu thập thông tin 47
Chương 3: Thực trạng về Giáo dân di cư vùng nhà thờ Thái Hà,
Hà Nội
49
1. Một số thông tin nghiên cứu ban đầu về Giáo dân di cư 49
2. Các điều kiện sống 55
3. Những khó khăn mà Giáo dân di cư thường gặp phải trong quá
trình sống, học tập và làm việc tại Hà nội
64

cư trở thành một vấn đề có tính quy luật giống như quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá ở các quốc gia khác.
Cũng giống nhiều đô thị lớn khác như thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Biên
Hoà ... hiện tượng di cư trong những năm gần đây ngày càng lớn; riêng với Hà Nội,
hiện tượng di cư phát triển mạnh hơn cả. Với những chính sách đô thị hoá và mở
rộng Hà Nội, gắn liền với phát triển công nghiệp, mở rộng các ngành dịch vụ, xây
dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng đầu tư nước ngoài cùng với sự phát triển mạnh mẽ của
lực lượng kinh tế thị trường, của các thành phần kinh tế đã tạo ra nhiều việc làm với
lao động đơn giản, thu hút nhiều lao động từ tỉnh ngoài đến. Bên cạnh đó, thực
trạng tốt của môi trường giáo dục, đào tạo, nghiên cứu, điều kiện y tế, chăm sóc sức
khoẻ, đời sống văn hoá tinh thần... là những động lực hấp dẫn nhiều người đến Hà
Nội để lập nghiệp, phát triển bản thân và mưu cầu cuộc sống tốt đẹp hơn.
Dưới những hoàn cảnh mới, những mối quan hệ mới, lối sống hoàn toàn mới, để
thích nghi với môi trường sống mới - môi trường đô thị với nhịp độ phát triển cao
của công nghịêp hoá, hiện đại hoá, với cơ sở hạ tầng khác hẳn với môi trường sống
ở nông thôn, người di cư đến Hà Nội thực sự gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình
7
học tập, làm việc và ổn định cuộc sống tại nơi hoàn toàn xa lạ và mới đối với mình.
Những bất cập đó đã đẩy không ít người di cư đến cảnh bần cùng và tham ra vào
các tệ nạn xã hôi. Vì vậy, cuộc sống của họ sẽ diễn biến theo chiều hướng nào, hoặc
tốt lên hoặc xấu đi? Cơ hội tiếp cận với các dịch vụ xã hội của họ ra sao; mà đặc
biệt là với giáo dục? Điều này vẫn còn là câu hỏi mở đối với các nhà hoạch định
chính sách.
Xuất phát từ thực tế nên trên, đề tài luận văn thạc sỹ “Nghiên cứu đánh giá thực
trạng về Giáo dân di cư vùng nhà thờ Thái Hà Nội tiếp cận với giáo dục” sẽ đi
tìm hiểu rõ hơn về những Giáo dân di cư đến Hà Nội trong vài năm gần đây. Hy
vọng nghiên cứu này sẽ cung cấp một cái nhìn bao quát hơn về điều kiện sống cũng
như về cơ hội tiếp cận với giáo dục của họ, đồng thời những thông tin này sẽ phần
nào giúp các nhà hoạch định chính sách xây dựng các chiến lược phát triển cải thiện
chất lượng cuộc sống cho người dân di cư, góp phần nâng cao nhận thức và điều

quá trình học tập cũng như làm việc tại Hà Nội.

II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Câu hỏi nghiên cứu/ giả thiết nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu
- Các Giáo dân di cư có cơ hội tiếp cận với giáo dục không?
- Những yếu tố về điều kiện sống có cản trở các Giáo dân di cư tiếp cận giáo dục
không?
Giả thuyết nghiên cứu
- Giáo dân di cư ít có cơ hội tiếp cận với giáo dục.
- Những thay đổi về điều kiện sống và công ăn việc làn của các Giáo dân di cư
thực sự có ảnh hưởng đến việc tiếp cận với giáo dục.
9
2. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu:
Những Giáo dân từ nông thôn ra Hà Nội tìm việc làm đang tham gia sinh hoạt
tại nhà thờ Thái Hà, quận Đồng Đa, Hà Nội.
- Đối tượng nghiên cứu.
Cơ hội tiếp cận với giáo dục của các Giáo dân di cư vùng nhà thờ Thái Hà, Hà
Nội.
3. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu
- Hình thức nghiên cứu của đề tài này thuộc loại hình nghiên cúu cơ bản, bước
đầu nhằm tìm hiểu thực trạng về Giáo dân di cư tiếp cận với giáo dục.
- Các phương pháp tiếp cận: sử dụng phối hợp các phương pháp sau:
+ Nghiên cứu tài liệu.
+ Điều tra khảo sát
+ Phỏng vấn sâu.
4. Phạm vi, thời gian khảo sát
- Phạm vi nghiên cứu
§ Vùng dân cư nhà thờ Thái Hà, Quận Đống Đa, Hà Nội

càng gia tăng giữa thành thị và nông thôn
4
.
Ngoài ra còn có nhiều nguyên nhân khác như chính sách của nhà nước về quản
lý hộ khẩu, các chủ trương và chính sách về di cư ...
Các chuyên gia của Viện Khoa học xã hội Việt Nam nhận định rằng, tuy Việt Nam
là một nước nông nghiệp nhưng việc làm giàu từ nông nghiệp lại là một bài toán

1
Giai đoạn năm 2000 – 2004, cả nước có 157.000 ha đất nông nghiệp chuyển đổi mục đích sử dụng. Ước tính có 13 lao động mất việc
làm/1 ha đất nông nghiệp (www.tchdkh.org.vn/tchitiet.asp?code=2205)
2
Bình quân 1 lao động nông nghiệp tạo ra giá trị chỉ bằng 22.7% so với dịch vụ và 16.3% so với công nghiệp (2004). 1 ha đất nông
nghiệp tạo ra giá trị chỉ bằng 22.5 triệu đồng (2005) (www.tchdkh.org.vn/tchitiet.asp?code=2205)
3
Tỷ lệ thời gian sử dụng lao động của lực lượng lao động ở khu vực nông thôn là 80.65% (www.tchdkh.org.vn/tchitiet.asp?code=2205)
4
Chênh lệch về thu nhập giữa khu vực thành thị và nông thôn năm 2006 là 2.16 lần (www.tchdkh.org.vn/tchitiet.asp?code=2205).
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, tính đến thời điểm ngày 1 tháng 4 năm 2005, thì cả nước có khoảng hơn 1,5 triệu người di
chuyển nơi cư trú (Điều tra biến động về dân số và KHHGĐ năm 2005 _ Tổng cục Thống Kê).
11
khó cho người nông dân. Những năm gần đây, tỷ trọng dân số thành thị ngày một
tăng và đạt 27% vào năm 2005. Nhà nước ta dự kiến phấn đấu để tỷ trọng dân số
thành thị đạt 40% vào năm 2020; bởi vậy, thoát ly khỏi ruộng đồng đi tìm kế sinh
nhai ở nhiều đô thị, vùng miền khác là hiện tượng không mới mẻ đối với nông thôn
Việt Nam
5
. Điều này có nghĩa là sẽ có luồng di cư vào các đô thị: tỷ suất nhập cư
đến các vùng Đồng bằng sông Hồng là 2,5‰, Đông Nam Bộ là 13,5‰ và Đồng
bằng sông Cửu Long là 1,1‰

12
Ninh ...), tiếp đến là các tỉnh miến núi trung du phía Bắc (Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hoà
Bình, Thái Nguyên) và Bắc trung bộ (chủ yếu là Thanh Hoá)
8
.
Mặc dù đã có một số cuộc điều tra về dân di cư được thực hiện nhưng chưa có
cuộc điều tra nào thực sự gắn vấn đề di cư với các điều kiện kinh tế và xã hội mà
người di cư nước ta đang phải đối mặt. Ở nước ta, cuộc điều tra đầu tiên được tiến
hành vào năm 1994, thuộc loại điều tra nhân khẩu học và sức khoẻ. Đến năm 2004,
Tổng cục Thống kê quyết định tiến hành điều tra di cư. Mục tiêu chính của cuộc
điều tra di cư Việt Nam, 2004 là bổ sung sự thiếu hiểu biết hiện nay về quyết định
và kết quả của di cư. Như vậy, cho đến thời điểm này nhiều thông tin có liên quan
tới các điều kiện kinh tế, xã hội của người di cư đến Hà Nội chưa được đưa ra và
cũng chưa có những nhận định chuyên biệt về dân di cư công giáo. Tính đến thời
điểm năm 2004, đã có nhiều nghiên cứu về đối tượng di cư được công bố như :
Tống Văn Đường, 1995; Doãn Mậu Diệp và các tác giả, 1996; Đỗ Văn Hoà, 1998;
Vũ Thị Hồng và các tác giả, 2003 ..., những nghiên cứu này đã chỉ ra nguyên nhân
ban đầu của di cư, các đặc điểm đặc trưng cơ bản của di cư, việc làm và thu nhập
của dân di cư nói chung v.v ..
Trong nghiên cứu về “Di cư tự do đến Hà Nội - Thực trạng và giải pháp” của TS.
Hoàng Văn Chức, 2003 có đề cập đến tính hình di cư của người lao động trong
những năm 1980 – 1990. Chỉ ra những nguyên nhân của di cư xuất phát từ sự
chuyển đổi sang kinh tế thị trường. Nghiên cứu cũng đặc biệt nhấn mạnh đến thực
trạng di dân tự do đến Hà nội và những ảnh hưởng của di dân tự do đến môi
trường, đến cơ sở hạ tầng của thành phố, đến việc quản lý nhân khẩu, các tệ nạn xã
hội, trật tự an toàn xã hội v.v .. - những vấn đề đang ngày càng trở nên nan giải
hơn khi dòng người đổ xô về đô thị ngày càng nhiều.
Trên tạp chí Khoa học về phụ nữ có bài viết “Chiều cạnh giới của di cư lao động
thời kỳ CNH, HĐH đất nước” của PGS.TS Đặng Nguyên Anh, 2005 xem xét đặc
trưng của di dân nhìn từ góc độ giới, tập trung đánh giá loại hình di dân lao động nữ

nguyên nhân và hậu quả chính của di cư.
14
Hay như trong chuyên đề nghiên cứu "Di cư và sức khoẻ" năm 2006 của Tổng cục
thống kê đã chỉ ra những nhân tố tác động trực tiếp đến sức khoẻ của người di cư,
bao gồm lối sống, các điều kiện kinh tế - xã hội (điều kiện sống và làm việc) và "cơ
hội sống" (như nơi sinh, giáo dục, cơ hội việc làm; sự phân biệt đối xử và bất bình
đẳng giới). Việc phân tích những nhân tố có liên quan đến quá trình di cư có tác
động đến sức khoẻ đã cho biết người di cư có phải là nhóm yếu thế của xã hội
không. Chính các nhân tố này hoặc thúc đẩy hoặc cản trở cơ hội hoàn thành việc di
cư của từng cá nhân và cộng đồng. Bên cạnh đó, chuyên đề cũng đưa ra một số
nhân tố khác có liên quan đến chính quá trình của sự di cư, gắn liền với các điều
kiện khác nữa của di cư này cũng có ảnh hưởng tới sức khoẻ của người di cư.
Nhưng chưa hề có một nghiên cứu chính thức nào đề cập đến cơ hội tiếp cận với
giáo dục của người di cư dựa trên những điều kiện sống của chính bản thân họ. Và
với nhóm người di cư là người Công giáo thì lại càng chưa có nghiên cứu nào. Với
những lý do nêu trên, tôi đã chọn vấn đề này để: một mặt xem xét đời sống kinh tế
xã hội nói chung của Giáo dân di cư, mặt khác đánh giá những cơ hội tiếp cận với
các dịch vụ xã hội của họ, mà đặc biệt là cơ hội tiếp cận giáo dục dựa trên những
điều kiện sống của họ. Hy vọng những kết quả thu được từ nghiên cứu này sẽ góp
phần xây dựng những chính sách hỗ trợ người di cư nói chung và Giáo dân người di
cư nói riêng trên bước đường mưu sinh ổn định cuộc sống.
II. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ ĐỊNH NGHĨA CƠ BẢN
Hình thức nghiên cứu của đề tài này là nghiên cứu cơ bản, bước đầu nhằm tìm hiểu
thực trạng về các Giáo dân di cư tiếp cận với giáo dục thông qua các điều kiện sống.
Do vậy, hướng tiếp cận của nghiên cứu này chính là nghiên cứu chu trình sống:
nghiên cứu những thay đổi của cá nhân theo thời gian trong mối liên quan với các
sự kiện sống. Với hướng nghiên cứu này, cho phép nghiên cứu tập trung vào cá
nhân người di cư và những sự kiện diễn ra trong quá trình di chuyển của họ, gắn
liền các sự kiện kinh tế - xã hội của cuộc sống, với cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã
hội nói chung, trong đó có cơ hội tiếp cận với giáo dục.

kháng chiến chống Pháp 1946-1954 kết thúc, hàng nghìn người dân Công giáo đã
bỏ miền Bắc, nơi chế độ cộng sản nắm chính quyền, để vào Nam; trong khi đó,
những người cộng sản lại tập kết ra Bắc. Có nhiều đánh giá về số người di cư. Phủ

8,

9

10
Nguồn: “Báo cáo đánh giá nhanh về tình hình trẻ em di cư tại Việt Nam”. Save the Children UK, tháng 1/2006. 16
Tổng uỷ Di cư (TUDC), cơ quan do chính quyền Ngô Đình Diệm lập ra phụ trách
về vấn đề di cư và định cư, đưa ra con số 928.152 người di cư tại thời điểm đó
12
.
"Cuộc di cư là hệ quả trong cuộc đụng độ giữa chính quyền cách mạng với các thế
lực chống cộng ở Việt Nam sau Hiệp định Giơnevơ. Nếu không có những áp lực từ
nhiều phía cả trong và ngoài Giáo hội, tự thân giáo dân Bắc Kỳ ít có nguyện vọng di
cư. Họ đã không được tự do trong việc quyết định di cư hay ở lại, không được tự
do lựa chọn nơi cư trú theo ý muốn của mình theo tinh thần Hiệp định Giơnevơ."
13
.
Đến nay, vẫn còn nhiều cách nhìn khác nhau về cuộc di dân này; nhưng nhìn chung,
các cuộc di cư trước năm 1975 đều mang màu sắc chính trị.
Cùng với sự đổi mới và ngày một phát triển của xã hội, tình hình di cư của đồng
bào Công giáo đang ngày càng gia tăng. Giáo hội Công giáo đã có những lo ngại
trước việc tình hình giáo dân bỏ làng mạc, đổ xô vào các thành phố lớn kiếm việc
làm. Theo Linh mục Paul Phạm Trung Dong, hiện nay tính bình quân cả nước

Hà Nam, Phú Thọ v.v... có tuổi đời từ 15 đến 55. Thực tế cho thấy hầu hết Giáo dân
di cư thường là những người trẻ tuổi. Tại Giáo xứ Thái Hà cũng vậy, Giáo dân di cư
phần nhiều là tầng lớp thanh niên trong khoảng tuổi từ 23 đến 29 - những thành
phần trẻ, năng động. Trong đó phần nhiều là lao động phổ thông, chủ yếu làm nghề
mua bán phế liệu hoặc giúp việc gia đình. Số ít còn lại là cán bộ công chức nhà
nước đến tham dự các sinh hoạt tôn giáo, số khác vừa đi làm vừa đi học. Nhóm lao
động đặc thù này thường gặp các vấn đề về đời sống, việc làm, nhà ở,... đặc biệt là
việc tiếp cận với các dịch vụ y tế, giáo dục v.v... phần do thiếu thông tin, phần do
tính chất nghề nghiệp tạo nên. Chính vì vậy, việc tiếp cận và đảm bảo các quyền lợi
về mọi mặt cho các Giáo dân nhập cư chưa được thực hiện đầy đủ và toàn diện.
3. Người di cư
Theo TS Kinh tế học Lao động Harvey B.King "di cư thường được hiểu là chuyển
đến một chỗ ở khác cách chỗ ở cũ một khoảng đủ lớn buộc người di cư phải thay
đổi “hộ khẩu thường trú”: chuyển đến một thành phố khác, một tỉnh khác hay một
nước khác".
1514
Nguồn: Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Khải, DCCT: Lễ thánh An Phong (Mt 9, 35-10,1), (Giảng tại Đền Đức Mẹ hằng Cứu giúp Hà
Nội), (www.chuacuuthe.com/bgiang/07anphong205.htlm )
15
Nguồn: Giáo trình Kinh tế lao động: Vấn đề di cư. TS Harvey B.King.
(www.kinhtehoc.com/index.phh?name=New&file=article&sid)
18
Di cư và nhập cư được coi là 2 khái niệm tương đồng nhau. Nhập cư là hành động
di chuyển chỗ ở đến vào một vùng hay một quốc gia mới. Dân nhập cư là người dân
di chuyển từ một vùng đến một vùng khác để sinh sống, tạm trú.
Trong cuộc điều tra di cư Việt Nam năm 2004, người di cư cũng được định nghĩa là
những người di chuyển từ quận/huyện này sang quận/huyện khác: "Người di cư là

4.1. Khái niệm chung về tiếp cận dịch vụ xã hội
Khái niệm tiếp cận ở đây được hiểu là cơ hội đến gần các nguồn lực và có khả năng
sử dụng nguồn lực. Tiếp cận dịch vụ xã hội đã trở thành một thuật ngữ quen thuộc,
và cũng là một trong nhiều nội dung gắn bó chặt chẽ với các hoạt động xã hội trong
chiến lược phát triển bền vững của các quốc gia. Dịch vụ xã hội chính là cầu nối để
mỗi cá nhân khắc phục trở ngại về trình độ học vấn, khả năng và trình độ tay nghề,
khả năng tiếp cận thông tin về việc làm v.v.. bảo đảm cuộc sống. Như vậy "tiêu chí
và phạm vi dịch vụ xã hội chính là khả năng cung ứng dịch vụ xã hội cần thiết, khả
năng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ xã hội, năng lực kiểm soát các dịch vụ xã hội
của các cơ quan quản lý"
17
.
4.2. Cơ hội tiếp cận với giáo dục
Có 5 tiêu chí cần thiết để đảm bảo quyền lợi của công dân cũng như của người nhập
cư đối với giáo dục, đó là: (i) không có sự phân biệt đối xử, (ii) có đủ khả năng tiếp
cận, (iii) có đầy đủ các điều kiện cần thiết, (iv) có khả năng chấp nhận và (v)theo
đuổi đến cùng. Có thể nhiều nguyên tắc cơ bản trong các khía cạnh của yêu cầu này
là cơ hội tiếp cận với giáo dục. Tiếp cận với giáo dục đã được ngầm hiểu thông qua
nhiều nhân tố. Chúng ta hiểu tiếp cận giáo dục nghĩa là như thế nào? Có 3 khuynh
hướng tiếp cận giáo dục. Điều này có nghĩa giáo dục phải thể hiện:
+ Tất cả đều không có sự phân biệt đối xử (cả trong luật và thực tế)
+ Có khả năng tiếp cận một cách tự nhiên
+ Và có khả năng về tài chính.
18

Như vậy, tiếp cận giáo dục ở đây cần thiết phải được hiểu là sự chủ động tiếp cận
của cá nhân, là xem xét đến khả năng liệu cá nhân có hội tụ đủ những điều kiện cần
thiết để tiếp cận với nguồn lực phát triển hay không?

17

6. Cơ hội gián tiếp cho giáo dục: thời gian dành cho việc học tập và phát triển
bản thân.
Đây có thể coi là yếu tố nền tảng để cá nhân người Công giáo di cư xem xét hoàn
cảnh và lựa chọn xu hướng phát triển bản thân.

19
Nguồn: Giáo trình Kinh tế học: Giáo dục và Phát triển. TS Munir Muhmud, người dịch Lê Thu.
(www.kinhtehoc.com/index.php?name=pnforum )
21
CHƯƠNG 2
Phương pháp nghiên cứu khoa học
I. VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Xây dựng bộ công cụ đo lường
Trong nghiên cứu này, bảng hỏi được xây dựng để thu thập thông tin từ các đối
tượng là người Công giáo từ nhiều tỉnh thành di cư đến Hà Nội làm ăn, sinh sống và
hiện đang tham gia sinh hoạt tôn giáo tại nhà thờ Thái Hà. Bảng hỏi được thiết kế
để sử dụng chung cho các đối tượng Công giáo di cư, không phân biệt nam, nữ, lứa
tuổi, trình độ văn hoá, thành phần gia đình v.v... Nội dung của bảng hỏi sẽ bao gồm
các phần sau:
1/. Thông tin chung về đối tượng: giới tính, năm sinh, nơi xuất cư, dân tộc,
trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp trước khi di cư và nơi ở
sau khi nhập cư Hà nội.
2/. Lịch sử di cư.
3/. Điều kiện - chất lượng cuộc sống.
4/. Cơ hội tiếp cận với các dịch vụ xã hội, đặc biệt chú ý đến việc xem xét cơ
hội tiếp cận giáo dục.
5/. Những khó khăn hiện tại, nhu cầu và mong muốn của các Giáo dân di cư.
Sau khi bảng thu thập thông tin được thiết lập và đưa vào thử nghiệm, áp dụng lý
thuyết đánh giá thông qua kiểm nghiệm mô hình Rasch và phân tích bằng phần
mềm chuyên dụng Quest và SPSS để phát hiện ra những câu hỏi không phù hợp với

được dựng từ số liệu thực nghiệm và xem xét độ phù hợp giữa chúng theo một tiêu chuẩn nào đó.
Nếu độ phù hợp chưa đạt mức chính xác quy định, quá trình tính toán được lặp lại cho đến lúc đạt
được sự phù hợp mong muốn. Các phép tính lặp được thực hiện nhanh chóng nhờ máy tính điện tử.
Thực tế áp dụng IRT chứng tỏ lý thuyết này cho phép tạo dựng các phép đo lường trong giáo dục
thoả mãn hai yêu cầu được đặt ra với một sai số có thể chấp nhận trong thực tế. Đó là yêu cầu: mức
năng lực xác định được không phụ thuộc vào câu hỏi (item free) và các đặc trưng của câu hỏi trắc
nghiệm xác định được không phụ thuộc vào mẫu thí sinh (sample free). Đó là tính bất biến quan
trọng được đề ra đối với phép đo lường mà mô hình Rasch cho phép thỏa mãn.
(Trích dẫn tài liệu bài giảng lý thuyết đánh giá và Mô hình Rasch trong phân tích kết quả học tập,
2007 của TS. Phạm Xuân Thanh)
23
Việc điều chỉnh dựa trên mô hình Rasch sẽ giúp nghiên cứu thu được kết quả đảm
bảo tính giá trị và độ tin cậy của các luồng thông tin, cũng như tính lôgíc của phiếu
hỏi. Kết quả thu được như sau:
1.1. Về lịch sử di cư
Mô hình ban đầu nghiên cứu đưa ra thử nghiệm với 30 items nhằm thu thập các
thông tin về mục đích di cư, quyết định di cư, nghề nghiệp sau khi nhập cư, tính
chất công việc, sự thay đổi nghề nghiệp,...:
Các thông tin có liên quan đến vấn đề
Các phưong án trả lời
(code thông tin)
0. Mã số có liên quan đến cá nhân người di cư
1.
Số lần di chuyển nơi ở (tỉnh/thành phố này sang tỉnh/thành
phố khác)?
1. 1 lần
2. 2 -3 lần
3. 4 – 5 lần
4. Trên 5 lần
2.


1. <6 tháng
2. 6-12 tháng
3. 1-3 năm
4. 3-5 năm
5. 5 – 10 năm
6. >10 năm
7.
Anh/chị có hài lòng với cuộc sống ở Hà Nội hiện nay
không?
1. Không hài long
2. Bình thường
3. Hài lòng
4. Khó nói
8. Anh/chị có định tiếp tục ở lại đây lâu dài nữa không?
1. Không
2. Có
3. Không biết

Trích đoạn Không lựa chọn 1 L ựa chọn Anh/chị có hài lòng với cuộc sống ở HàN ội không? Không 31 Anh/ch ị g ặ p khó kh ă n trong vi ệ c lo h ọ c hành cho Nghiên cứu định tính Một số thông tin nghiên cứu ban đầu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status